chuabuuchau.com.vn,chuabuuchau, chua buu chau, chùa bửu châu, chua buu chau cu chi

10. Nguyện lớn thứ chín

“Ta nguyện đời sau, khi chứng được đạo quả Bồ Đề thì khiến cho những chúng hữu tình ra khỏi vòng lưới ma nghiệp chướng, được giải thoát tất cả sự ràng buộc của ngoại đạo. Nếu có những kẻ sa vào rừng ác kiến, ta nhiếp dẫn họ trở về với chánh kiến và dần dần họ tu tập theo các hạnh Bồ Tát, đặng mau chứng đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác”.

Đức Phật Dược Sư Lưu Ly Quang Vương nguyện rằng khi Ngài thành Phật rồi sẽ khiến cho các chúng sanh ra khỏi vòng lưới ma nghiệp chướng. Quý Phật tử để ý, khi chúng ta còn ở ngoài đời, chưa phải là Phật tử hay người xuất gia, chưa phát nguyện tu tập thì giống như đang đi thuận theo dòng nước, nhưng khi chúng ta phát tâm quy y Tam Bảo, hiến trọn vẹn đời mình cho Tam Bảo, gia công tu học thì giống như đi ngược dòng nước. Mà đi ngược dòng nước thì những nghiệp chướng lâu xa chúng ta đã tạo trong thời quá khứ hay ngay trong đời này sẽ tìm đến, tạo thành những chướng duyên cản trở mình trên bước đường tu hành. Giống như mình đi vay ngân hàng, đến thời điểm trả nợ, ngân hàng đòi tiền thì mình không thể nào trốn tránh được vì ngân hàng có bằng chứng, giấy tờ hẳn hoi, lúc đó mình phải trả cả vốn lẫn lãi. Cũng vậy, nhân ngày xưa mình đã gieo khi quả chín mùi nó sẽ rụng, nhưng vì cặp mắt phàm phu của mình không thấy nên oán trời, trách đất mà không hiểu rằng thật ra, chúng ta đã từng vay nợ rất nhiều nên hôm nay tu học thì sẽ gặp ma chướng.

Do đó, nói về nghiệp ma, Thiền sư Tổ Nguyên nói: “Người tu hành nếu không biện biệt được mười loại ma thì tu không những không đạt được kết quả mà còn bị lui sụt tâm đạo”. Trong Kinh Lăng Nghiêm, Đức Phật dạy những người tu tập theo pháp của Phật nếu không khéo sẽ dễ bị vướng vào lưới của ma. Khi vướng vào rồi, cho dù chúng ta tu nhiều đời nhiều kiếp thì vẫn bị những chướng duyên cản trở. Nếu không khéo biện biệt cho rõ thì rất dễ bị dính mắc. Sau đây là mười nghiệp ma:

1/ MA TÚC OAN:

Ma túc oan còn gọi là nghiệp chướng từ những kiếp lâu xa cho đến đời này. Bởi từ nhiều kiếp đến nay, sanh ra trong kiếp phàm phu, lầm tạo những nghiệp bất trung, bất hiếu, bất nhân, bất nghĩa. Sát, đạo, dâm, vọng, tham, sân, si, ái kết chặt nhiều oan gia. Đời nay, chúng ta muốn học đại đạo lại gặp gỡ nó, bị nó xâm nhiễu chẳng an, hay làm chướng việc thánh đạo, chẳng được thành tựu. Chúng ta phải sanh hổ thẹn, chí thành sám hối, tha thiết cầu Tam Bảo buông sức thần gia hộ khiến cho tất cả những nghiệp từ trước tự tiêu diệt, tất cả oan gia tự lui hay tan mất. Lại phát bốn nguyện lớn làm lợi tất cả chúng sanh, mau được quả vô lậu, chứng Vô thượng Bồ đề.

Ở đây, Thiền sư Tổ Nguyên nói, trong thời quá khứ hoặc hiện tại, chúng ta sát sanh, trộm cướp, tà dâm, nói dối, uống rượu, tạo rất nhiều ác nghiệp nên hôm nay học đạo thì những nghiệp và túc duyên trong thời quá khứ hoặc hiện tại đến đòi.

