Top

chuabuuchau.com.vn,chuabuuchau, chua buu chau, chùa bửu châu, chua buu chau cu chi

Quá trình hình thành và phát triển của Tỉnh hội Phật giáo Long An - Thích nữ An Quang

QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA TỈNH HỘI PHẬT GIÁO LONG AN
Thích nữ An Quang

Kết quả hình ảnh cho senPHẦN I:  DẪN NHẬP

1- Lý do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu:
Đạo Phật được truyền vào Việt Nam từ thế kỷ đầu Kỷ nguyên Dương lịch, nhưng Phật Giáo thật sự hội nhập vào cuối thế kỷ thứ II đến đầu thế kỷ thứ III. Trải qua thời gian hội nhập và ổn định, đến thế kỷ X-XIV Phật Giáo phát triển cực thịnh. Cùng với sự thăng tiến của đất nước qua các thành quả dựng nước và giữ nước, Phật Giáo Việt Nam đã phát triển rực rỡ và đóng vai trò chủ đạo trong mọi sinh hoạt của Đại Việt lúc bấy giờ.

Hơn hai ngàn năm cho một quá trình hòa nhập, gắn bó với đất nước và dân tộc Việt đến nay, Phật Giáo với phương pháp tùy duyên, vẫn luôn sống động và thích ứng. Phật Giáo đã trở thành một người bạn đồng hành không thể thiếu của những trang lịch sử oai hùng đất Việt. Dẫu có lúc thăng, lúc trầm, nhưng tinh thần đại hùng, đại lực, đại từ bi, bản chất nhân đạo, hòa bình của Phật Giáo vẫn thường hằng, và đã có những đóng góp không nhỏ trong việc un đúc tính tự lực, tự cường, lòng bao dung, hỷ xả của người dân Việt.

Mỗi con người sinh ra đều có một quê hương để thương, để nhớ và một đất nước để kiêu hãnh, tự hào. Riêng tôi cũng vậy, tôi được sinh ra trên một đất nước Việt Nam trù phú có cả “rừng vàng, biển bạc”. Khi nhắc đến Tổ quốc quê hương, là nói đến nền văn hóa Dân tộc Việt, lòng tôi dấy lên niềm tự hào về một đất nước Việt Nam, dân tộc Việt Nam đã có bề dày lịch sử hơn bốn ngàn năm Văn hiến. Nhân dân ta vốn có truyền thống thiết tha yêu Tổ Quốc, ra sức bảo vệ đất nước, quê hương của mình. Nhà thơ Huy Cận đã gợi tả được tinh thần ấy và hình ảnh của người dân trên đất Việt qua bốn câu thơ:
“Sống vững chải bốn ngàn năm sừng sững
Lưng đeo gươm tay mềm mại bút hoa
Trong và thực sáng hai bờ suy tưởng
Sống hiên ngang mà nhân ái chan hòa”.
Thật vậy nhân dân ta luôn thể hiện tinh thần đoàn kết, cùng những gương anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang, luôn quyết chiến, quyết thắng để bảo vệ Tổ quốc, không ngại khó khăn, khổ nhọc, sẵn sàng đối phó với giặc ngoại xâm khi đất nước lâm nguy. Cho nên mỗi khi nhắc đến lịch sử bản sắc dân tộc Việt Nam, chúng ta không thể không nhắc đến quá trình hoạt động của Phật Giáo đã góp phần thúc đẩy đất nước bước lên đài vinh quang của một nước ấm no và hạnh phúc.

Đất nước tôi là thế, còn quê hương tôi ư ? Quê tôi - vùng đất mới Long An, là một phần tử của đất nước Việt Nam, nên cũng không kém phần oanh liệt. Quê hương đã sưởi ấm tâm hồn tôi trong những đêm giá lạnh giật mình thức giấc nơi xứ lạ quê người. Những lúc ấy, tôi thầm cảm ơn bốn câu thơ sau:

“Quê hương mỗi người chỉ một
Như là chỉ một mẹ thôi
Quê hương nếu ai không nhớ
Sẽ không lớn nổi thành người”.

(Trích “Quê hương”- Đỗ Trung Quân)
Nhà thơ đã nói hộ tấm lòng yêu mến của tôi dành cho quê hương Long An, tỉnh đã được tặng Trung Ươngdanh hiệu với tám chữ vàng: TRUNG DŨNG KIÊN CƯỜNG TOÀN DÂN ĐÁNH GIẶC thời chống Mỹ. Với tình yêu ấy, tôi muốn lột tả bằng cái gì đó thiết thực hơn, cụ thể hơn. Chính vì thế, người viết quyết định chọn đề tài nghiên cứu về lãnh vực tôn giáo mà đặc biệt là Phật giáo tỉnh nhà. Ở đây, người viết muốn trình bày vấn đề thông qua đề tài “QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA TỈNH HỘI PHẬT GIÁO LONG AN”. Dù là chỉ nói lên được một phương diện nào đó về sự tiến triển của Phật giáotỉnh nhà.

Tìm hiểu lịch sử Phật giáo Long An thời cận hiện đại là đề tài đang được giới Tăng Ni trẻ và tín đồ Phật giáo Long An ngày nay đặc biệt quan tâm, muốn biết rõ hơn về nguồn gốc Phật giáo tỉnh nhà, và quá trình hoạt động của tỉnh Hội Phật giáo Long An từ sau ngày giải phóng miền Nam đến nay.

2- Phương pháp nghiên cứu và cơ sở  tư liệu:
Nhằm mục đích có được những thông tin cần thiết, cụ thể hay những sự kiện mang tính lịch sử niên biểu, người viết thực hiện đề tài này bằng phương pháp khoa học lịch sử nghiên cứu hiện trường qua các nguồn “tài liệu sống” là các chứng nhân của lịch sử, cùng với những văn kiện Đại Hội Đại Biểu, các văn bản báo cáo của các nhiệm kỳ đã qua và một số sách tham khảo có liên quan đến đề tài này.

3- Giới hạn của đề tài:
Tác phẩm này chia làm ba phần chính như sau:

Phần I: Dẫn nhập.

Phần II: Nội dung:
- Khái quát về tỉnh Long An
- Vài nét về Phật Giáo Long An
- Quá trình hình thành và phát triển của Tỉnh Hội Phật Giáo Long An.


Phần III: Kết luận.


Phạm vi luận văn này, người viết xin đi sâu nghiên cứu lãnh vực Phật giáo Long An trong giai đoạn mới từ sau ngày giải phóng miền Nam, đặc biệt là từ khi Tỉnh Hội Phật Giáo Long An được thành lập đến nay.
Do sự hiểu biết còn thiển cận, tầm nhìn chưa thấu đáo nên chắc chắn rằng, người viết vẫn chưa khai thác hết những nét đặc sắc của Phật Giáo tỉnh nhà. Nhưng người viết cũng xin đem chút ít tài hèn để gầy dựng tập luận văn này, mong có thể giới thiệu ít nhiều về đặc trưng của Phật Giáo tỉnh Long An.

4- Lời tri ân:
- Hoàn thành luận văn tốt nghiệp này, con xin thành kính tri ân Hòa Thượng Tiến Sĩ Thích Minh Châu (Viện Trưởng Học Viện Phật Giáo Việt Nam tại TP.HCM), Ban điều hành Học Viện, Giáo Sư hướng dẫn Nguyễn Khắc Thuần và chư vị Giáo thọ, chư vị Giáo sư, chư vị thiện hữu tri thức đã ủng hộ cho sự nghiệp đào tạo Tăng Ni trẻ của Học Viện trong 4 năm qua.

- Con xin thành kính đê đầu đảnh lễ tri ân Chư Tôn Đức trong Ban Trị sự Tỉnh Hội Phật Giáo Long An, Ban Giám Hiệu trường Trung Cấp Phật Học Long An, vị thầy ân sư (Thượng Tọa Thích Tắc Tựu), cha mẹ cùng chư vị thiện hữu đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho con có được như ngày hôm nay.

- Người viết cũng xin chân thành cảm ơn các tác giả của những tác phẩm đã cung cấp tài liệu tham khảo cho người viết làm tư liệu nghiên cứu luận văn này.
 
PHẦN II:  NỘI DUNG

CHƯƠNG 1 : KHÁI QUÁT VỀ TỈNH LONG AN

1- Khái quát về địa lý:
Long An là cửa ngõ của đồng bằng sông Cửu Long, cũng là cửa ngõ đi vào thành phố, tiếp giáp vùng Đông Nam Bộ. Phía Đông giáp TP.HCM và cách thành phố 47 km, phía Tây giáp tỉnh Đồng Tháp, phía Nam giáp tỉnh Tiền Giang, phía Bắc giáp tỉnh Tây Ninh và nước bạn Campuchia. Tỉnh Long An có đường biên giới quốc gia chung giữa hai nước: Việt Nam và Campuchia dài hơn 142 km, là tỉnh biên giới của Nam Bộ.

Diện tích toàn tỉnh Long An là 4.492 km2 , gồm thị xã Tân An (Trung tâm văn hóa-chính trị-kinh tế của tỉnh) và 13 huyện: Châu Thành, Tân Trụ, Cần Đước, Cần Giuộc, Bến Lức, Thủ Thừa, Đức Hòa, Đức Huệ, Thạnh Hóa, Tân Thạnh, Mộc Hóa, Vĩnh Hưng, Tân Hưng.

Long An mang khí hậu nhiệt đới gió mùa, chia làm hai mùa rõ rệt trong năm: mùa mưa và mùa khô. Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau. Lượng mưa trung bình khoảng1.636 mm/năm, nhiệt độ trung bình 27,40C.

Cũng như hầu hết các tỉnh miền Tây Nam Bộ, Long An có mạng lưới sông ngòi, kênh rạch chằng chịt nối liền nhau, chia cắt địa bàn tỉnh thành nhiều vùng. Các tuyến đường thủy từ TP.HCM đi về các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, có con sông Vàm Cỏ gồm hai nhánh là Vàm Cỏ Đông và Vàm Cỏ Tây, thường được gọi là “dòng sông sinh đôi” nối từ cửa sông Soài Rạp đến tận nước bạn Campuchia, là những trục giao thông cùng hệ thống kênh đào dài hàng trăm ki-lô-mét, giữ một vai trò trọng yếu không những về kinh tế mà cả về mặt quân sự.

Đất đai màu mỡ trải ra trên hai triền sông Vàm Cỏ Đông và Vàm Cỏ Tây, mang phù sa bồi đắp cho những vườn cây trái trĩu quả, những cánh đồng lúa tốt tươi. Địa hình phía Bắc Long An có một số gò, đồi thấp, còn lại bằng thẳng; phía Tây thuộc vùng Đồng Tháp Mười rộng gần 300.000 ha (1) từng là căn cứ địa nổi tiếng của hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ. (chỉ kể phần diện tích thuộc tỉnh Long An)

Chính vì vị trí đặc biệt đó mà Long An là tỉnh có nhiều biến đổi nhất về địa giới hành chính trong lịch sử hình thành của tỉnh nhà so với các tỉnh khác ở Nam Bộ.

Long An có đủ điều kiện thuận lợi cho phát triển nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ, thương mại và du lịch.

2- Tình hình dân cư Long An:
Long An nằm trên địa bàn nhiều sông rạch lại gần cửa biển, nơi có nhiều thuyền bè qua lại lui tới buôn bán thường xuyên. Do đó, nguồn gốc của cộng đồng dân cư ở Long An khá đa dạng, gồm những con người từ nhiều địa chỉ khác nhau hội tụ về mảnh đất này. Chính điều đó góp phần qui định sự đa dạng và phong phú về kiến thức, tay nghề, kinh nghiệm sản xuất, sinh hoạt đời sống và cả vốn văn hóa dân gian. Long An cũng là nơi mà nghề thương hồ phát triển mạnh. Con người ở đây có điều kiện đi xa đó đây nhiều nơi, có dịp tiếp xúc, học hỏi, buôn bán, tiếp thu những tinh hoa của mọi vùng để làm giàu kho tàng kiến thức của mình.

Trải qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ, suốt 30 năm từ 1945 đến 1975, xã hội Long An phát triển trong hoàn cảnh không bình thường, tình hình phát triển dân cư ở Long An có nhiều biến động, xáo trộn to lớn. Thời gian chiến tranh kéo dài cũng như cường độ chiến tranh ác liệt của nó đã để lại những vết hằn sâu đậm trong đời sống kinh tế, xã hội của cộng đồng dân cư Long An.

Từ sau 1975 đến nay, tình hình dân cư tương đối ổn định, theo thống kê của năm 2002 thì dân số Long An là 1.367.885 người, đa số là người Kinh và một số ít  người Hoa, sống chan hòa bên hai bờ sông Vàm Cỏ. Đa số đồng bào phát triển kinh tế chủ yếu là nông nghiệp và trồng hoa màu phụ. Nhưng trong những năm gần đây, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và chính quyền, nhân dân tỉnh Long An đã hòa nhập vào nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo cơ chế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa, giúp cho nhiều tầng lớp nhân dân được nâng cao mức sống. Về mặt văn hóa, xã hội của tỉnh cũng có bước phát triển mới. An ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội ổn định. Tuy nhiên, do những năm qua thiên lai lũ lụt lại liên tiếp xảy ra tại các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, đã gây khó khăn không ít đối với đời sống đồng bào trong vùng lũ lụt và giảm mức tăng trưởng kinh tế cho các huyện phía Bắc. Ngược lại các huyện phía Đông Nam như Bến Lức, Cần Giuộc, Đức Hòa thì đang hình thành và phát triển các khu công nghiệp lớn và vừa theo chiều hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa về phát triển kinh tế tỉnh nhà. Về kinh tế bình quân đầu người 700 USD một năm.

3- Đời sống tín ngưỡng:
Người Việt Nam dù bất cứ sinh sống ở tỉnh nào, vẫn là người có lòng tin tưởng Trời, Phật, Thánh, Thần. Do đó, khắp các tỉnh từ chợ đến quê, từ thành thị đến nông thôn, không có tỉnh nào, không nơi nào là chẳng có đình chùa, nhà thờ, thánh thất, tịnh xá tiêu biểu cho các giáo phái, làm giềng mối cho sự tín ngưỡng. Tôn giáo tỉnh Long An từ xưa tới nay chẳng khác gì mọi tỉnh khác trên đất Việt.