Trong Quan Âm Linh Cảm Lục có câu chuyện do một vị Hòa thượng chứng kiến và kể lại. Vào đời nhà Thanh, có vị thương nhân tên Trình Bá Lân ở huyện An Huy tỉnh Giang Tô. Ông rất tin tưởng Bồ Tát Quán Thế Âm nên tuy công việc kinh doanh bận rộn nhưng hàng đêm ông vẫn thành kính hướng về tôn tượng Bồ Tát Quán Thế Âm đảnh lễ tha thiết. Mùa xuân năm Ất Dậu, binh lính hoảng loạn tiến về thành Dương Châu, lúc bấy giờ có những cuộc khởi nghĩa rất lớn, trong sự nhiễu loạn đó có rất nhiều người chết. Cho nên hàng đêm, ông đều hướng về tôn tượng Bồ Tát Quán Thế Âm đảnh lễ và xin Bồ Tát gia hộ cho gia đình ông qua những tại nạn này. Một hôm, ông nằm mộng thấy Bồ Tát Quán Thế Âm hiện lên và nói: “Toàn gia đình con hết thảy mười bảy người, trong mười bảy người này không có người nào nợ nần với tên tướng cướp này cả, chỉ có con trong thời quá khứ dùng một thanh đao chém hai mươi sáu nhát. Người này tên là Vương Ma Tử. Sáng hôm nay, người này chắc chắn sẽ đến đòi mạng con. Con hãy gọi mười bảy người trong gia đình tạm lánh qua bên nhà Đông, còn con chắc chắn sẽ bị đền mạng”. Sau khi tỉnh mộng, ông vẫn tha thiết, thành tâm cung kính nhờ sức gia bị của Bồ Tát. Khoảng ba giờ sáng, ông mệt quá nên ngủ thiếp đi thì lại nằm mộng thấy Bồ Tát hiện lên và nói: “Tuy nhiên, sáng hôm nay, con cứ thành tâm làm một bữa tiệc thật lớn dọn ra giữa nhà. Người đó đến, con hãy mời ăn và những chuyện oan gia nhiều kiếp có thể hóa giải”. Sáng hôm sau, Trình Bá Lân kêu mười bảy người trong gia đình tạm lánh qua nhà phía Đông và mở cửa ngồi giữa nhà sẵn sàng đợi. Quả nhiên sáng hôm ấy, có một người tướng cướp ở phương Bắc (tức là giặc Phiên), tay xách cây đại long đao đi ngang nhà, tự nhiên có một điều gì đó rất lạ thường và xông vào nhà. Vừa gặp nhau thì Trình Bá Lân hỏi: “Anh có phải Vương Ma Tử không?”. Người này rất ngạc nhiên, nói rằng mình từ phương bắc xa xôi xuống, đến tỉnh Giang Tô này chưa có ai biết tên và cũng không ai biết hình dáng mình mà sao người này lại biết. Lúc đó Trình Bá Lân mới kể là hàng ngày ông thường đảnh lễ tôn tượng Bồ Tát Quán Thế Âm nên tối hôm trước được Bồ Tát báo mộng, nói rằng sáng nay có người tên Vương Ma Tử từ phương bắc xuống và ông không thể tránh được món nợ máu này vì trong thời quá khứ đã từng chém người đó hai mươi sáu nhát. Ông nói thấy cuộc đời này ân oán trả hoài không dứt nên hôm nay sẵn sàng chịu chết. Vương Ma Tử nghe xong, nghĩ rằng nếu chém người này hai mươi sáu nhát đao thì mai kia người này cũng sẽ trở lại tìm mình để trả lại, ân oán như vậy biết bao giờ cho dứt. Vì vậy, Vương Ma Tử xoay sống đao lại rồi cứa nhẹ vào cổ Trình Bá Lân hai mươi sáu nhát. Sau khi cứa xong, hai người kết nghĩa anh em. Về sau, Vương Ma Tử bỏ nghề trộm cướp, trở thành người lương thiện, luôn khuyên người khác làm các việc thiện pháp vì nhân quả hoàn toàn có thật trong cuộc đời này.

Qua câu chuyện trên, quý Phật tử thấy rõ là trong quá khứ, chúng ta đã từng gieo rắc rất nhiều những mầm mống đau khổ cho người khác thì bây giờ, nhờ tu tập nên chuyển hóa quả báo từ nặng thành nhẹ, từ nhẹ thành không. Nếu ông Trình Bá Lân này không biết kính tin Tam Bảo, không cung kính đảnh lễ, thành tâm sám hối Bồ Tát Quán Thế Âm thì chắc chắn đã nhận hai mươi sáu nhát đao của Vương Ma Tử rồi.

Một câu chuyện khác trong Thiền thoại: Thiền sư Thông Tuệ lúc còn làm Sa di được Thầy sai đi xách nước. Trong lúc đang xách nước thì gặp một người bán cá đi ngang qua, có một con cá lớn nhảy vào thùng nước. Lúc đó, vì là một Sa di còn nhỏ không biết gì nên Ngài tiện tay đập chết con cá. Sau khi lớn lên và tu học chứng đạo, một hôm Ngài dặn Tăng chúng tránh đi chỗ khác, còn Ngài ở lại trả một món nợ cách đây nhiều năm. Tăng chúng hỏi thì Ngài nói: “Đến trưa thì mọi chuyện sẽ rõ”. Đến trưa, bất ngờ có vị tướng tên Trương Lăng đi ngang qua chùa, không biết tại sao tự nhiên bất ngờ mặt ông đỏ bừng, muốn xách đao xông thẳng vào chùa tìm vị trụ trì để chém. Vừa bước vào cửa thì Thiền sư Thông Tuệ nói:

- Ta đợi ông đã ba mươi năm rồi, giờ này ông mới đến.

Trương Lăng rất đỗi ngạc nhiên, nói rằng:

- Con với thầy chưa từng quen biết và cũng chưa từng gặp mặt, mà không hiểu sao tâm thức của con lúc nào cũng ám ảnh phải đến ngôi chùa này và tìm thầy để giết.

Ông Trương Lăng này là ai quý Phật tử biết không? Ba mươi năm về trước, Trương Lăng chính là con cá mà Thiền sư Thông Tuệ lúc còn là Sa di tiện tay đập chết. Trương Lăng cũng là một Phật tử chân chính của tông Tịnh độ, sau khi nghe Thiền sư Thông Tuệ kể lại câu chuyện ngày trước thì thấy rằng oan oan tương báo không có ngày dứt nên ông liền đứng mà vãng sanh Cực Lạc. Thiền sư Thông Tuệ thấy vậy thì họp đại chúng lại, lấy giấy và viết một bài kệ:

Ba mươi năm trôi dạt
Bao phen đổi tướng hình
Nào ngờ hôm nay gặp
Liền trả nợ oán xưa.


Viết xong bài kệ thì Ngài buông bút và tịch luôn.

Quý Phật tử thấy ở đây, nếu hai người không tu thì sao? Trương Lăng là một Phật tử thuần thành, Thiền sư Thông Tuệ cũng là một vị tu hành đắc đạo nên Ngài thấy đã đến lúc thì phải trả nợ. Vì những nghiệp oan trái nhiều đời chắc chắn sẽ đến đòi mình, nếu chúng ta biết tu và hóa giải thì tức khắc nghiệp dứt. Cho nên Đức Phật dạy:

Hận thù diệt hận thù
Đời này không có được.
Từ bi diệt hận thù
Là định luật ngàn thu”. 


Quý Phật tử thấy trong cuộc sống giữa đời thường, có những người phụ nữ rất đẹp, hiền thiện nhưng lại lấy phải một người chồng suốt ngày say sưa rượu chè, rồi đánh đập vơ con, nhưng bảo người vợ bỏ thì cô vẫn cam chịu chứ không dứt bỏ được. Trước đây khi chưa biết Phật pháp thì mình tưởng là do cô vợ còn tình cảm nên không bỏ, nhưng sau này mới biết, đó là do nghiệp chướng nhiều đời vay mượn mà chưa trả xong. Cho nên khi gặp cảnh khổ, cảnh khốn cùng, nghịch duyên, chúng ta đừng trách trời, trách đất, trách xã hội, trách hoàn cảnh, trách cha mẹ mà nên tự trách chính mình trước không khéo tu. Bởi vậy mới nói trong thời quá khứ chúng ta từng tạo những nghiệp bất trung, bất nghĩa, bất nhân, sát sanh, trộm cướp, tà dâm, nói dối, uống rượu, làm đủ thứ chuyện…., bây giờ nhân ác chín muồi thì quả nó đến chứ không có gì là lạ hết.