Tỉnh Long An có bốn tôn giáo lớn đã xâm nhập ở mức độ tương đối sâu trong đời sống xã hội của người dân. Đứng đầu là Phật Giáo, kế đến là Thiên Chúa Giáo, Đạo Cao đài và Đạo tin Lành. Ngoài ra, Nho Giáo cũng có ảnh hưởng khá đậm trong đời sống tinh thần xã hội của người dân Long An, đặc biệt ở các huyện phía Nam - nơi dân cư đông đúc và là vùng được khai phá sớm nhất của tỉnh, đồng thời họ vẫn quí trọng các thuần phong mỹ tục cổ truyền, rất tin tưởng vào tôn giáo mà mình đã tín ngưỡng. Thực ra, người dân Long An cũng như ở miền Nam nói chung, họ thường cho rằng đạo Nho là “Đạo của Ông bà”, nặng về phần thờ cúng tổ tiên, tưởng nhớ công đức của những người đã sinh ra, nuôi dưỡng mình. Hay nói cách khác, người ta tuân theo cái phần triết lí “Nhân, nghĩa, lễ, trí, tín” của Nho Giáo chứ không hành đạo như các tôn giáo khác. Hơn nữa, đạo Nho không có hệ thống giáo quyền như các tôn giáo khác. Do đó đạo Nho không được xem như là một tôn giáo chính thức.

- Phật Giáo rất thịnh hành ở Long An, số tín đồ tôn sùng đạo Phật càng gia tăng, nhiều ngôi chùa xinh đẹp được tu bổ lại hoặc dựng thêm. Đặc biệt là tỉnh Long An có nhiều ngôi chùa cổ, di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh như: chùa Tôn Thạnh, chùa Kim Cang, chùa Linh Sơn (Cần Giuộc), Chùa nổi Cổ Sơn (Vĩnh Hưng), chùa Long Phước (Tân An) v.v.. Hiện nay, toàn tỉnh có gần 290 chùa lớn, nhỏ, am thất, khoảng hơn 1.200 Tăng Ni và 80.000 tín đồ.

- Về phía Thiên Chúa Giáo, du nhập vào Long An khoảng đầu thế kỷ XIX và phát triển dần dần. Đến nay toàn tỉnh  có 27 nhà thờ và hơn 18.000 giáo dân.

- Đạo Cao Đài là một tôn giáo được truyền vào năm 1909, bành trướng mau chóng tại tỉnh vào năm 1925, được xem là thời kỳ cực thịnh của nguồn Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ. Hiện có khoảng 41.000 tín đồ.

- Đạo Tin Lành có mặt ở Long An vào năm 1912. Đến 1927 thì Giáo Hội Tin Lành  chính thức được thành lập tại thị xã Tân An. Hiện nay, trong tỉnh có 9 nhà thờ với khoảng hơn 1.300 giáo dân.

Tóm lại, Khổng giáo tức đạo Nho mới thật là mối tín ngưỡng truyền thống của người Việt Nam, vì trong tất cả các gia đình hầu hết đều lấy việc thờ cúng tổ tiên làm trọng.

Ngoài ra người dân Long An còn có Lễ Hội làm chay. Lễ Hội làm chay là một trong những Lễ Hội truyền thống của tỉnh, tồn tại cách đây khoảng 100 năm, được rất nhiều người biết đến. Hàng năm, Lễ Hội làm chay được tổ chức vào ngày rằm và 16 tháng Giêng âm lịch, tại thị trấn Tầm Vu, huyện Châu Thành, tỉnh Long An.

Nghi thức trong Lễ Hội làm chay có liên quan nhiều đến đình, chùa, miếu. Vì vậy, lễ hội thu hút rất đông người dân địa phương tham gia hành lễ. Vật phẩm cúng tế là các sản vật địa phương, hầu hết được làm từ lúa gạo, hoa quả do người dân và các nghệ nhân, bô lão, trai gái tạo nên.

Tóm lại, Long An là một vùng sông nước của đồng bằng sông Cửu Long, vùng đất nhỏ bé đã được Trung Ương tặng danh hiệu với tám chữ vàng “TRUNG DŨNG KIÊN CƯỜNG TOÀN DÂN ĐÁNH GIẶC” thời chống Mỹ. Thật ra gần hai thế kỷ qua, mảnh đất này đã được đồng bào cả nước biết đến qua trận công đồn đầu tiên tiêu diệt bọn Lang Sa của những người “dân ấp dân lân” mà nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu đã ghi lại trong áng văn hóa bất hủ “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” và sau đó không lâu là trận “hỏa hồng Nhật Tảo oanh thiên địa” của người anh hùng dân chài Nguyễn Trung Trực.
 
CHƯƠNG 2:  VÀI NÉT VỀ PHẬT GIÁO LONG AN

1- Quá trình truyền bá Phật giáo vào Long An và hình thành lực lượng Tăng Ni, Tín đồ ở Long An.
Phật Giáo được du nhập vào Việt Nam từ thời Bắc thuộc (179 trước Công nguyên – 905 sau Công nguyên), hay nói rõ hơn là Phật Giáo được truyền vào nước ta từ cuối thế kỷ thứ hai đến đầu thế kỷ thứ ba và nhanh chóng phát triển ở nước ta trong thời Bắc thuộc, bởi những lý do nằm sâu trong tâm thức của lực lượng tiếp nhận. Những lý do có thể xem là nổi bật nhất như:
- Thiện cảm đầu tiên của nhân dân ta đối với Phật Giáo bắt đầu từ hình ảnh cụ thể của các nhà sư. Tấm Ca Sa của nhà Sư có nét hao hao tấm áo vá của người nghèo. Nhà Sư thọ thực mỗi ngày chỉ một lần vào giờ ngọ, có khác gì những gia đình đói khổ, dừng những bữa cơm đạm bạc quanh năm. Và đêm đêm nơi am cốc tịch mịch, tiếng tụng kinh gõ mõ của nhà Sư đã thật sự đem lại hơi ấm cho cuộc sống.
- Điều dễ nhận là giáo lý nhà Phật có  rất nhiều điểm tương đồng với giáo lý sống cổ truyền của nhân dân ta.
- Quá trình nhập thế một cách tích cực của các nhà tu hành đã khiến cho Phật Giáo nhanh chóng tạo lập được thiện cảm ngày một to lớn trong nhân dân. [7;93-95]

Suốt hơn 2.500 năm nay Phật Giáo đã ảnh hưởng sâu rộng và thâm nhập hầu hết mọi tầng lớp dân chúng. Lịch sử Phật Giáo Việt Nam gần như quyện lẫn với lịch sử  của dân tộc Việt. Người dân Việt tiến đến đâu thì Phật Giáo xuất hiện theo đó, nơi nào có dân Việt thì có chùa, đình, đền, miếu, có Tăng sĩ theo hoằng dương Phật pháp, giúp đỡ tinh thần cho lớp người di dân gặp nhiều khốn khổ, khó khăn. Các Thiền sư thời xưa thực hiện theo đúng hạnh nguyện của Chư Bồ Tát, sống hòa lẫn trong thế tục để hóa độ chúng sanh.

Theo chân đoàn người đi khẩn đất khai hoang, Phật Giáo du nhập vào vùng đất mới Long An khoảng thế kỷ XVIII, tính đến nay gần 300 năm. Đạo Phật có mặt ở Long An sớm nhất so với các tôn giáo khác, do ông cha ta mang theo từ nơi đất cũ. Lúc đầu, khi những lưu dân đã ổn định đời sống, chợ bến dần dần mọc lên ở những nơi thuận tiện, thì họ cũng dựng đình, lập chùa trong địa phương. Lúc bấy giờ chủ yếu là xây cất bằng cây lá. Đến khi nền kinh tế phát triển, đời sống đã vững chắc rồi, người ta mới nghĩ đến việc xây cất bằng vật liệu có sức bền lâu dài hơn như gạch, ngói … Trong “Đại nam nhất thống Chí” – mục “Tự Quán” có ghi rõ những tên chùa bằng gạch ngói xưa nhất của tỉnh Gia Định như: chùa Thiên Trường, Khải Tường, Tứ Ân, Pháp Võ, Hưng Long, Tôn Thạnh, Giác Lâm, Mái Khâu, Vân Sơn … Trong các chùa kể trên, có chùa Tôn Thạnh do nhà sư Nguyễn Chất, pháp danh Viên Ngộ thành lập 1808 ở làng Thanh Ba, huyện Phước Lộc, tỉnh Gia Định (nay thuộc xã Mỹ Lộc, huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An). Chùa Tôn Thạnh còn có tên là chùa Lão Ngộ, hoặc Ông Ngộ. Thiền Sư Viên Ngộ đi thọ đạo 1771 cùng lúc với Hòa thượng chùa Vĩnh Quang, sau về lập chùa ở xã Mỹ Lộc. Cùng thế hệ với Thiền sư Viên Ngộ còn có ngài Hiển Kỳ, quê ở xã Long An, huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An.

Tuy nhiên đến đầu thế kỷ XX, đạo Phật mới phát triển ở Long An. Thượng tọa Huệ Đăng trụ trì chùa Thiên Thai (Bà Rịa), đại diện cho Thiên Thai Thiền Giáo Tông đã truyền bá giáo lý của phái này vào đất Chợ Lớn lúc bấy giờ qua các sách kinh dịch từ chữ Hán qua chữ Quốc ngữ. Chư vị Hòa thượng: Thích Minh Nguyệt, Thích Thiện Hào, Thích Pháp Trân, là những vị đệ tử của thiền sư Huệ Đăng, đều có đi vào nhiều vùng của tỉnh Long An để truyền đạo. Trong thời gian này, Phật Giáo trong tỉnh Long An phân chia thành nhiều xu hướng khác nhau:

- Một số đi vào tư tưởng yểm thế, tiêu cực, thủ tiêu đấu tranh, rồi dần dần đi vào con đường mê tín, lạc hậu.

- Một số khác tôn sùng chủ nghĩa độc tôn, đề cao Luật Nhân Quả, Vô Thường, thu mình vào trong những sinh hoạt có tính khắc kỷ.

- Một xu hướng khác của những người có tâm huyết với dân tộc và đất nước, trứơc đó bản thân họ cũng đã từng tham gia hoặc ủng hộ phong trào Cần Vương hay các phong trào yêu nước chống ngoại xâm nhưng thất bại, họ chưa tìm được lối đi, nên nương cửa Phật chờ thời. Số người này về sau có những hành động tích cực.

Đạo Phật khi vào đất Long An, mảnh đất ươm mầm của những truyền thống yêu nước bất khuất, nơi đã cháy lên ngọn lửa chiến đấu oanh liệt như Cần Giuộc, Cần Đước, Nhật Tảo … không thể không chịu sự tác động của thực tế khách quan đế. Ở nơi đây, tư tưởng nhân đạo của Phật Giáo đã gặp tư tưởng yêu nước của quần chúng nhân dân. Chính điều này là cơ sở để giải thích vì sao ở Long An phần lớn các chùa, các nhà Sư, Tăng Ni, Phật tử đã có nhiều đóng góp tích cực trong sư nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc.

Để tiếp nối mạng mạch Phật pháp, chư vị tiền bối đã đi khắp các nơi  trong tỉnh, truyền bá Đạo lý chánh pháp. Tổ tổ tương truyền với tâm nguyện “truyền đăng tục diệm, tiếp dẫn hậu lai, báo Phật ân đức”, chư vị Tổ sư đã thiết lập  được một lực lượng Tu sĩ Phật Giáo có khoảng gần 2.000 Tăng Ni và khối tín đồ khá đông đảo (khoảng 100.000 tín đồ) trong sự nghiệp hoằng dương Phật pháp, hóa độ chúng sanh. Trải qua thời gian tồn tại và phát triển, Phật Giáo Long An ngày càng rất thịnh hành, số lượng tín đồ tôn sùng đạo Phật càng gia tăng cao, nhiều ngôi chùa xưa và nay được công nhận là “Danh lam thắng cảnh” và “Di tích lịch sử” của Phật Giáo tỉnh nhà.

2- Những ngôi tự viện trong toàn tỉnh Long An

2.1- Phân loại và số lượng:
Phật Giáo Long An trải qua quá trình tồn tại và phát triển, hiện có 284 ngôi tự viện, tịnh xá, tịnh thất, niệm Phật đường nằm rải rác khắp các huyện thị trong tỉnh được phân tích phân loại như sau:
- Tự Viện                     : 236 cơ sở
- Tịnh Xá Khất Sĩ         :   15 cơ sở
- Tịnh Thất, Am           :   13 cơ sở
- Niệm Phật đường      :    4 cơ sở
- Tịnh độ cư sĩ            :    4 cơ sở
- Ban hộ tự quản lý     :   12 cơ sở


Nếu phân tích theo hệ phái thì bao gồm như sau:

* Hệ phái Bắc truyền (nay thường gọi là Bắc tông):
Bao gồm 269 tự viện, tịnh thất, am, niệm Phật đường được phân bố trong các huyện thị như sau:
1- Thị xã Tân An: Gồm có 25 tự viện, tiêu biểu là chùa Thiên Khánh, Thiên Phước, Long An, Hội Long, Hưng Phú .v.v…
2- Huyện Thủ Thừa: Gồm 17 tự viện và tịnh thất Vạn An. Tiêu biểu là chùa Long Thạnh, Vĩnh Phong , Long Hòa, Linh Sơn, Kim Cang. v.v...
3- Huyện Châu Thành: Gồm 28 tự viện, 1 am và 1 niệm Phật đường như: chùa Linh Tôn, Thiên Long, Từ Vân, Hưng Long. v.v…
4- Huyện Tân Trụ: Gồm 2 tịnh thất (Nhật Ninh và Thiền Định) và 16 chùa (Hội Chơn, Tịnh Phước, Bình Phước, Linh Bửu …).
5- Huyện Thạnh Hóa: Có 2 chùa (Phước An và Phổ Hương)
6- Huyện Tân Thạnh: Có 11 chùa (Thiền Bửu, Thiền Đức, Thiền Quang, Phước Hưng v.v…)
7- Huyện Cần Đước: Gồm có 2 tịnh xá (Phổ Hiền và Kỳ Hương), 4 tịnh thất (Tào Khê, Phước Đức, Quan Âm và Huệ Đăng) và 45 ngôi chùa (Phước Long, Thiên Mụ, Long Hoa, Đông Lâm, tu viện Tân Quang …)
8- Huyện Cần Giuộc: Gồm có 1 tu viện Giác Nguyên, 1 am (Bạch Viên) và 45 chùa (Tôn Thạnh, Bồ Đề, Pháp Tánh, Hòa Bình, Phước Ân, Chưởng Phước, Pháp Hưng, Tổ đình Thạnh Hòa, Linh Sơn …)
9- Huyện Đức Hòa: Gồm có 4 tịnh thất (An Nhiên, Diệu Trì,, An Tâm, Minh trí), 1 niệm Phật đường và 31 ngôi chùa (Linh Pháp, Linh Bửu, Linh Phước, Tân Phước, Pháp Bảo, Pháp Tuyền. v.v…).
10- Huyện Bến Lức: Gồm có 1 tịnh xá Thuận Đạo, và 27 ngôi chùa (Pháp Đàn, Long Phước, Phước Bảo, Phước Trường, Linh Phước, Phật Huệ, Hưng Phú v.v…)
11- Huyện Mộc Hóa: Có chùa Tường Vân.
12- Huyện Vĩnh Hưng: Có chùa nổi Cổ Sơn.