Trong Kinh Nhân Quả, Phật dạy:

Giả sử bá thiên kiếp
Sở tác nghiệp bất vong
Nhân duyên hội ngộ thời
Quả báo hoàn tự thọ.


Tức là: Giả sử trăm ngàn kiếp, chỗ tạo nghiệp không mất. Giả sử chúng ta làm tất cả những chuyện mà không ai biết, nhưng một lúc nào đó người ta cũng biết. Cho nên nếu không muốn người khác biết thì mình đừng làm điều đó, còn khi chúng ta đã làm, đã gieo hạt giống đó rồi thì sẽ không bao giờ mất, khi nhân duyên chín muồi thì quả báo đến, chúng ta phải chịu đau khổ. Lúc đó đừng có đổ thừa cho ai, cho hoàn cảnh hay xã hội làm mình bị thế này thế kia, mà đó là do mình tạo cho nên mình phải tự gánh thôi, không có ai gánh thay cho mình cả. Cho nên mới có câu: “Bồ Tát sợ nhân, chúng sanh sợ quả”. Có một Phật tử kể rằng, ông hay bị mất đồ đạc, tiền bạc trong nhà dù nhà cửa đều an toàn. Ông muốn thỉnh quý Thầy về cúng bái để bớt việc này nhưng tôi nói rằng vấn đề không nằm ở chỗ cúng bái mà là do đời trước mình đã tạo những nghiệp trộm cắp, bây giờ phải sám hối và tạo làm các việc thiện pháp. Ông nghe xong về in kinh sách, băng đĩa của các Hòa thượng, làm cầu, xây nhà tình nghĩa, làm các việc thiện pháp. Quả thực sau một thời gian thì không còn xảy ra việc trộm cắp nữa. Cho nên một người biết Phật pháp có giá trị gấp trăm, gấp ngàn lần người không biết Phật pháp.

Một lần, Mạt Lợi phu nhân nói rằng, trong vô lượng kiếp, bà chưa từng lấy trộm đồ của ai nên đồ của bà để ở đâu cũng không mất. Vua Ba Tư Nặc không tin điều này nên một hôm, khi Mạt Lợi Phu nhân ngủ, vua lẻn vào phòng, rút chiếc nhẫn vua tặng bà rồi đem ra biển vứt. Sau khi bà thức dậy, vua bảo bà mất chiếc nhẫn, nội trong một ngày mà tìm không ra là phạm tội khi quân, phải chém đầu. Bà nói rằng từ xưa tới giờ bà chưa từng ăn trộm của ai nên thế nào chiếc nhẫn cũng trở về với bà. Quả tình sau khi chiếc nhẫn rớt xuống biển, có một con cá lớn thấy có cái gì đó đẹp óng ánh liền đớp và nuốt vào bụng, sau đó bị một người đánh cá bắt được. Ông nghĩ con cá này rất lớn và đẹp, chỉ để cho vua ăn nên đem dâng cho đầu bếp của vua. Sau khi đầu bếp mổ bụng con cá ra, ông nhìn thấy chiếc nhẫn, biết là của hoàng hậu liền đem trả lại. Từ chuyện này chúng ta nhìn lại mình, nếu bây giờ mình bị mất của cải, mất thứ này thứ kia thì biết rằng ngày xưa mình cũng đã từng trộm của người nhiều lắm. Cho nên nếu đã tạo nghiệp thì khi nhân duyên chín mùi, quả báo đến thì chúng ta phải chịu.

Quý Phật tử nhớ lại câu chuyện của Pháp sư Giới Hiền, Ngài sống đã một trăm tuổi rồi nhưng bị bệnh phong thấp rất nặng ngày đêm hành hạ khiến Ngài không chịu nổi, cho nên Ngài quyết định nhịn đói cho đến chết. Khi có ý định như vậy thì buổi đêm, Ngài nằm mộng thấy ba vị Bồ Tát là Bồ Tát Quán Thế Âm, Bồ Tát Di Lặc và Bồ Tát Đại Trí Văn Thù Sư Lợi hiện lên nói: “Vào thời quá khứ, ông từng là một vị quốc vương tàn sát không biết bao nhiêu người, đáng lý phải đọa vào địa ngục, nhưng ngày nay nhờ vào công đức tu hành nên giờ chỉ còn bị một chút bệnh này thôi. Ông đòi tự tử thì nợ này ai trả cho ông? Ông hãy đợi thêm hai năm nữa, sẽ có một vị tăng từ Trung Hoa đến đây để học về Duy Thức học. Ông hãy dạy cho vị ấy thì sẽ chuyển được nghiệp, sau khi chết sẽ sanh về cung trời Đâu Suất”. Ba vị nói xong thì biến mất. Quả nhiên sau này Ngài Huyền Trang từ Trung Hoa sang Ấn Độ thì được Pháp sư Giới Hiền bảo đệ tử bảy mươi tuổi của mình là đại sư Giác Hiền kể lại câu chuyện, lúc này Tăng chúng mới thấy rõ rằng nhân quả không bao giờ mất.