* Hệ Phái Khất Sĩ:
Toàn tỉnh Long An có 15 tịnh xá, tập trung nhiều nhất ở Thị Xã Tân An (6 tịnh xá) và số còn lại nằm rải rác khắp các huyện khác trong tỉnh như Thủ thừa (3 tịnh xá), Châu Thành (2 tịnh xá), Cần Đước (tịnh xá Phụng Hoàng), Cần Giuộc (tịnh xá Ngọc Cần), Bến Lức (tịnh xá Ngọc Sanh), Mộc Hóa (tịnh xá Ngọc Tháp).

Ngoài ra còn có 3 cơ sở thuộc Tịnh Độ cư sĩ.

Tóm lại, huyện Cần Đước có nhiều ngôi tự viện nhất, kế đến là huyện Cần Giuộc, với lực lượng Tăng Ni cũng khá nhiều so với các huyện thị khác trong toàn tỉnh Long An.

2.2- Giới thiệu vài ngôi chùa nổi tiếng ở Long An:
CHÙA TÔN THẠNH: Sách “Gia Định thành thông chí” chép “Năm Gia Long thứ bảy (1808) ông sư Tăng Ngộ-tên tục là Nguyễn Chất đến xã Thanh Ba cất chùa Lan Nhược, rường cột tráng lệ, vàng son huy hoàng”. Về sau chùa mang tên là chùa Lão Ngộ hay chùa Ông Ngộ. Trong thư tịch cổ thế kỷ XIX không có tên chùa Tôn Thạnh, chỉ đến khi có bài “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” của Nguyễn Đình Chiểu mới có tên chùa Tôn Thạnh.
Chùa Tôn Thạnh là một trong những ngôi chùa cổ nhất ở Long An, do thiền sư Viên Ngộ khai sáng vào năm 1808 tại ấp Thanh Ba, xã Mỹ Lộc, huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An.
Tổ Sư Viên Ngộ là một bậc danh Tăng thời bấy giờ. Ngài cùng với địa danh chùa Tôn Thạnh đã được ghi vào sách “Đại Nam Nhất Thống Chí” của Quốc Sứ quán triều Nguyễn. Ngoài nhiệm vụ của một Tăng sĩ, Tổ còn hết lòng lo cho dân làng và là một người con chí hiếu. Khi Tổ viên tịch, nhân dân và đồ chúng tưởng nhớ công ơn Ngài, nên đã xây tháp thờ tự ở phía Tây chùa gọi là Tăng tháp.
Chùa Tôn Thạnh dù đã trải qua nhiều lần trùng tu nhưng vẫn theo lối kiến trúc xưa, hết sức hài hòa với cảnh trí thanh tịnh và u nhã xung quanh. Trong chùa còn lưu giữ nhiều pho tượng cổ có giá trị nghệ thuật mang phong cách thế kỷ XIX. Đặc biệt, pho tượng Bồ Tát Địa Tạng bằng đồng được đúc tại chùa, cao 100cm, tạo dáng theo kiểu tượng “Kỵ thú”, tư thế tọa không phải kiểu ngồi thanh nhàn mà ngồi nghiêm trang trên lưng sư tử xanh. Trong lòng bàn tay trái Bồ Tát Địa Tạng có đặt viên ngọc quý.
Ngoài ra còn có tượng Ông Tiêu bằng đất sét tự tạo theo kiểu dân dã, bộ tượng các vị La Hán đắp bằng xi măng vào những năm 40-50. Trong khuôn viên chùa còn có tấm bia kỷ niệm nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu, dựng vào năm 1973 và tháp Hòa Thượng Viên Ngộ.
Chùa Tôn Thạnh còn là nơi lưu trú của Nguyễn Đình Chiểu, nhà thơ lớn của Việt Nam, đã sống và viết những áng văn bất hủ từ năm 1859-1861.
Đến năm 1931, Hòa Thượng Tu Trì, pháp hiệu Liễu Thiền, sau thời gian sang Trung Quốc tu học, thọ giới, đã trở về hoằng truyền Phật Giáo theo dòng Thiên Thai Giáo Quán Tông và trụ trì chùa Tôn Thạnh. Từ đó đến nay, Tôn Thạnh là chốn Tổ uy nghiêm, tuệ đăng sáng rỡ, là nơi qui hướng của rất đông Tăng, Ni, Phật tử, trong đó có Hòa thượng Đạt Đồng, Hòa thượng Đạt Pháp, Ni Trưởng Đạt Cung, Ni Trưởng Đạt Thử, Ni Trưởng Đạt Lý … sau này là những thạch trụ thiền môn, sáng ngời đạo hạnh. Nhiều Đại Giới Đàn và các khóa An Cư Kiết Hạ đã lần lượt được khai mở nơi đây. Sau đó, Hòa thượng Liễu Thiền viên tịch vào năm 1956.
Từ năm 1958 đến nay, chùa Tôn Thạnh do Hòa thượng Đạt Đồng trụ trì, và tiếp tục hoằng dương Phật pháp theo hạnh nguyện của Chư Tổ. Chùa Tôn Thạnh đã đóng góp nhiều công sức vào việc thúc đẩy  sự phát triển Phật Giáo tỉnh nhà.
Năm 1997, chùa Tôn Thạnh được Bộ Văn Hóa Thông Tin công nhận  là “Di Tích Lịch Sử Cấp Quốc Gia”.
“Chùa Tôn Thạnh năm Canh ưng đóng lạnh
Tấm lòng son gửi lại bóng trăng rằm”.
CHÙA KIM CANG: Tọa lạc ở ấp Bình Cang, xã Bình Thạnh, huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An. Chùa Kim Cang, chiếc nôi của Phật Giáo miền Tây Nam Bộ, là một trong những ngôi chùa cổ xưa ở Long An, được xây dựng vào khoảng thế kỷ đầu XIX, do thiền sư Đại Bồ-Thiện Đề, thuộc đời thứ 37, phái Thiền Lâm Tế (là đệ tử của Hòa Thượng Tế Hiển - Bửu Dương) đã có công khai sơn, theo kiến trúc chùa truyền thống, và được truyền thừa qua nhiều thế hệ. Thiền sư Đại Bồ – Thiện Đề viên tịch tại chùa Kim Cang, đồ chúng lập tháp thờ bên hông phải của chùa, tháp hiện vẫn còn: Tháp tô bằng ô dước trộn vôi, cao ba từng khoảng 3-4 m. Sau đó, có thể vì chiến tranh hay vì thời gian hủy hoại nên chùa hư nát. Đến đời Hòa Thượng Hải Lương-Chánh Tâm, đời thứ 40 dòng Lâm Tế Chánh Tông mới trùng tu lại và có công lớn tiếp nối xây dựng và phát triển vào hậu bán thế kỷ XIX.
Tổ Chánh Tâm là một bậc cao tăng, đạo đức sáng ngời.Với hạnh nguyện lợi tha, truyền đăng tục diệm, tiếp dẫn hậu lai, báo Phật ân đức, Tổ đã đem ánh sáng soi rọi khắp nơi, mọi người đều ngưỡng mộ, chư Tăng các nơi lần lượt nương về. Và nơi đây đã trở thành trường Phật Học đầu tiên ở miền Tây Nam Bộ, xuất sanh nhiều bậc danh tăng ảnh hưởng một vùng rộng lớn từ miền Tây đến miền Đông Nam Bộ, trong đó có tổ Khánh Hòa là người có công lớn trong phong trào chấn hưng Phật Giáo Việt Nam thời cận đại. Ngài Chánh Tâm đã thị tịch vào ngày mùng 4 tháng 4 nhuần năm Bính Ngọ (1906). Từ đó, Tổ đìnhKim Cang được truyền thừa gìn giữ cho đến ngày nay, đã trải qua nhiều lần trùng tu xây dựng thành một ngôi tự viện, ngày càng thoáng mát, khang trang có đầy đủ phương tiện giúp chư Tăng tu học. Vì thế, kể từ 1996 đến nay, tổ đình Kim Cang là một trong 6 điểm An Cư Kiết Hạ của Phật Giáo Long An.Với số Tăng chúng tham gia tu học hằng năm khoảng trên dưới 60 vị.
Chùa Kim Cang, hiện còn lưu giữ nhiều bản in kinh Phật Giáo bằng Hán tự khắc trên gỗ, vườn tháp và tượng cổ có niên đại thế kỷ XIX, trên bàn thờ Tổ còn thờ 11 Long vị  của chư tổ truyền thừa ở chùa Kim Cang. Đây là một trong những trung tâm Phật giáo của đất Gia Định (xưa), thể hiện qua việc in ấn kinh Phật và đào tạo Tăng tài mà di tích xưa còn lưu lại đến ngày nay. Chùa Kim Cang hiện do Thượng tọa Thích Tắc Ngộ trụ trì từ 1993 đến nay.

CHÙA LINH SƠN: Chùa Linh Sơn còn gọi là chùa Núi, thuộc khu di tích khảo cổ Rạch Núi, nằm trên một gò đất cao khoảng 6 m, tại xã Đông Thạnh, huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An.
Chùa Linh Sơn do Hòa Thượng Minh Nghĩa khai lập vào năm 1867, kiến trúc chùa gồm có chánh điện, giảng đường, hậu đường. Trải qua bao thời gian thăng trầm, đã nhiều lần được trùng tu sửa chữa vào những năm 1926,1970 và 1988. Chùa Linh Sơn được gìn giữ và truyền thừa qua nhiều đời trụ trì. Vào năm 1970, Hòa Thượng Thiện Lợi cho sửa chữa ngôi chánh điện hiện nay, giữa giảng đường và hậu đường là sân thiên tỉnh, bên tả có am thờ Bà Ngũ Hành và nhà trù. Hiện chùa còn trên 100 tượng Phật, phần lớn có niên đại cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, trong đó có pho tượng cổ Tiêu Diện bằng gỗ quý, cao 0,4m. Trong khuôn viên chùa có tháp của Hòa Thượng Quảng Trí và  Hòa Thượng Thiện Lợi .
Hiện nay, chùa Linh Sơn do Thượng Tọa Thích Huệ Bạch trụ trì.

CHÙA NỔI CỔ SƠN: Chùa nổi Cổ Sơn tọa lạc tại ấp Cả Bản, xã Tuyên Bình, huyện Vĩnh Hưng. Chùa được xây dựng cách đây khoảng 200 năm, nơi đây là di tích khảo cổ học thời tiền sử và kiến trúc Óc Eo.

CHÙA THIÊN KHÁNH:
Chùa Thiên Khánh tọa lạc tại khu phố Bình Cư II, phường 4, thị xã Tân An- Long An. Chùa do ông Ngô Văn Trà và bà Nguyễn thị Dần sáng lập vào năm 1911. Sau khi hoàn tất công trình xây dựng, ông bà cùng với Phật tử trong vùng đã cung thỉnh Hòa thượng Thích Pháp Lưu, thuộc hệ phái Thiên Thai Thiền Giáo Tông về đây trụ trì và hoằng dương Phật pháp.
Từ ấy đến nay, chùa đã trải qua nhiều lần trùng tu và trải qua mấy đời trụ trì. Kể từ năm 1980 đến nay, chùa Thiên Khánh do Thượng tọa Thích Thiện  Huệ làm trụ trì.
Chùa Thiên Khánh là một trong những trung tâm Phật Giáo của Long An. Sau khi ban Trị sự Tỉnh Hội Phật Giáo Long An được thành lập từ năm 1983 đến nay, chùa Thiên Khánh vừa là Văn Phòng Ban Đại Diện Phật Giáo thị xã Tân An, vừa là một trong những điểm An Cư Kiết Hạ của chư Tăng trong tỉnh. Nơi đây còn là điểm trường Phật Học, đào tạo Tăng tài, thường xuyên và liên tiếp khai mở các “Đại Giới Đàn” để truyền trao giới pháp cho TăngNi, Phật tử tỉnh nhà và các vùng lân cận.
Vào năm 1992, trường Cơ Bản Phật Học Long An (cơ sở 1) đã được thành lập tại chùa Thiên Khánh với khoảng 50 Tăng sinh tu học nội trú.
Hiện nay, chùa Thiên Khánh là nơi đặt trụ sở Văn Phòng Ban Trị Sự Tỉnh Hội, nơi lưu trữ tư liệu Phật Giáo Long An và vẫn tiếp tục là cơ sở tu học nội trú cho Tăng sinh Trường Trung Cấp Phật Học Long An. Đây cũng là nơi tổ chức Lễ Đài Phật Đản của Tỉnh Hội hàng năm.
Với sự góp sức và hỗ trợ của chư Tôn đức Tăng Ni cùng đồng bào Phật tử trong và ngoài tỉnh, chùa Thiên Khánh đã vươn lên từ một ngôi chùa làng, trở thành một ngôi chùa có tầm vóc của tỉnh nhà, là cơ sở phục vụ những Phật sự trọng đại của Phật Giáo Long An trong hiện tại cũng như tương lai và là chiếc nôi trí tuệ đào tạo Tăng tài cho Phật Giáo Long An nói riêng và cả nước nói chung, đồng thời góp phần vào việc hình thành và phát triển Phật Giáo tỉnh nhà.
“THIÊN KHÁNH TỰ, ngôi chùa làng thuở nọ,
Đã vươn mình thành TRUNG TÂM PHẬT GIÁO LONG AN,
Với bao hy sinh, vất vả muôn vàn,
Nhặt cát đá về dựng xây cơ sở.
THIÊN KHÁNH TỰ, chiếc nôi hồng rực rỡ,
Đào tạo Tăng tài, trí tuệ nêu cao,
Tỏa hương thơm Giới- Định- Tuệ ngạt ngào,
Lan khắp chốn hạnh từ bi, vô ngã”.
(Thơ- Lý Trang)
CHÙA THIÊN PHƯỚC: Chùa Thiên Phước tọa tại ấp Cầu, xã Khánh Hậu, thị xã Tân An- Long An. Chùa do ông Lê Văn Thơ, pháp danh Thiện Lý (thân phụ của Ni Trưởng Thích Nữ Như Ngộ) xây dựng vào năm 1925. Sau khi xây xong, ông hiến cúng cho Hòa thượng Pháp Long làm trụ trì.
Từ ấy đến nay, đã trải qua mấy lần trùng tu và nhiều đời trụ trì. Hiện nay chùa Thiên Phước do Ni Trưởng Thích Nữ Như Ngộ làm Viện chủ từ năm 1958 đến nay (2005).
Chùa Thiên Phước, vào năm 1989, được Ban Trị Sự Tỉnh Hội Phật Giáo Long An chọn làm điểm An Cư Kiết Hạ đầu tiên cho chư Ni trong tỉnh với khoảng 100 vị tham dự.
Năm 1992, Phật Giáo Long An đặc trách chùa Thiên Phước làm cơ sở II, trường Cơ bản Phật Học (nay là trường Trung Cấp Phật Học Long An). Từ đấy Ni trường trở thành cơ sở giáo dục của tỉnh nhà.
Chùa Thiên Phước vừa là trường Phật Học, vừa là một trong 6 điểm An Cư Kiết Hạ của tỉnh Long An. Nơi đây thường xuyên và liên tục khai mở các “Đại Giới Đàn” để truyền trao giới pháp cho Ni chúng trong tỉnh và các tỉnh lân cận.
Sau 10 năm giáo dục, chùa Thiên Phước (cơ sở II) đã đào tạo hai khóa Trung Cấp Phật Học Long An, với gần 200 Ni sinh tham dự khóa học. Kết quả cuối khóa, Ni sinh có triển vọng ra trường khá cao: Khóa I có 10 Ni sinh và khóa II có 14 Ni sinh trúng tuyển vào Học Viện Phật Giáo Việt Nam tại thành phố Hồ Chí Minh khóa IV (1997) và khóa V (2001), nhiều Ni sinh trúng tuyển vào các trường Cao Đẳng Phật Học: Vĩnh Nghiêm, Cần Thơ và Đại Tòng Lâm.
Hiện nay, chùa Thiên Phước đang giảng dạy khóa III, Trung cấp Phật Học Long An, với hơn 100 Ni sinh đang theo học tại chùa.
Với sự nỗ lực và khéo lèo lái của Ni Trưởng và sự hỗ trợ của Chư Tôn Đức Tăng Ni và đồng bào Phật tử, chùa đã chuyển biến, vươn lên từ một ngôi am tranh nho nhỏ trong làng, trở thành một Ni trường ngày một khang trang, tráng lệ hơn. Chùa Thiên Phước đã trở thành cơ sở Giáo dục và đào tạo người tài giỏi cho tỉnh nhà, đồng thời góp phần hình thành và phát triển Phật Giáo Long An.

CHÙA PHƯỚC BẢO: Chùa Phước Bảo nằm cạnh Quốc lộ 1A, thuộc xã Thạnh Đức, huyện Bến Lức, tỉnh Long An. Chùa do Ni Sư Thích Nữ Như Phương sáng lập vào năm 1969.
Sau thời gian hoằng hóa, vì tuổi già sức yếu, Ni Sư đã cung thỉnh Thượng Tọa Thích Tắc Tựu về trụ trì chùa Phước Bảo từ 1990 đến nay.
Chùa Phước Bảo được Tỉnh Hội Phật Giáo Long An, chọn làm một trong những điểm trường Phật Học, đã đào tạo hai khóa Sơ Cấp Phật Học Long An. Và là một trong 6 điểm An Cư Kiết Hạ được khai mở hàng năm vào mùa An Cư, nhằm giúp Chư Tăng trau dồi Tam Vô Lậu Học.
Ngoài việc đào tạo Tăng Ni sinh để có lực lượng kế thừa Phật pháp, chùa Phước Bảo cũng rất quan tâm đến việc hướng dẫn Phật tử tại gia tu học, nên từ năm 1990 đến nay đã tổ chức Đạo Tràng Bát Quan Trai cho Phật tử tu học mỗi tháng 2 lần.
Với quan niệm xây dựng, góp phần hoằng pháp lợi sanh, tại chùa Phước Bảo đã thành lập được PHÁP HỘI TỊNH ĐỘ LONG AN khai giảng vào ngày 17 tháng 11 năm Kỷ Mão (1999) với số lượng Phật tử ngày càng đông, tính đến nay có khoảng hơn 400 vị tham gia tu học mỗi tháng một lần.
Thượng Tọa trụ trì chùa Phước Bảo, một người hết lòng vì Đạo Pháp-Dân Tộc, không ngại khó, không ngại khổ, bằng sự khéo lèo lái từ một ngôi chùa tranh vách lá đã trở thành một  ngôi trường Phật Học cho Tăng Ni, Phật tử tỉnh nhà. Chùa Phước Bảo ngày càng vươn cao về mọi mặt, nhất là về mặt sinh hoạt tu học. Chùa Phước Bảo quả là một trong những chiếc nôi trí tuệ của Tăng Ni, Phật tử Long An.

CHÙA HÒA BÌNH: Chùa Hòa Bình tọa lạc tại thị trấn Cần Giuộc, huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An, do Hòa thượng Thích Thiện Căn sáng lập 1960.
Từ năm 1987 đến nay, do Sư Cô Thích Nữ Tắc Hạnh trụ trì. Sư Cô đã từng bước cho trùng tu lại ngôi chùa ngày một khang trang từ chánh điện đến trai đường, nhà giảng, có điều kiện tương đối ổn định giúp chư Ni tu học. Vì thế, từ năm 1996 đến nay, chùa Hòa Bình đã được Ban Trị Sự Tỉnh Hội Phật Giáo Long An chọn là một trong 6 điểm An Cư Kiết Hạ của Tỉnh Long An, với số Ni chúng tham gia tu học trên dưới 60 vị mỗi năm. Cũng vào dịp An Cư Kiết Hạ từ năm 1999 đến nay, Ban Trị Sự Tỉnh Hội đã tiến hành khai giảng các khóa “ Bồi Dưỡng Kiến Thức Trụ Trì” tại chùa Hòa Bình.
Chùa Hòa Bình cũng rất quan tâm đến việc tu học của nam nữ Phật tử tại gia, chùa đã tổ chức được đạo tràng Bát Quan Trai cho Phật tử tu học mỗi tháng một lần với khoảng 40 vị tham gia. Ngoài ra, chùa còn tổ chức đội ngũ Gia Đình Phật Tử, được thành lập vào năm 1996 đến nay, nhằm giúp cho các em thanh thiếu niên trong vùng có điều kiện tham gia sinh hoạt tập thể một cách lành mạnh và có nề nếp.
Với những hoạt động Phật sự nêu trên, chùa Hòa Bình quả là một trong những ngôi chùa đã góp phần làm cho Phật Giáo Long An ngày thêm phát triển và vững mạnh.

CHÙA LONG HOA: Chùa Long Hoa tọa lạc tại xã Long Trạch, huyện Cần Đước, tỉnh Long An, do Ni Trưởng Thích Nữ Như Lý xây dựng vào năm 1962. Đến năm 1998, chùa được tái thiết đại trùng tu lần nữa. Chùa Long Hoa trở thành một Ni viện có tầm cỡ, với lối kiến trúc nguy nga, tráng lệ.
Chùa Long Hoa cũng là một trong 6 điểm An Cư Kiết Hạ hằng năm của Phật Giáo Long An. Và nơi đây cũng được Ban Trị Sự Tỉnh Hội Phật Giáo Long An chọn là một trong các điểm trường Phật Học. Từ năm 1996 đến nay đã đào tạo được hai khóa Sơ Cấp Phật Học Long An cho Ni chúng trong và ngoài tỉnh đến tu học nội trú tại chùa, hiện đang chuẩn bị chiêu sinh khóa III Sơ Cấp Phật Học.
Ngoài ra chùa Long Hoa còn tổ chức đạo tràng Niệm Phật cho nam nữ cư sĩ nương về tham dự khóa tu “Phật thất” mỗi tháng một lần.
Ngoài những ngôi chùa kể trên, còn có một số ngôi chùa khác cũng đặc biệt được nhiều người quan tâm, biết đến như:

- Chùa Bồ Đề (Cần Giuộc), do Hòa thượng Thích Đạt Pháp làm Viện Chủ. Ngài là bậc cao Tăng thạc đức, luôn được mọi người kính mến và tín nhiệm.

- Chùa Pháp Tánh (Cần Giuộc) do Ni Trưởng Thích Nữ Đạt Cung làm trụ trì. Ngài là một bậc Trưởng Lão Ni của Long An, với hạnh đức vẹn toàn, giới thể trang nghiêm, Ngài được chư Tôn Đức Tăng Ni cung thỉnh vào hàng Tam Sư Thất Chứng  trong các Đại Giới Đàn ở Long An, là một bậc Ni Trưởng chân tu thạc đức, làm rạng rỡ cho hàng Ni giới Việt Nam nói chung và tỉnh Long An nói riêng. Đáng kính thay ! Ni Trưởng trọn đời học Luật, trì Luật, giảng Luật và hoằng dương Luật Tạng.

- Chùa Pháp Đàn (Gò Đen-Bến Lức) do Thượng Tọa Thích Tắc Phi làm trụ trì v.v…
 
CHƯƠNG 3 : QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA TỈNH HỘI PHẬT GIÁO LONG AN

1- Các hệ phái:
Phật Giáo Long An dưới thời Mỹ ngụy, lại chia làm nhiều giáo phái khác nhau như: Giáo Hội Lục Hòa Tăng, Thiên Thai Giáo Quán Tông, Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, Phật Giáo Khất Sĩ Việt Nam v.v…

Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, Bắc Nam sum họp một nhà. Qua quá trình vận động thống nhất Phật Giáo, vào năm 1981, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam được khai sinh, thống nhất 9 hệ phái trong cả nước. Hòa cùng hướng phát triển của Phật Giáo Việt Nam trong giai đoạn mới, vào năm 1983, Phật Giáo Long An đã thành lập Ban Trị Sự Tỉnh Hội và thống nhất các hệ phái, giáo phái trong toàn tỉnh. Hiện nay, Phật Giáo Long An bao gồm ba hệ phái chính: hệ Bắc truyền (Thiền tông, Tịnh Độ tông, Thiên Thai Giáo quán tông v.v … thường gọi là Bắc tông), hệ phái Khất Sĩ và Tịnh Độ cư sĩ.

2- Quá trình đào tạo đội ngũ Tu sĩ Phật Giáo:

2.1- Hoạt động đào tạo tự thân của các chùa:
Chùa chiền là những nơi trực tiếp truyền bá giáo lý đạo Phật đến với tín ngưỡng Phật Giáo, là nơi tiếp độ tín đồ Phật tử. Chư vị trụ trì là những người có tâm nguyện “tiếp Tăng độ chúng” để kế thế sự nghiệp truyền thừa tông môn. Họ là những bậc mô phạm làm gương cho hàng hậu học nương theo. Do đó, người cư sĩ Phật tử muốn trở thành Tu Sĩ, trước nhất phải phát Bồ đề tâm, phát nguyện xuất gia tu theo Phật Giáo, học theo hạnh nguyện của Chư Phật, chư Bồ Tát, chư vị Tổ sư … mà các vị trụ trì là những người trực tiếp hướng dẫn và đào tạo thế hệ kế thừa.

Muốn xuất gia tu đạo, người ta phải trải qua thời gian hành điệu tức làm Sadi (Sadini), gọi nôm na là chú tiểu hoặc điệu. Sadi được lấy từ danh từ Sràmanera của Phạn ngữ và được dịch là “tức từ” hoặc “cần sách” hay “cầu tịch”. Tức từ có nghĩa là ngưng ác làm lành; cần sách có nghĩa là siêng năng tinh tấn; cầu tịch có nghĩa là tìm đời sống an tịnh. Trong thời gian này, các vị Sadi (Sadini) được học những điều căn bản nhất của người xuất gia đó là: Thanh quy của Tự viện, Oai nghi của người xuất gia, Nghi lễ, Nghi thức thiền môn, Các bài kệ chú hành trì hàng ngày (Tỳ ni Nhật Dụng Thiết Yếu), hai thời khóa công phu, mười giới luật của Sadi (Sadini) v.v… sau quá trình hành điệu ở chùa, các vị Sadi (Sadini) này tiếp tục được đào tạo qua các trường lớp Phật học như: Sơ cấp, Trung cấp, Cao đẳng, Cử nhân v.v…

2.2- Quá trình đào tạo Tăng Ni qua các trường lớp Phật học:
Trường Trung cấp Phật học Long An được khai giảng vào ngày 15-9-1992 khóa I cơ bản Phật học Long An theo chương trình tu học nội trú, hệ 6 năm (có 150 Tăng Ni sinh dự học) tại hai địa điểm: chùa Thiên Khánh dành cho Tăng sinh và chùa Thiên Phước dành cho Ni sinh.

Sau đó, chương trình giáo dục Tăng Ni của trường Trung Cấp Phật học Long An (TCPHLA) được ổn định về mặt giảng dạy và đời sống tu tập. Năm 1995 khai giảng hai lớp Sơ cấp Phật học nội trú, Tăng sinh nội trú tại chùa Phước Bảo, Ni sinh nội trú tại Ni viện Long Hoa, trong thời gian 2 năm. Sau khi tốt nghiệp Sơ cấp Phật học, Tăng Ni sinh được tuyển thẳng vào trường Trung cấp Phật học Long An khóa II (1998-2001).
Trải qua hơn 10 năm Giáo dục nhằm mục đích “đào tạo Tăng tài”, Trường TCPH Long An đã tổ chức Lễ Tốt Nghiệp cho hai khóa:
- Khóa I: 143 Tăng Ni sinh (50 Tăng, 93 Ni).
- Khóa II: 167 Tăng Ni sinh (65 Tăng, 102 Ni).