Cho nên Ngài Phó Đại Sĩ nói:

Thân trước có báo chướng
Ngày nay thọ trì kinh
Tạm bị người khinh tiện
Chuyển nặng nhẹ cho mình.


Tức là thân trước mình đã từng sát sanh, trộm cướp, tà dâm, làm những việc ác… nhưng ngày nay, nhờ thọ trì bốn câu kinh Kim Cang nên bớt được nghiệp. Trong Kinh Kim Cang, Đức Phật nói: “Người này đáng lẽ bị đọa vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh nhưng nhờ trì kinh tạm bị người khinh tiện”. Chúng ta sống trong cuộc đời này, nếu gặp phải hoàn cảnh khó khăn, bị người ta mắng chửi thì đừng có buồn, đó là mình đang bớt được nghiệp. Những người tu tập có công phu thì khi nghịch cảnh nghịch duyên đến, người ta trở lại cảm ơn những người làm mình đau khổ vì nhờ đó mà họ bớt được nghiệp và thăng hoa trên con đường đạo.

Nếu rõ y tha khởi
Biến kế chẳng còn sanh
Thường y Bát Nhã quán
Lo gì chẳng viên thành.


Biến kế là chúng ta chấp pháp, chấp ngã. Nhờ Bồ Tát khai thị mà chúng ta biết rằng tất cả các pháp là giả danh, là vô thường, là tạm bợ, không có thực tính, đó gọi là y tha khởi. Nhờ quán chiếu tính chất của Bát Nhã nên viên thành Phật tánh.

Trong nhà Phật, xét về nhân quả thì chia quả báo ra ba phần. Một là hiện báo, tức là mình gây tạo nghiệp ác hoặc nghiệp thiện gì thì quả trổ ra liền trong đời này. Vào thời Đức Phật, có hai vợ chồng chỉ có một cái quần là tài sản chung, hôm nào người chồng đi ra đường thì người vợ phải ở nhà, hôm nào người vợ ra đường thì người chồng phải ở nhà. Một hôm, nhân có đại hội cúng dường Phật, hai vợ chồng này nghĩ trong thời quá khứ chắc mình không bố thí cúng dường, lại có tâm bỏn xẻn nên ngày nay mới nghèo khổ, thiếu thốn. Vì vậy họ quyết định cúng dường luôn chiếc quần duy nhất của mình. Trong lúc cúng dường, niệm thiện và niệm ác cùng tranh đấu nhưng cuối cùng họ vẫn quyết định cúng chiếc quần dù chết đói cũng được. Hôm đó, Đức Phật dùng Phật nhãn quan sát thấy căn duyên của hai vợ chồng này sắp chín muồi nên đứng ra nhận phẩm vật đó và nói phẩm vật này lớn gấp ngàn lần những xe gạo của vua cúng, bởi họ đã bằng tâm thành cúng hết tài sản của mình. Chuyện này đến tai vua Ba Tư Nặc, sau khi nghe xong, cảm động vì hoàn cảnh và tấm lòng của hai vợ chồng, vua sai người mang đến một trăm xe vải và thưởng một trăm mẫu ruộng. Ở đây, quả thiện trổ ra ngay vì hai người này đã gieo hạt lúa vào một mảnh ruộng có đất tốt, có nước, có người chăm sóc nên hạt lúa nảy mầm nhanh. Cổ đức nói:

Xuân một hạt giống gieo
Thu gặt ngàn thóc mễ
Người đời tạo lành dữ
Quả báo cũng như thế.


Xuân chỉ gieo một hạt thóc mà thu gặt không biết bao nhiêu, nhưng với điều kiện mảnh ruộng phải có đất, có nước, có người săn sóc, tức là phải là người có giới đức mới thành tựu. Còn mình cũng cúng, cũng gieo nhưng gieo vào mảnh không có đất hoặc không có nước, hoăc không có người săn sóc thì hạt giống không thể nảy mầm được. Mình ra đời, gặp được Phật, được cúng dường một vị Phật không phải chuyện đơn thuần.

Ông Cấp Cô Độc là một ví dụ, do làm rất nhiều việc thiện pháp nên có một lần ông lâm vào cảnh khó khăn, nghèo túng. Một hôm, nhà ông chỉ còn nửa lon gạo để nấu cháo, nấu được một tô cháo xong thì tình cờ Đức Phật và Thánh chúng đi ngang qua. Ông vẫn hoan hỷ cầm tô cháo cúng dường hết cho Đức Phật và quyết định nhịn đói ngày hôm đó. Khi ấy, Đức Phật thọ ký rằng, bát cháo ông cúng dường cho Như Lai ngày hôm nay bằng lúc Như Lai khi còn hành Bồ Tát đạo bố thí cúng dường hết cả một đất nước. Ngay khi ông phát nguyện nhịn đói để cúng dường Như Lai thì ngai vàng của Đế Thích nóng lên. Đế Thích bèn sai Tứ Thiên Vương dùng năng lực thần thông tập trung tất cả những của cải dưới biển không có chủ đem về làm đầy kho vàng của ông Cấp Cô Độc. Đó cũng là ví dụ về hiện báo, do phước lực hiện tại mà trổ ra.

Hoặc một ví dụ khác, trong thời Đức Phật có một ông thợ săn rất ghét các vị Sa môn. Một hôm trên đường đi săn, ông gặp một vị Sa môn bèn xúi bầy chó cắn vị này. Vị Sa môn sợ quá leo lên cây, thòng cái chân xuống, người thợ săn lấy ngọn giáo đâm vào chân thì cái y cà sa của vị Sa môn rớt xuống trùm vào đầu ông. Mấy con chó nhìn thấy, tưởng vị Sa môn rớt xuống nên đến cắn xé xác luôn. Đó là hiện báo của nghiệp ác.

Hai là sanh báo, có nghĩa là đời này chúng ta tạo nhân gì đó nhưng không trổ ra liền ở đời này mà đời sau, đời sau nữa mới trổ ra. Cho nên có những người sống rất hiền thiện, biết quy y Tam Bảo, biết bố thí cúng dường nhưng toàn gặp nghịch duyên, rồi không biết rõ về nhân quả lại trách Tam Bảo, trách Phật, trách Bồ Tát không linh… Do đó, trong Kinh Pháp cú, Đức Phật dạy:

Người ngu tưởng là ngọt
Khi ác chưa chín mùi
Ác nghiệp chín mùi rồi
Người ngu thấy khổ đau.


Tức là đời này mình làm ác, nhưng nhờ thiện nghiệp trong thời quá khứ còn sót lại nên mình chưa thấy hậu quả. Sau khi phước xưa hết rồi thì tức khắc quả khổ sẽ đến. Còn người thiện thì sao?

Người thiện tưởng là khổ,
Nghiệp thiện chưa chín mùi
Thiện nghiệp chín mùi rồi
Người thiện thấy an vui.


Khi thiện nghiệp chín muồi rồi thì mình thấy an ổn, hạnh phúc.

Ba là hậu báo, nghĩa là tạo một nhân nhưng không trổ quả liền mà có khi phải trải qua vô số đời về sau, chừng nào đủ duyên thì quả báo chín muồi, cho nên còn gọi là nghiệp vô hạn định. Trong “Tam Bảo cảm ứng lục”, có một em bé cha mẹ chết hết, không có ai nuôi nên phải đi ăn xin. Trong lúc đi ăn xin, em gặp một vị Hòa thượng và được Hòa thượng đưa về chùa, sáng chiều chuyên thỉnh đại hồng chung. Khi cậu được mười sáu tuổi, một hôm đang đi trên đường liền bị rớt xuống hầm cầu, bị hai thanh sắt ở dưới đâm lên làm mù cặp mắt. Sau khi bị mù mắt, cậu lại bị sét đánh chết. Khi chôn xuống đất rồi thì nửa đêm bị cọp quật mồ, đào lên ăn thịt. Mọi người đến thắc mắc với vị Hòa thượng rằng, người này đã công quả, đã tu tập, đã thỉnh chuông rồi mà sao còn bị những nghiệp này. Hòa thượng nói, nếu cậu bé này không có công phu tu tập, không có sức chuyển hóa thì sẽ phải trả nghiệp trong bốn đời liên tục, đời thứ nhất bị rớt xuống hầm cầu, đời thứ hai bị mù mắt, đời thứ ba bị sét đánh, đời thứ tư bị cọp ăn thịt, nhưng nhờ biết tu tập nên chuyển nghiệp, tất cả các nghiệp chỉ trả trong một đời là xong.