Năm 2002 tiếp tục đào tạo 92 Tăng Ni sinh theo học lớp Sơ cấp Phật học tại chùa Thiên Phước, Phước Bảo và Long Hoa.

Các Tăng Ni sinh sau khi tốt nghiệp TCPH,  được Ban Trị Sự Tỉnh Hội Phật Giáo Long An tuyển, giới thiệu Tăng Ni sinh dự thi vào khóa III Cao cấp Phật học tại TP.HCM (đạt 08/10 Tăng Ni dự thi). Khóa IV và khóa V Học Viện Phật Giáo Việt Nam tại TP.HCM gồm có 37 Tăng Ni sinh trúng tuyển vào Học viện; giới thiệu 61 Tăng Ni sinh theo học tại các lớp Phật học: Cao đẳng (Cần thơ, Đại Tòng Lâm, Vĩnh Nghiêm), lớp phiên dịch Huệ Quang, giới thiệu 05 Tăng Ni sinh du học tại Ấn Độ, Trung Quốc và Nhật Bản.

Phật Giáo Long An có ưu điểm là Tăng Ni sinh tu học tốt, học tập tiến bộ, chịu khó trong suốt chương trình Phật học nội điển, gồm các môn học bắt buộc về: Phật Pháp căn bản, lịch sử Phật Giáo, Kinh-Luật-Luận, Hán Văn, Việt văn, Anh văn … nên số lượng Tăng Ni sinh sau khi tốt nghiệp, thi vào các lớp: Cao đẳng, Học Viện Phật Giáo Việt Nam tại TP.HCM tỉ lệ trúng tuyển luôn đạt 80 %. Ban Giám Hiệu ngày càng tổ chức hoàn thiện chương trình học cho Tăng Ni sinh, nên số lượng Tăng Ni sinh học tại trường mỗi năm càng đông hơn, chất lượng cao hơn. Tăng Ni trẻ trong toàn tỉnh hầu hết tham gia học tại trường Sơ cấp và Trung cấp do Ban Trị Sự Tỉnh tổ chức và thu hút Tăng Ni sinh ngoài tỉnh về tu học. Điểm thuận lợi của trường Trung Cấp Phật Học Long An là Tăng Ni sinh đều có đời sống tu học nội trú. Trường chú trọng rèn luyện đời sống đạo hạnh, lý tưởng phục vụ cho Giáo Hội và an lạc theo hướng giải thoát. Ban Giám Hiệu và Ban Bảo trợ lo mọi chi phí học tập, mỗi năm Tăng Ni sinh được may hai bộ đồ. Bên cạnh đó, trường tổ chức kiểm tra chặt chẽ việc học tập cũng như nội qui sinh hoạt ở trường của Tăng Ni như: lập sổ liên lạc, về phép phải báo cáo xin phép và được ghi vào sổ liên lạc. Nhà trường cũng yêu cầu bổn sư hỗ trợ mua bảo hiểm y tế cho Tăng Ni sinh để tiện theo dõi sức khỏe … Đây là việc làm nhằm tạo mối quan hệ tốt đẹp giữa nhà trường và các vị bổn sư của Tăng Ni sinh. Một mặt nhà trường dễ quản lý Tăng Ni sinh, mặt khác bổn sư của Tăng Ni sinh cũng dễ dàng tìm hiểu quá trình học tập và nội trú tu học của Tăng Ni sinh trong suốt những năm học tại trường. Mối quan hệ này  nhằm giúp Tăng Ni sinh tiến bộ hơn trong học tập và tu học, đồng thời có những hỗ trợ kịp thời trong quá trình học tập.

Qua hai khóa học, Ban Giám Hiệu và ban Trị sự có nhận định rằng sau khi tốt nghiệp, Tăng Ni sinh không có điều kiện học cao hơn, số lượng tham gia thi tuyển vào các trường Phật học khác không cao nhưng tỷ lệ trúng tuyển lại cao. Do đó, Ban Trị sự (BTS) và Ban Giám Hiệu chú trọng đến việc thực hiện chương trình giáo dục nâng cao về kiến thức chuyên khoa, nhằm mục đích đào tạo để sau khi tốt nghiệp, Tăng Ni sinh có thể phục vụ tốt tại trú xứ, tức là phục vụ Phật giáo tại địa phương. Với mục đích này, Ban Giám Hiệu hoàn thiện chương trình học vào khóa III theo hướng dẫn của Ban Giáo Dục Tăng Ni Trung Ương. Dựa vào đó, nhà trường đưa ra chương trình ngoại khóa gồm các môn học Đại cương như: Mỹ học Phật giáo, Quản trị học, Kiến trúc Phật giáo, Đại cương về tôn giáo học, Thiền học … Các môn này áp dụng tại trường TCPHLA nhằm giúp Tăng Ni sinh có cái nhìn khái quát tổng quan về cái đẹp của kiến trúc Phật giáo, đạo đức, tiêu chí, cảm nhận cái đẹp trong nhiều thể loại mang tinh thần Phật giáo. Ngoài ra, Tăng Ni sinh khóa III còn được học môn học “nghệ thuật thuyết giảng”, giúp Tăng Ni sinh biết cách soạn bài giảng, soạn giáo trình, thuyết trình tại chỗ và các đạo tràng Bát quan trai. Với những chương trình hoạch định này, Ban Giám Hiệu mong muốn Tăng Ni sinh sau khi ra trường có những đóng góp cho chùa mình bằng những kiến thức đã được đào tạo, là những người có chuyên môn để phục vụ cho Ban đại diện Phật giáo của huyện mình và trú xứ của mình. Do đó, việc đào tạo một con người thông thạo chuyên môn Phật pháp, am hiểu những vấn đề thời sự, tôn giáo, am hiểu nhiều kiến thức trong và ngoài nước …  rất cần thiết cho một vị Tu sĩ trụ trì tương lai.

Tăng Ni trẻ Phật giáo Long An sẵn sàng tiến bước trên con đường phụng sự Đạo pháp-Dân tộc của Phật giáo tỉnh nhà, một miền đất mà những người dân rất thích học Phật dù cuộc sống hàng ngày vẫn còn nhiều vất vả thiếu thốn.

3- Quá trình hình thành và hoàn thiện tổ chức Tỉnh Hội Phật Giáo Long An:
Dưới thời Pháp thuộc, Phật giáo chịu nhiều cay đắng não nề, chùa chiền bị phá dỡ, Tăng sĩ có một số bị buộc hoàn tục, một số khác thì phải đóng thuế thân, tất cả mọi lễ nghi của Phật giáo đều phải thông qua chính quyền Pháp mới được tổ chức. Mọi hoạt động của Phật giáo đều bị kiềm tỏa. Tu sĩ Phật giáo thời buổi này gần như chỉ khép mình trong bốn bức tường của ngôi chùa. Vì sao vậy ? Vì “nguyên do thực dân Pháp cố tình cắt đứt sự tổ hợp của Phật giáo buổi này, chúng sợ dân ta trá hình Phật giáo để chống đối chúng, nên mọi hình thức của Phật giáo đều bị chúng làm tê liệt cả”[6,190]. Hơn nữa, Pháp có ý đồ xóa bỏ văn hóa, phong tục, lễ nghi, truyền thống ở Việt Nam, thay vào đó là văn hóa, phong tục và cả tôn giáo của phương Tây. Do đó, Pháp đã không ngần ngại tiêu diệt Phật giáo, một tôn giáo truyền thống của dân tộc Việt Nam. “Khi Pháp sang đô hộ Việt Nam, Phật giáo đi vào chỗ suy kém. Người Pháp đã tận tình nâng đỡ Thiên Chúa giáo, chèn ép đạo Phật. Nhưng Phật Giáo không bao giờ bị diệt vong tại Việt Nam. Tín đồ đạo Phật, mặc cho hoàn cảnh hình thức bên ngoài, luôn tin ở đạo, và đạo càng bị chèn ép thì lòng tin tưởng của tín đồ ngày càng mạnh hơn”.[1,303]

Riêng Phật giáo, Pháp cho phép thành lập các hội Phật học. Tất  nhiên đây không phải là sự đối xử lương hảo, mà chỉ là sự giao hòa của chúng, để Phật giáo hoạt động đi vào tổ chức thì Pháp kiểm soát được dễ dàng hơn. Thế nên, đòn bẫy của thực dân vô hình trạng đã làm cầu nối cho Phật giáo bước qua giai đoạn hiểm nguy. Lợi thế này đã đưa Phật giáo tiến nhanh trên con đường chấn hưng Phật học.

Tại Việt Nam, công cuộc chấn hưng Phật giáo được phát khởi là do âm vang của Phật giáo các nước: Myanmar, SriLanKa, Nhật bản … Ảnh hưởng mạnh nhất đến Phật giáo Việt Nam là cuộc chấn hưng Phật Giáo ở Trung Hoa, đứng đầu là Ngài Thái Hư Đại Sư.

Ở miền Nam có chư vị: Hòa thượng Khánh Hòa chùa Tuyên Linh (Bến Tre), Hòa thượng Trí Thiền chùa Phi Lai (Châu Đốc), Hòa thượng Tuệ Quang chùa Long Hòa, Hòa thượng Khánh Anh chùa Long An (Trà Vinh), Hòa thượng Huệ Tịnh chùa Linh Tuyên (Gò Công), Hòa thượng Tâm Thông chùa Trường Thọ (Gia Định), Hòa thượng Từ Phong chùa Giác Hải và Hòa thượng Hoằng Nghĩa chùa Giác Viên (Chợ Lớn) là những vị cao tăng nêu cao ngọn cờ chấn hưng Phật Giáo bằng cách khai mở trường lớp dạy Tăng Ni và biên soạn kinh sách.

Đặc biệt, Hòa thượng Khánh Hòa là người đi đầu trong phong trào chấn hưng Phật giáo, cùng với Sư Thiện Chiếu. Cả hai vị này là những người đi tiên phong trong tổ chức và tư tưởng: “Năm 1927, sau khi nhà sư Thiện Chiếu đi Hà Nội về, mang theo chương trình chấn hưng Phật giáo Trung Hoa, đã thúc đẩy các Tăng sĩ Nam Kỳ gấp rút thực hiện các công cuộc chấn hưng. Tháng Giêng năm Kỷ Tỵ (1929), Hòa Thượng Khánh Hòa đích thân đi vận động hầu hết các chùa lớn ở miền Nam và cử một phái đoàn do Giáo thọ Thiện Chiếu hướng dẫn ra miền Trung và miền Bắc để vận động phong trào chấn hưng Phật Giáo”[4,53]. Có thể nói phong trào chấn hưng Phật giáo trên toàn quốc nói chung, miền Nam nói riêng, Hòa thượng Khánh Hòa và Giáo thọ Thiện Chiếu là linh hồn của công cuộc phát triển Phật Giáo trong thời điểm này.

Công cuộc chấn hưng bắt đầu từ năm 1920 khi “Hội Lục Hòa Liên Hiệp” ra đời ngày 19-9 tại chùa Long Hoa (Trà Vinh), nhưng mãi đến thập niên 1930-1940 phong trào mới thực sự được phát triển mạnh. Và cũng bắt đầu từ đó, nhiều hội Phật học khác liên tiếp ra đời.

Tại miền Nam Việt Nam, điểm hẹn của văn hóa phương Tây, nơi đầu tiên khởi xướng phong trào chấn hưng Phật giáo, năm 1931 một hội Phật học đầu tiên ra đời có tên là “Hội Nam Kỳ Nghiên Cứu Phật Học”. Điều lệ của hội được Thống đốc nam Kỳ ông J.Khrautheimer phê duyệt ngày 26-8-1931. Thiền sư Từ Phong chùa Giác Hải (Chợ Lớn) được bầu làm Hội trưởng, Hòa thượng Khánh Hòa làm phó nhất Hội trưởng và chủ nhiệm tạp chí “Từ Bi Âm”; Hòa thượng Bích Liên làm chủ bút, tạp chí này ra đời ngày 01-03-1932; Ông Commis Trần Nguyên Chấn làm phó nhì Hội trưởng, Nguyễn Văn Nhơn làm thư ký và các Hội viên cả thảy 188 người. Trụ sở đặt tại chùa Linh Sơn (Sài gòn). Chương trình của Hòa thượng Khánh Hòa bị thất bại vì các thiền sư đã không nắm được thực quyền trong hội. Hơn nữa, sự hiện diện của ông Chấn trong ban lãnh đạo Hội đã gây nhiều khó khăn cho việc mở trường Phật học. Vì muốn đào tạo thế hệ Tăng Ni trẻ, Hòa thượng Khánh Hòa và Hòa Thượng Huệ Quang đã rút về chùa Long Hòa (Vĩnh Long), tổ chức Phật học đường lưu động lấy tên là “Liên Đoàn Phật Học Xã”, được thành lập vào năm 1933 trải qua các chùa: Long Hòa (Vĩnh Long), chùa Thiên Phước (Trà Ôn) và chùa Viên Giác (Bến Tre). Tổ chức Phật học này do Hòa thượng Huệ Quang, Hòa thượng Khánh Anh và Hòa thượng Pháp Hải giảng dạy. Chủ bút của “Từ Bi Âm” lúc này là thiền sư Chánh Tâm, một pháp hữu của thiền sư Khánh Hòa. Sau thời gian hoạt động tại ba địa điểm trên, Liên đoàn tan rã vì lý do thiếu kinh phí. Cuối cùng các vị Hòa Thượng: Khánh Hòa, Huệ Quang, Khánh Anh, Pháp Hải cùng các cư sĩ có đạo tâm như: Nguyễn Văn Khỏe, Trần Văn Giác, Phạm Văn Liêu, Huỳnh Thái Cửu, Ngô Trung Tín và Phạm Văn Luông … đã thành lập “Hội Lưỡng Xuyên Phật Học” tại Trà Vinh. Sau khi giấy phép được ký ngày 13-8-1934 thì thiền sư An Lạc chùa Vĩnh Tràng (Mỹ Tho) được bầu làm Hội trưởng. Trụ sở hoạt động đặt tại chùa Long Phước (Trà Vinh). Công việc đầu tiên của Hội là tổ chức Phật học đường. Phật học đường Lưỡng Xuyên được khai giảng vào cuối năm 1934, cơ quan ngôn luận của Hội là tạp chí “Duy Tâm Phật Học”, số đầu tiên ra ngày 01-10-1935, do Hòa thượng Huệ Quang làm chủ nhiệm, ông Trần Huỳnh làm chủ bút.