Tôi đưa ra một ví dụ đơn giản, chẳng hạn hồi xưa, quý Phật tử thiếu người đó một triệu đồng, khi người ta đến đòi mình, mình không có tiền trả. Sau này mình làm ăn khấm khá, trở nên giàu có, người đó tìm đến và đòi thì lúc này mình không chỉ trả gốc mà còn trả cả lãi luôn vì đã giàu rồi. Cũng vậy, đối với các vị có tu tập thì khi có những nỗi khổ, những nghịch duyên đến, các Ngài coi như không. Như Tổ Sư Tử, khi vua Kế Tân xin Ngài cái đầu thì Ngài nói rằng bốn đại vốn không, năm ấm chẳng có thì xá gì cái đầu, nói rồi đưa cổ cho vua chém.  

Cho nên qua những ví dụ này để quý Phật tử thấy rằng, nhân quả không bao giờ mất, kể cả đối với người đã chứng đạo. Đức Phật còn bị mười nghiệp duyên xấu ác đến đòi, thương kim (bị Đề Bà Đạt Đa xô đá làm chảy máu chân), mã mạch (ăn lúa mạch của ngựa trong ba tháng),... bởi vì trong thời quá khứ, Đức Phật đã từng gieo những nghiệp xấu ác cho Đề Bà Đạt Đa nên bây giờ quả chín muồi thì phát khởi. Tuy trả quả như vậy nhưng Đức Phật và chư Tổ không đau khổ. Giống như ngày xưa mình có quyền thế nên chửi mắng, đánh đập người. Sau mình không còn quyền thế nữa, lúc này những người ngày xưa bị mình chửi mắng, đánh đập lại thăng quan tiến chức, họ nhớ mình nên tìm để đòi nợ, nhưng may mắn bây giờ mình đã biết đến Phật pháp và tu học nên khi họ tới, thấy mình đã tu, đã thay đổi nên thay vì đánh đập họ chỉ chửi mắng, nhưng khi bị chửi mắng thì nhờ biết đạo nên mình không sân hận hay đau khổ.

Trong thời quá khứ, chúng ta đã từng kết rất nhiều oan gia cho nên ngày nay muốn học đạo thì hay bị chúng quấy nhiễu, làm chướng việc Thánh, chẳng được thành tựu, chẳng được an ổn. Chúng ta phải sanh tâm hổ thẹn, chí thành sám hối liên tục. Phương pháp sám hối là một phương pháp rất đặc biệt, chỉ có dùng nước sám hối để rửa sạch những nghiệp xấu ác trong thời quá khứ chúng ta gây tạo thì mới dứt được. Chúng ta bố thí, cúng dường thì cũng có phước, nhưng những cái đó chỉ trợ duyên cho việc tu, còn muốn dứt được nghiệp chỉ có phương pháp thành tâm sám hối và phương pháp tọa thiền để nhìn lại những niệm này. Ví dụ đáng lẽ ngày này, tháng này, năm này, các hạt giống ác pháp sẽ trổ ra, nếu chúng ta không thiền tập thì sẽ phạm vào các giới sát, đạo, dâm, vọng... Nhưng vào giờ phút đó, nếu quý Phật tử ngồi thiền, các hạt giống ác pháp cũng trổ ra nhưng vì không có cảnh nên lấy gì phạm? Ví dụ, khi đang ngồi thiền tôi khởi niệm tham, mà trước mặt không có lấy một đồng hay đồ vật gì thì có phạm giới trộm không? Nếu lúc đó không ngồi thiền mà trước mặt lại có một xấp đô la thì chắc là phạm liền. Rồi trong lúc ngồi thiền, người ta ngồi thì rất yên ổn, còn mình ngược lại, giống như đang ngồi trên đống lửa, bứt rứt, khó chịu. Đó là mình đang trả nghiệp nhưng trả bằng tâm thức, cho nên nói tu là chuyển nghiệp.