Năm 1936, sau thời gian hoạt động chấn hưng Phật Giáo ở Sài Gòn tại hai chùa Linh Sơn và Hưng Long, sư Thiện Chiếu vẫn chưa hài lòng với thành quả đã gặt hái và bất mãn với đường lối hoạt động mang tính “cổ hủ” của thiền sư Khánh Hòa. Ông trở về Rạch Giá gặp Hòa thượng Trí Thiền bàn thảo việc chấn hưng Phật Giáo ở xứ này và đề nghị Hòa thượng Trí Thiền thành lập một tổ chức Phật giáo thật sự tiến bộ. Cuối cùng, hai vị đã thành lập “Hội Phật Học Kiêm Tế” tại Rạch Giá, lấy chùa Tam bảo làm trụ sở. Hòa thượng Trí Thiền làm Chánh Tổng Lý, Nguyễn Văn Ngọ (trụ trì chùa Thập Phương) và Ngô Thành Nghĩa (trụ trì chùa Phước Thanh) làm Phó Tổng lý. Điều lệ của Hội được phê chuẩn ngày 23-3-1937. Và tạp chí Phật học của Hội là “Tạp chí Tiến Hóa” số đầu tiên ra ngày đầu của năm 1938, do Phan Thanh Hà đứng tên làm chủ bút, ông Đỗ Kiết Triệu làm chủ nhiệm. Mặc dù Sư Thiện Chiếu đứng ra lập hội nhưng Ngài không giữ  chức vụ nào trên mặt giấy tờ cả  mà chỉ làm việc phía sau.

“Không phải chỉ có Hội Phật Học Kiêm Tế và tạp chí Tiến Hóa là tổ chức có màu sắc thiên tả duy nhất. Ở Nam Kỳ lúc đó còn có “Hội Tịnh Độ Cư Sĩ” và tạp chí “Pháp Âm” do Hội xuất bản cũng là một tổ chức đã từng bày tỏ lập trường thiên tả”.[3,82]

Hội Tịnh Độ Cư Sĩ được thành lập sớm hơn Hội Phật học Kiêm Tế và tạp chí “Pháp Âm” ra đời sớm hơn tạp chí Tiến Hóa một năm. Hội Tịnh Độ Cư Sĩ vốn là hội của những người cư sĩ tu theo Tịnh Độ giáo. Hội đặt cơ sở tại chùa Tân Hưng Long (Chợ Lớn). Tuy không có Hội viên Tăng sĩ nhưng hội đã tôn một vị tăng sĩ tên Minh Trí làm Tông sư chứng minh vào năm 1936 (năm lễ khánh thành chùa Tân Hưng Long). Chủ nhiệm tạp chí “Pháp Âm” là ông Lê Văn Hậu, ông Trần Quỳnh làm chủ bút. Trong quá trình hành đạo, Hội Tịnh Độ Cư Sĩ đã xây dựng được khoảng trên dưới 200 ngôi chùa trên toàn miền Nam, mỗi chùa đều có phòng thuốc Nam bên cạnh.

Cuối 1946, tại Đồng Tháp Mười đã diễn ra một cuộc hội nghị về việc thành lập một tổ chức mang tên “Hội Phật Giáo Cứu Quốc” do Hòa thượng Thích Minh Nguyệt (một tu sĩ yêu nước nồng nàn, đã tòng quân kháng Pháp tại miền Nam vào giữa thế kỷ XX) đã vận động các Tu sĩ và Cư sĩ Phật tử yêu nước thành lập một hội Phật giáo nhằm chống giặc, cứu nước. Thành phần Ban Chấp hành gồm: Hòa thượng Thích Minh Nguyệt làm Hội trưởng, Hòa thượng Thích Huệ Thành làm Phó Hội trưởng, ông Đào Không Không (Tổng Thư ký), cùng các Ủy viên khác của 21 tỉnh, thành. Văn phòng Trung Ương đặt tại chùa Ô Môi, xã Mỹ Quý, Đồng Tháp Mười. Hội đã xuất bản báo “Tinh Tấn” do Hòa thượng Minh Nguyệt làm chủ nhiệm và Lê Văn Đồng làm chủ bút.

Hội Phật Học Nam Việt được phép thành lập vào ngày 19-9-1950, nhưng đến ngày 25-2-1951, Đại Hội mới chính thức được tổ chức để đi đến thành lập Hội Phật Học Nam Việt. Hội tạm thời đặt tại chùa Khánh Hưng (xóm Hòa Hưng) do Bác sĩ  Nguyễn Văn Khỏe làm Hội trưởng, Cư sĩ Mai Thọ Truyền làm Tổng Thư ký. Sau ngày Đại Hội, trụ sở Trung Ương được dời về chùa Phước Hòa (Bàn Cờ), lúc này do Pháp sư Quảng Minh làm Hội trưởng, Bác sĩ Nguyễn Văn Khỏe (Phó nhất Hội trưởng), Nguyễn Văn Thọ (Phó nhì), Mai Thọ Truyền (Tổng Thư ký). Đến 1958, Văn phòng Hội được dời về chùa Xá Lợi.[10,38]

Ngoài các tổ chức đã kể trên, tại Nam Kỳ còn có những Hội Phật Giáo khác được thành lập như:
- Hội nghị toàn thể Tăng già Sài Gòn Chợ Lớn được diễn ra tại chùa Hưng Long ngày 5-6-1951, đã quyết định thành lập Giáo Hội Tăng Già Việt Nam.
- Giáo Hội Lục Hòa Tăng Việt Nam được thành lập vào tháng 2-1952 tại chùa Long An, nhưng đến năm 1957 mới chính thức được chính quyền chấp thuận, và Đại Hội được tổ chức vào ngày 01-10-1957.
- Hội Tịnh Độ Tông Việt Nam ra đời năm 1955, do ông Đoàn Trung Còn đứng ra thành lập. Trụ sở đặt tại chùa Giác Hải (Chợ Lớn), sau đó dời về chùa Liên Tông (Sài Gòn).
- Giáo Hội Tăng Già Nguyên Thủy Việt Nam thành lập năm 1957, Hòa thượng Hộ Tông là một trong những người đầu tiên có công thành lập.
- Giáo Hội Tăng Già Khất Sĩ Việt Nam một tổ chức Phật giáo đã có mặt giữa lòng miền Nam Việt Nam vào năm 1940, do Tổ sư Minh Đăng Quang khai sáng ra hệ phái này.
- Hội Thiên Thai Thiền Giáo Tông Liên Hữu do Thiền sư Huệ Đăng sáng lập năm 1934, trụ sở  tại chùa Thiên Thai (Bà Rịa) *
- Hội Phật Giáo Liên Hữu do vị trụ trì chùa Bình An (Long Xuyên) sáng lập 1932 *.
- Hội Phật Giáo Tương Tế do vị trụ trì chùa Thiên Phước (Sóc Trăng) sáng lập vào khoảng năm 1934. *
Ba Hội này không có chi hội tại các tỉnh, không có xuất bản tạp chí và không có ảnh hưởng gì đáng kể.[3,85]

Dưới thời Mỹ ngụy, cũng như các tôn giáo khác, Giáo Hội Phật Giáo cũng bị những mưu đồ chính trị của chủ nghĩa thực dân mới chi phối và thao túng. Giáo Hội Phật Giáo tỉnh Long An trong thời gian này cũng chia ra làm nhiều hệ phái như: Giáo Hội Lục Hòa Tăng thành lập năm 1956, Giáo Hội Thiên Thai Giáo Quán Tông thành lập năm 1968, Giáo Hội Phật Giáo Khất Sĩ Việt Nam thành lập năm 1943, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất thành lập năm 1963 trong phong trào chống lại Ngô Đình Diệm v.v … Trong các hệ phái trên, Giáo Hội Lục Hòa Tăng đã quy tụ được nhiều nhà sư yêu nước chân chánh và đã góp phần đáng kể trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước của nhân dân. [5,592]

Vào ngày 31-12-1963, Phật Giáo khai mạc Đại Hội tại chùa Xá Lợi để thống nhất các giáo phái, đi đến thành lập một Giáo Hội mới mang tên “Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất”. Giáo Hội đã kết hợp được 11 hệ phái khác nhau và qui tụ được một khối tín đồ khổng lồ của các tỉnh miền Trung và miền Nam làm hậu thuẫn.

Tuy nhiên sự thống nhất này còn yếu về mặt đoàn kết và hòa hợp. Cho nên, vào năm 1967, Giáo Hội bị phân hóa làm hai khối hoạt động theo hai bản Hiến Chương khác nhau. Sự phân hóa dần dần đến chỗ trầm trọng hơn, đưa đến chống đối kịch liệt và xung đột nhau vào đêm 5-5-1970 tại Việt Nam Quốc Tự.

Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, thống nhất cả ba miền đất nước, Ban Liên Lạc Phật Giáo yêu nước TP.HCM ra đời năm 1975, rồi tiếp đến thành lập Ban Vận Động thống nhất Phật Giáo Việt Nam (1980). Giới lãnh đạo Ban Vận Động đã quyết định chọn năm 1981 là năm thống nhất Phật Giáo Việt Nam toàn diện. Thế là vào ngày 7-11-1981, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam ra đời, thống nhất 9 tổ chức Giáo hội, Giáo phái, hệ phái trong cả nước. Đây là một sự kiện trọng đại chưa từng có trong lịch sử Phật giáo nước nhà, mang lại niềm vui chung cho Tăng Ni, tín đồ theo đạo Phật. Giáo Hội Phật Giáo đã được củng cố lại cho phù hợp với yêu cầu của một tổ chức tôn giáo đích thực. Do đó, Ban Trị Sự Tỉnh Hội Phật Giáo Long An cũng được thành lập vào năm 1983 để điều hành công việc của Giáo Hội. Và tiến hành Đại Hội Phật Giáo lần thứ nhất, do Thượng tọa Thích Từ Tâm làm Trưởng Ban cùng với 24 thành viên khác. Từ đó đến nay đã trải qua 6 lần Đại Hội Đại Biểu nhiệm kỳ. Dù nhân sự, tổ chức lãnh đạo có thay đổi nhưng chư Tôn Đức Tăng Ni Ban Trị Sự Tỉnh Hội Phật Giáo Long An đã lãnh đạo Tăng Ni, Phật tử trong tỉnh góp phần xây dựng “Đạo pháp-Dân tộc-Chủ Nghĩa Xã Hội” một cách tốt đẹp.

Phật Giáo Long An là một bộ phận cấu thành của Phật Giáo Việt Nam từ năm 1981 đến nay đã hoạt động thành tựu qua 6 nhiệm kỳ:

1- Nhiệm kỳ I (1983-1987):
Ban Trị sự gồm 24 thành viên chính thức, do Thượng tọa Thích Từ Tâm làm Trưởng ban thường trực, Thượng tọa Thích Minh Tánh (Phó ban), cư sĩ Lê Phong Kiên (chánh Thư ký).
Vì là nhiệm kỳ đầu tiên nên mọi việc cần phải sắp xếp lại sao cho sinh hoạt Phật Giáo Long An cùng đi vào hệ thống lãnh đạo của Hội Đồng Trị Sự Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam và tuân thủ theo nghị quyết 297/CP qui định. Do đó, trọng tâm của Ban Trị Sự Tỉnh Hội Phật Giáo Long An lúc này là thống kê Tăng Ni, Phật tử, Tự viện và vận động Tăng Ni, Phật tử lập thủ tục gia nhập Giáo Hội. Ban Trị Sự Tỉnh Hội  Phật Giáo Long An chỉ thành tựu phần quản lý tổ chức Giáo Hội.

2- Nhiệm kỳ II (1987-1990):
Ban Trị Sự gồm có 24 thành viên chính thức. Trong đó có Hòa thượng Thích Từ Tâm (Trưởng ban), Thượng tọa Thích Minh Tánh (Phó Ban Thường trực), cư sĩ Lê Phong Kiên (Chánh thư ký) và cùng các thành viên khác. Ban Trị Sự tiếp tục củng cố tổ chức lãnh đạo và chuyên ngành Tăng Sự bắt đầu có những sinh hoạt như: hòa giải các sự sai phạm, mất đoàn kết trong Tăng Ni, Phật tử ; tạo điều kiện giới thiệu cư sĩ xuất gia ; mở hai khóa An Cư Kiết Hạ (1989-1990) cho Tăng Ni tu học ; khai Đại Giới Đàn (1989) truyền giới cho hơn 200 giới tử Tăng Ni … Các chuyên ngành khác chưa có sinh hoạt cụ thể.

3- Nhiệm kỳ III (1990-1993):
Ban Trị Sự gồm 24 thành viên chính thức, đứng đầu là Hòa thượng Thích Đạt Pháp (Trưởng ban), Thượng tọa Thích Minh Tánh (Phó ban), Đại đức Thích Minh Thiện (Chánh Thư ký) và cùng những thành viên khác.
Ban Trị Sự Phật Giáo Long An phát huy tinh thần đoàn kết các hệ phái Phật Giáo trong tỉnh, thành lập các ban chuyên ngành và hoạch định chương trình hoạt động như sau:
* Ngành Tăng sự: Thống kê Tăng Ni, Tự viện ; cấp chứng nhận Tăng Ni ; mở khóa An Cư Kiết Hạ hằng năm (mỗi năm có 4 địa điểm, hơn 250 Tăng Ni tham dự). Năm 1991 mở Đại Giới Đàn (Thiên Khánh-Thiên Phước hơn 400 giới tử Tăng Ni), giới thiệu cho phép xuất gia trên 40 trường hợp ; giới thiệu Tăng Ni chuyển nhập hộ khẩu vào tự viện cơ sở Phật Giáo (trên 10 trường hợp).
* Ngành hoằng pháp và hướng dẫn Phật tử: Dùng pháp tu Bát Quan Trai để mở Đạo Tràng thuyết giảng và hướng dẫn Phật tử tu tập chánh tín (toàn tỉnh có khoảng 10 Đạo Tràng) với hơn 500 lượt Phật tử tu tập mỗi tháng. Tổ chức thuyết giảng vào những ngày lễ truyền thống Phật giáo và tổ chức thực tập diễn giảng vào các mùa An Cư Kiết Hạ, giới thiệu Tăng Ni dự thi diễn giảng tại đồng bằng sông Cửu Long (1991- Sư Cô Tắc Thiện đạt giải nhì tại Cần Thơ ; 1993- Sa Di Quảng Dũng đạt giải ba tại Đồng Tháp).
* Ngành Giáo dục Tăng Ni: Năm 1991 vận động xin phép và mở khóa dự bị Cơ bản Phật Học (mùa ACKH) ; năm 1992 khai giảng khóa I Cơ Bản Phật Học Long An theo chương trình tu học nội trú 6 năm (có 150 Tăng Ni sinh tham dự). Tuyển giới thiệu Tăng Ni sinh dự thi vào khóa III Cao Cấp Phật Học (nay là Học Viện Phật Giáo Việt Nam) tại TP.HCM đạt 08/10 Tăng Ni sinh dự thi.

4- Nhiệm kỳ IV (1993-1997):
Ban Trị Sự có 29 thành viên chính thức, đảm nhiệm 32 chức vụ, gồm: Hòa thượng Thích Đạt Pháp (Trưởng ban thường trực), Thượng tọa Thích Minh Tánh (Phó ban), Đại đức Thích Minh Thiện (Chánh thư ký).
Với tinh thần “Đoàn kết hòa hợp-Trưởng dưỡng đạo tâm-Trang nghiêm Giáo Hội” Tăng Ni Phật tử tỉnh Long An cùng Ban Trị Sự Tỉnh Hội Phật Giáo Long An đã đẩy mạnh nhiều Phật sự chuyên ngành đạt kết quả tốt đẹp như:
* Ngành Tăng sự: Hằng năm có từ 04 đến 06 điểm An Cư Kiết Hạ với trên 300 Tăng Ni tham dự, kiến nghị Trung Ương cấp hàng trăm chứng nhận Tăng Ni, Chứng Điệp thọ giới, tổ chức hai Đại Giới Đàn (1994-1996) với trên 1.000 Tăng Ni  trong và ngoài tỉnh thọ giới. Cấp quyết định bổ nhiệm trụ trì cho hơn 10 trường hợp. Chứng hồ sơ xuất gia cho trên 50 trường hợp …
* Ngành hoằng pháp: Mở thêm nhiều Đạo Tràng tu tập Bát Quan Trai đến các huyện vùng sâu vùng xa, thuyết giảng ngày lễ truyền thống. Số lượng người quy y thọ giới, nghe pháp mỗi năm tăng lên cả nghìn người. Đặc biệt hằng năm vào các ngày Đại Lễ Phật Đản, Đại Lễ Vu Lan, thường trực Ban Trị Sự Tỉnh Hội Phật Giáo và các Ban Đại Diện Phật Giáo huyện, thị có tổ chức văn nghệ trọng thể.
* Ngành Giáo dục Tăng Ni: Chương trình giáo dục Tăng Ni của trường Cơ Bản Phật Học Long An được ổn định về nhiều mặt giảng dạy, đời sống tu tập. Năm 1995 mở hai lớp Sơ Cấp Phật Học nội trú, Tăng sinh tu học tại chùa Phước Bảo, Ni sinh tu học tại Ni viện Long Hoa. Giới thiệu nhiều Tăng Ni sinh dự tuyển vào khóa IV Học Viện Phật Giáo Việt Nam tại TP.HCM (tỉ lệ đạt 16/23), in ấn nhiều tài liệu tu học, giảng dạy cho Tăng Ni sinh.
* Ngành từ thiện xã hội: Phát huy hạnh nguyện Từ Bi của người con Phật trong công tác cứu trợ thiên tai lũ lụt, xóa đói giảm nghèo, khám trị bệnh miễn phí, trợ cấp học sinh nghèo vùng sâu, vùng xa … tổng trị giá trên 7 tỉ đồng.

5- Nhiệm kỳ V (1997-2002):
Phật Giáo Long An ngày càng thăng tiến trên con đường hoạt động phục vụ Đạo Pháp-Dân Tộc. Ban Trị Sự đã hoạt động phát triển thêm một số chuyên ngành mới và tăng cường tiếp nhận nhân lực hoạt động. Nhiệm kỳ V có 30 thành viên chính thức, trong đó có 11 vị trong Ban Thường Trực đảm nhiệm 17 chức vụ. Người lãnh đạo đứng đầu là Hòa thượng Thích Đạt Pháp (Trưởng ban), Đại đức Thích Thiện Huệ (Phó ban), Đại đức Thích Minh Thiện (Chánh Thư ký), hợp cùng các thành viên khác.
Trong nhiệm kỳ này Ban Trị sự Tỉnh Hội Phật Giáo Long An đã phát huy những thành quả của nhiệm kỳ IV một cách tốt đẹp. Trên tinh thần “Đạo Pháp-Dân Tộc-Chủ Nghĩa Xã Hội”, Ban Trị Sự dưới sự chỉ đạo của thường trực Hội Đồng Trị Sự Trung Ương Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam, sự hỗ trợ của các cấp chính quyền và sự hửơng ứng của Tăng Ni, Phật tử đã giúp Phật Giáo Long An vượt qua mọi khó khăn trở ngại nhất định, đạt được nhiều kết quả khả quan như sau:
* Ngành Tăng sự: Toàn tỉnh có 284 tự viện, tịnh xá, niệm Phật đường. Giới thiệu tấn phong giáo phẩm cho 05 Hòa Thượng, 04 Ni Trưởng, 26 Thượng Tọa, 10 Ni Sư. Tổ chức Đại Giới Đàn Liễu Thiền (1999) có 787 giới tử và Đại Giới Đàn Khánh Phước (2002) có 710 giới tử, có trên 650 vị phát nguyện thọ Bồ Tát giới. Với 06 điểm An Cư Kiết Hạ và 02 điểm An Cư tại chỗ, có trên 450 vị đăng ký An Cư Kiết Hạ. Mở 03 khóa bồi dưỡng kiến thức trụ trì, 04 khóa bồi dưỡng kỹ năng Phật sự vào các năm 1999, 2000, 2001, 2002, tổng số có trên 500 lượt Tăng Ni tham dự. Ban Trị Sự cấp quyết định bổ nhiệm trụ trì cho 06 trường hợp,  cấp giấy chứng nhận Tăng Ni cho 260 vị và đổi giấy chứng nhận Tăng Ni mới cho 180 vị, xin cấp 210 sổ chứng điệp An Cư Kiết Hạ, chấp thuận cho 159 Phật tử xuất gia tu học, lập thủ tục gia nhập Giáo Hội cho 03 tự viện …
* Ngành hoằng pháp: Với phương châm “Hoằng dương chánh pháp-Lợi lạc quần sanh”, 16 thành viên Ban Hoằng pháp phụ trách 110 thời giảng một tháng, với hơn 3.200 lượt người tham dự. Giảng hơn 700 thời pháp cho 07 điểm An Cư Kiết Hạ với 315.000 lượt Tăng Ni thính pháp ; 130 thời pháp nhân lễ Phật Đản, Vu Lan với 10.000 lượt người thính pháp một năm. Giới thiệu Tăng Ni sinh dự học lớp Giảng sư Trung Ương ; 5 vị học Cao Cấp giảng sư, 17 vị Trung Cấp giảng sư.
* Ngành Giáo dục: Qua 10 năm giáo dục nhằm mục đích “đào tạo Tăng tài”, trường Trung Cấp Phật Học Long An đã tổ chức Lễ Tốt Nghiệp cho hai khóa:
Khóa I: 143 Tăng Ni sinh (50 Tăng, 93 Ni).
Khóa II: 167 Tăng Ni sinh (65 Tăng, 102 Ni).
Trong thời gian này, tiếp tục đào tạo 92 Tăng Ni sinh theo học lớp Sơ Cấp Phật học tại chùa Thiên Phước, Phước Bảo, Long Hoa. Giới thiệu 61 Tăng Ni sinh theo học tại các lớp Phật Học: CaoĐẳng (Cần thơ và Thành phố Hồ Chí Minh), lớp phiên dịch Huệ Quang, 37 Tăng Ni sinh trúng tuyển  vào hai khóa IV, V của Học Viện Phật Giáo Việt Nam tại TP.HCM, giới thiệu 03 Tăng Ni sinh du học tại Ấn Độ và Trung Quốc.
* Ngành hướng dẫn Phật tử: Nhằm hướng dẫn tín đồ trở thành công dân tốt cho gia đình và xã hội, sống chánh tín, gương mẫu, góp phần hộ trì Tam Bảo, Ban Trị Sự đã thành lập 55 Đạo Tràng tu tập Bát Quan Trai, trung bình mỗi tháng có 3.000 lượt Phật tử tham dự. Ngày 17-11 năm Kỷ Mão (1999) PHÁP HỘI TỊNH ĐỘ LONG AN được thành lập tại chùa Phước Bảo, xã Thạnh Đức-Bến Lức-Long An - khóa đầu tiên dưới sự tham gia của hơn 300 Phật tử tu học. Đây là một Pháp Hội chuyên tu “Niệm Phật”, sau hơn hai năm phát triển, Pháp Hội Tịnh Độ Long An quy tụ được hơn 400 người chia đều cho 15 chúng. Mở 06 điểm giảng ngày Sám hối, trung bình mỗi tháng có 450 lượt Phật tử tham dự. Duy trì 02 Gia Đình Phật tử, trung bình có 60 đoàn sinh sinh hoạt hàng tuần. Hiện nay có 05 Đạo Tràng tu Tịnh Độ, trung bình mỗi tháng có 420 lượt người tham dự.
* Ngành Văn hóa: Chưa phát huy hết chức năng chính, chỉ thực hiện một số điểm như: xuất bản 2 quyển sách do Ni Sư Tuệ Đăng dịch (Cương Yếu về Giới Luật và Phật Giáo Thánh Điển). Tiếp tục sưu khảo “Lược sử những ngôi chùa Phật Giáo Long An” và “Danh mục Tự Viện Long An ”. Biên tập Đặc San “20 năm thành lập Ban Trị Sự Tỉnh Hội Phật Giáo Long An Cư Kiết Hạ”, Kỷ Yếu “10 năm đào tạo của ngành Giáo dục”. Kết hợp với đoàn cải lương Thanh Nga biểu diễn vở “Lịch sử Đức Phật Thích Ca” tại rạp hát Long An gây quỹ cho học sinh nghèo được 5 triệu đồng.
Ban Trị Sự Tỉnh Hội Phật giáo tổ chức buổi Hội Thảo “Kỷ niệm 20 năm thành lập và phát triển của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam” với hơn 70 đại biểu tham dự.
* Ban Nghi lễ: Bảo lưu nghi thức truyền thống Phật giáo hài hòa với lễ nghi dân tộc . Thể hiện tinh thần Phật giáo tích cực xây dựng xã hội, làm đẹp cuộc đời và đem an vui đến cho mọi người.
* Ban Từ thiện xã hội: Tổ chức cứu trợ lũ lụt, khám bệnh miễn phí, phát quà đồng bào nghèo, gia đình chính sách, thăm bà mẹ Việt Nam anh hùng v.v… tổng trị giá 16 tỷ 81 triệu đồng.

6- Nhiệm kỳ VI (2002-2007):
Ban Trị Sự Tỉnh Hội Phật giáo Long An nhiệm kỳ VI bao gồm 37 thành viên chính thức. Trong đó 13 vị trong Ban Thường trực đảm nhiệm 19 chức vụ. Thường Trực Ban Trị Sự Tỉnh Hội gồm có: Thượng tọa Thích Thiện Thanh (Trưởng ban) ; Thượng tọa Thích Minh Thiện (Phó ban kiêm UV Hoằng Pháp) ; Thượng tọa Thích Thiện Huệ (Phó ban kiêm UV Tăng Sự) ; Thượng tọa Thích Tắc Tựu (Phó ban kiêm UV Giáo dục Tăng Ni) ; Đại đức Thích Quảng Tâm (Chánh thư ký kiêm UV từ thiện xã hội) v.v…
Phương hướng hoạt động Phật sự của Ban Trị Sự Tỉnh Hội nhiệm kỳ VI về công tác tổ chức gồm có các chuyên ngành như sau:
* Tăng sự: Tiếp tục thống kê Tăng Ni tự viện, giới phẩm, giáo phẩm, độ tuổi, trình độ Phật học, thế học của Tăng Ni v.v… tiếp tục phối hợp với Ban Tôn giáo và Sở Địa Chính tỉnh Long An để đề nghị cấp giấy chủ quyền sử dụng đất cho  các cơ sở Phật giáo. Lập kế hoạch mở khóa An Cư Kiết Hạ hàng năm. Lập kế hoạch tổ chức Đại Giới Đàn CHÁNH TÂM (2005) cho nhiệm kỳ. Tiếp tục bổ nhiệm trụ trì cho các cơ sở khuyết trụ trì và giới thiệu Tăng Ni nhập hộ khẩu vào các tự viện.
* Giáo dục Tăng Ni: Lập thủ tục mở khóa III Trung Cấp Phật Học theo chương trình tu học nội trú. Thời gian 3 tháng ACKH, các Tăng Ni sinh được tập trung vào chương trình ACKH. Tìm phương hướng để mở khóa đào tạo chuyên môn cho quí vị phụ trách văn phòng, phụ trách giáo thọ trường Trung Cấp Phật Học Long An. Khuyến khích giáo thọ soạn giáo án tốt để góp phần cùng Ban Giáo dục Tăng Ni Trung Ương hoàn thành bộ giáo án chung cho cả nước. Kết hợp với Ban Trị Sự Tỉnh Tiền Giang, và Tỉnh Bến Tre để bàn kế hoạch lập thành 3 cấp trường: Sơ cấp, Trung cấp, Cao đẳng liên tỉnh. Lập kế hoạch để bố trí công tác Phật sự cho các Tăng Ni đã tốt nghiệp các khóa Học Viện Phật giáo, Cao đẳng Phật học, Trung Cấp Phật Học. Tiếp tục giới thiệu Tăng Ni sinh theo học các chương trình Phật học trong và ngoài nước.
* Hướng dẫn Phật tử: Kết hợp với Ban Hoằng pháp để phát triển các đạo tràng tu tập. Lập chuyên ban Gia đình Phật tử để có cơ sở xin phép công nhận GĐPT tại các tự viện đã có sinh hoạt, đồng thời mở khóa huynh trưởng cho các GĐPT. Ban hướng dẫn GĐPT có kế hoạch hỗ trợ cho các tự viện tổ chức lễ qui y đúng pháp và cấp thẻ tín đồ cho Phật tử sau khi đã học xong 10 bài Phật học Phổ thông khóa thứ I.
* Ngành hoằng pháp: Tổ chức tập huấn hoặc hội thảo chuyên ngành hoằng pháp. Phát triển nhân sự giảng dạy cho các nhân sự vùng sâu, vùng xa, bằng cách mở khóa thực tập diễn giảng vào mùa An Cư Kiết Hạ. Lập kế hoạch mời các Tăng Ni đã tốt nghiệp Học Viện Phật Giáo Việt Nam và các khóa đào tạo giảng sư do Ban Hoằng Pháp Trung Ương tổ chức, tham gia vào Ban Hoằng pháp tỉnh Long An để phục vụ thuyết giảng cho các đạo tràng tu tập trong toàn tỉnh.
* Ngành Văn hóa: Tiếp tục vận động Tăng Ni đọc và phổ biến ấn phẩm Văn hóa Phật Giáo, báo Giác Ngộ, nguyệt san, đặc san, băng từ thuyết giảng giáo lý v.v… Tiếp tục biên soạn quyển “Danh mục tự viện Long An” và quyển “Lược sử những ngôi chùa Phật giáo Long An”. Tiếp tục hoàn thành “Kỷ yếu 10 năm hoạt động giáo dục Tăng Ni của trường Trung Cấp Phật học Long An”. Vận động hỗ trợ các cơ sở tự viện vùng sâu, vùng xa lập tủ kinh sách.
* Từ thiện xã hội: Thành lập các Tiểu ban Từ thiện xã hội tại các đơn vị huyện, thị Phật Giáo. Phát triển các phòng thuốc trị bệnh miễn phí tại các tự viện. Chú ý về hướng nghiệp, bảo trợ học sinh nghèo, cứu trợ thiên tai v.v…
Ngoài ra còn có công tác của các ban Đại Diện Phật giáo huyện, thị trong tỉnh như: thừa hành và ủng hộ mọi công tác Phật sự do Thường Trực Ban Trị
Sự THPG đề ra. Thường quan tâm nhắc nhở , hướng dẫn các tự viện Tăng Ni, Phật tử sinh hoạt tín ngưỡng, sinh hoạt Phật sự đúng theo Hiến Chương Giáo Hội và nội quy Tăng sự, cũng như Hiến Pháp và Pháp  Luật nhà nước qui định v.v…

Tóm lại, trong công tác lãnh đạo Giáo Hội qua các nhiệm kỳ, toàn Ban Trị Sự Tỉnh Hội Phật Giáo Long An luôn tạo điều kiện để được Tăng Ni, Phật tử hưởng ứng, chánh quyền và ngành hữu quan hỗ trợ, cảm thông. Khi cần thiết thì Tăng Ni, Phật tử cũng tích cực tham gia vào các tổ chức xã hội như: Hội Đồng Nhân Dân, Mặt Trận Tổ Quốc, Hội Khuyến Học, Hội Chữ Thập Đỏ, Hội Phụ Nữ ….

Qua 6 nhiệm kỳ lãnh đạo và phát triển Phật sự của Ban Trị Sự Tỉnh Hội Phật Giáo Long An từ năm 1983 đến nay, đã làm cho Phật Giáo trong tỉnh từng bước phát triển và đóng góp vào Phật sự chung cho Phật Giáo cả nước một cách đáng kể, đó là thành quả và công đức chung của toàn thể Tăng Ni, Phật tử tỉnh Long An.
 
PHẦN III :  KẾT LUẬN
Sự ra đời của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam năm 1981 là bước chuyển tiếp thống nhất các tổ chức Phật giáo trước đó, kế thừa dòng sinh mệnh Phật Giáo truyền thống, phát huy nền Phật học Việt Nam. Đây là một sự kiện trong đại chưa từng có trong lịch sử Phật giáo nước nhà, mang lại niềm vui chung cho toàn thể Tăng Ni, tín đồ theo đạo Phật. Hòa cùng hướng phát triển của Phật giáo trong giai đoạn mới, Tỉnh Hội Phật Giáo Long An cũng được khai sinh vào năm 1983, với sự tham gia nhiệt tình của chư vị Tôn túc mang tâm nguyện, hoài bão phục vụ chúng sanh.

Dòng Phật Giáo Long An được trôi chảy như thế nào qua mảnh đất Tỉnh Hội Phật Giáo Long An đang là một tiến trình tạo thành dáng đứng của Phật Giáo Long An trong giai đoạn mới tạc vào lịch sử.

PHẬT GIÁO LONG AN, chỉ bốn chữ ngắn gọn ấy thôi nhưng hàm chứa tất cả mọi Phật sự, mọi khuôn mặt, mọi tấm lòng phụng sự Đạo pháp-Dân tộc không biết mệt mỏi của những người đệ tử Phật tại tỉnh nhà, bất luận là người xuất gia hay tại gia, kể từ khi Phật giáo được thống nhất chung cả ba miền đất nước vào năm 1981 đến nay.

Long An tiếp nhận đạo Phật gần ba thế kỷ nay, trong quá trình đó mỗi vị Tổ, mỗi vị Thầy đều có phương thức hành đạo khác nhau. Thành quả này Phật giáo hiện nay còn lưu giữ khoảng 290 ngôi chùa lớn, nhỏ trong toàn tỉnh, với khoảng gần 2.000 Tăng Ni và lực lượng tín đồ theo đạo Phật có khoảng 100.000 người. Nhờ sự lãnh đạo nhiệt tâm, nhiệt tình của một Ban Trị Sự Tỉnh Hội gồm những bậc Tôn túc đạo cao đức trọng như các bậc Trưởng lão: Hòa thượng Thích Từ Tâm, Hòa thượng Thích Minh Tánh, Hòa thượng Thích Đạt Pháp, Hòa thượng Thích Đạt Đồng … Với tấm lòng thiết tha vì đạo pháp, quí Ngài trong Ban Trị Sự Tỉnh Hội cùng chư Tôn đức của các Ban Đại Diện Phật Giáo huyện, thị trong Tỉnh đã không quản ngại gian lao, chẳng nệ niên cao lạp trưởng, nơi nào Phật pháp cần, chúng sanh cần đều có quí Ngài quan lâm đến để chứng minh, để động viên nhắc nhở, sách tấn hàng hậu học. Nhờ đó đã tạo được mối đoàn kết thâm tình tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau giữa các Tự Viện trong Tỉnh. Nhờ có sự “hòa hợp đoàn kết” mà sinh hoạt của các Ban, Ngành trong Tỉnh Hội Phật Giáo Long An từ Ban Tăng Sự, Ban Giáo dục Tăng Ni, Ban Hoằng Pháp, Ban Hướng dẫn Phật tử, Ban Văn Hóa, cho đến Ban Nghi Lễ, Ban Từ Thiện Xã Hội đều hoạt động rất đồng bộ và luôn hỗ trợ cho nhau trong các Phật sự.

Từ năm 1985 đến nay, các Khóa An Cư Kiết Hạ đã lần lượt được khai mở hàng năm. Mỗi năm, Phật Giáo Long An có 6 điểm An Cư Kiết Hạ, tại các điểm Hạ trường: Thiên Khánh, Thiên Phước, Phước Bảo, Long Hoa, Kim Cang và Hòa Bình.

Trường Trung Cấp Phật Học Long An cũng lần lượt khai giảng các lớp Sơ Cấp và Trung Cấp Phật học tại các chùa: Thiên Khánh, Thiên Phước, Long Hoa và Phước Bảo, đã đào tạo được 2 khóa Sơ Cấp và 3 khóa Trung Cấp Phật học với hơn 400 Tăng Ni sinh thực tu, thực học. Ban Giám Hiệu ngày càng tổ chức hoàn thiện chương trình học cho Tăng Ni sinh nên số lượng Tăng Ni sinh tu học nội trú tại trường mỗi năm, mỗi khóa học càng gia tăng đông hơn và chất lượng cao hơn, và thu hút các Tăng Ni sinh ngoài tỉnh cùng về tu học.

Phật Giáo Long An cũng thường xuyên khai mở các Đại Giới Đàn tại Tỉnh nhà để trao truyền giới pháp cho hàng ngàn Tăng Ni, Phật tử trong và ngoài tỉnh, ngõ hầu nối truyền Đạo mạch và giúp Phật pháp được vĩnh cửu xương minh, đồng thời thắp sáng ngọn đuốc trí tuệ trong sự nghiệp “truyền đăng tục diệm, tiếp dẫn hậu lai, báo Phật ân đức”. Toàn tỉnh Long An hiện có 55 đạo tràng tu tập Bát Quan Trai và 5 đạo tràng Tịnh Độ chuyên tu pháp môn “Niệm Phật” để giúp cho Phật tử có điều kiện tham gia tu học.

Ngoài ra hệ phái Khất Sĩ cũng đã góp phần không nhỏ vào sự phát triển của Phật Giáo Long An. Các Tịnh xá trong tỉnh, tiêu biểu nhất là tịnh xá NgọcTâm (do Ni Trưởng Thích Nữ Minh Liên làm Viện chủ) đã cùng chư Tôn đức Ni hoạt động rất tích cực trong mọi Phật sự tại tỉnh nhà, tạo nên mối tương quan mật thiết, đoàn kết nhất trí cao giữa các hệ phái trong tỉnh.

Về hoạt động Phật sự, Tỉnh Hội Phật Giáo Long An đang trên đà phát triển. Tuy nhiên, sự phát triển trên các địa bàn huyện, thị vẫn chưa đồng đều, có những nơi thành lập được nhiều đạo tràng tu tập, nhiều Tăng Ni và Phật tử, cũng có nhiều nơi rất ít Tăng Ni, Phật tử.

Về hoạt động chuyên ngành, với phương châm: “Đạo pháp-Dân tộc-Chủ Nghĩa Xã Hội”, Ban Trị Sự Tỉnh Hội đã từng bước đi vào hoạt động, phát triển nhiều chuyên ngành, đạt nhiều thành quả tốt đẹp cho Phật Giáo tỉnh nhà, mạnh mẽ nhất hiện nay là ngành Giáo Dục và ngành Hoằng Pháp. Con đường Giáo dục hiện nay đang được mở rộng thênh thang. Vấn đề “tre tàn măng chưa mọc” không còn là mối lo của Phật Giáo trước đây, mà mối lo hiện nay là măng mọc như thế nào, xanh tươi hay èo uột, có khả năng truyền trì đạo mạch hay không ? Đó là vấn đề.

Tất cả những thành quả đó, những cố gắng, những nhiệt tình đó đã góp phần giúp Phật Giáo Long An ngày càng phát triển mạnh. Với sự giúp đỡ của các cấp Chính quyền, Ban, Ngành, Đoàn thể, Ban Trị Sự Tỉnh Hội Phật Giáo Long An cùng chư Tôn đức trong Ban Đại Diện Phật giáo các huyện, thị đã góp phần không nhỏ vào việc chăm sóc, vun bón cho vườn hoa Đạo Pháp tỉnh nhà ngày càng vươn cao hơn nữa và lan tỏa khắp nơi trong tỉnh. Sự tồn tại của Tỉnh Hội Phật giáo Long An chắc chắn gắn liền với vận mệnh của toàn dân Long An như ông Bandaranaike-Cựu Thủ Tướng SriLanKa đã nói: “Phật Giáo sẽ trường tồn như mặt trời, mặt trăng và loài người hiện hữu trên mặt đất; do đó, Phật Giáo là tôn giáo của con người , của nhân loại cũng như của tất cả”.

“Phật Giáo là một hệ thống huấn luyện tinh thần hoàn hảo và hữu hiệu nhất đã được trình bày trước thế giới”.
                                                                                                                                                                                                                        
(Dudley Wright)

THƯ MỤC THAM KHẢO

[1] Toan Ánh- Nếp Cũ, “Tín ngưỡng Việt Nam”, quyển thượng, Nhà xuất Bản TP.HCM, 1992.
[2] Nguyễn Hiền Đức, Lịch sử Phật giáo đàng trong, NXB Thành phố.
[3] Nguyễn Lang, Việt Nam Phật giáo sử luận, Tập III, NXB Văn học- Hà Nội, 1994.
[4] Trần Hồng Liên, Đạo Phật trong cộng đồng người Việt ở Nam Bộ – Việt Nam từ thế kỷ XVII đến 1975, NXB KHXH, 1995.
[5] Thạch Phương – Lưu Quang Tuyến, Địa chí Long An, NXB Long An và NXB KHXH, 1989.
[6] Vân Thanh, Lược Khảo Phật giáo sử Việt Nam, Sài Gòn, 1974.
[7] Nguyễn Khắc Thuần, Đại cương lịch sử Văn hóa Việt Nam, Tập II, NXB Giáo Dục, 2002.
[8] Nguyễn Khắc Thuần, Việt Nam tư liệu tóm tắt, NXB Trẻ, 2000.
[9] Báo Giác Ngộ, số 193 ngày 9-10-2003, từ số 200-205 (năm 2004).
[10] Kỷ yếu 20 năm sinh hoạt của Phật Giáo Long An, 2002.
[11] Phật Giáo dưới mắt các nhà Trí Thức, Thích Tâm Quang dịch, Thành Hội Phật Giáo TP.HCM, Phật lịch 2540-1997.
[12] Tạp chí Từ Quang của Hội Phật Học Nam Việt, số 1, ngày 13-5-1651.
[13] Văn Kiện đại hội đại biểu Phật Giáo Long An, nhiệm kỳ VI.
[14] Việt Nam – Điểm đến của thiên niên kỷ mới (đến Long An), NXB Thông Tấn.

Nguồn: dentutraitim.com

Các tin khác
Trang

Giảng sư

Nghe nhiều

Kết nối

Lịch

THỐNG KÊ

Đang truy cập 93
Hôm nay 1194
Hôm qua 5559
Trong tuần 36784
Trong tháng 83548
Tổng truy cập 2029617
hosting gia re , web gia re tron goi , thiet ke web tron goi tai ho chi minh, binh duong, vung tau, ha noi, ca nuoc , thiet ke web tron goi gia re