Hoặc như câu chuyện của Thiền sư Bankei bên Nhật Bản. Ở trong chùa của Ngài có một chú tiểu chuyên ăn cắp vặt tiền của các huynh đệ. Một hôm, chú bị bắt và đem nộp cho Thiền sư Bankei, mọi người trong chùa gây áp lực phải đuổi chú đi, nếu không sẽ bỏ đi hết. Lúc này Thiền sư Bankei chỉ nói một câu: “Các ông ai cũng có trí, có đạo đức cả nên các ông đi ra ngoài vẫn phát triển được. Còn chú này nếu bị đưa ra ngoài đời thì một là làm ăn cướp, hai là đến chùa nào người ta cũng không nhận, làm sao sống sót được”. Sau khi nghe Thiền sư Bankei nói, chú tiểu quỳ xuống khóc và xin sám hối. Sau này, chú trở thành một vị Thiền sư nổi tiếng của Nhật Bản. Cho nên tu là chuyển nghiệp chứ không phải nghiệp cố định. Nếu chúng ta thành tâm sám hối, siêng năng tu tập thì nghiệp nặng sẽ chuyển thành nghiệp nhẹ.

2/ MA NGOẠI HOẶC

Ma ngoại hoặc (hoặc làm loạn bên ngoài) gọi là nhân chướng. Kẻ tiểu nhân không có căn lành, sang hèn chẳng đồng, làm não loạn định tâm, chẳng được an ổn. Việc này không riêng một cớ nào, tất cả đều do thiếu quyền biến, hoặc kém lễ nghi, hoặc do tự cao, hoặc tự ngã mạn, hoặc nói thẳng, hoặc hạnh thô, hoặc nương thế lực, hoặc khoe tài, hoặc nói ác, hoặc khen mình chê người, hoặc thiếu vẻ ôn hòa, hoặc không cung kính, hoặc độ lượng không rộng, hoặc thiếu nhẫn nại. Cho nên chuốc cái chẳng tin mà hoặc loạn sự tu hành, sanh tâm động niệm, che lấp bản minh. Kẻ sĩ mộ đạo cần yếu phải thấp xuống mà lui về nuôi đức mới khỏi được nhân chướng. Kẻ hậu học đời sau phải khoan dung nhẫn nại, cố gắng hành đạo cẩn mật.

Ma thứ hai gọi là nhân chướng, tức là có những người không thích mình, ghét mình nên làm não loạn, khiến mình không được an ổn. Nhiều khi chúng ta tưởng đó là do nghiệp quá khứ nhưng nhìn lại, trong đời hiện tại chúng ta có gieo nghiệp không? Hoặc là do thiếu huyền biến, hoặc kém lễ nghi, hoặc do tự cao, ngã mạn…, cái gì cũng muốn hơn người thì tiểu nhân ghét; hoặc như giữa đám đông mình nói thẳng lỗi của người thì chắc chắn người đó sẽ tìm cách hại mình; hoặc hạnh thô; hoặc chúng ta nương thế lực, chẳng hạn như ở chùa mình nương vào thế lực thầy Trụ trì để tìm cách hãm hại người khác, sau này khi không còn thế lực để nương, phước hết thì quả khổ đến; hoặc khoe tài; hoặc nói lời ác độc; hoặc chúng ta khen mình mà chê người khác thì những người tiểu nhân cũng tìm cách ám hại mình; hoặc không cung kính; hoặc độ lượng không rộng tức là tâm mình hẹp hòi, không dung nhiếp được; hoặc là thiếu nhẫn nại nên chuốc cái chẳng tin mà hoặc loạn sự tu hành, kẻ sĩ mộ đạo cần yếu phải tự hạ mình thấp xuống mà lui về để nuôi đức, mà thường lui một bước thì lại có sức mạnh.

Như câu chuyện bức họa trên vách của Thiền viện Long Hổ. Một hôm, có một số chư Tăng lấy bút mực vẽ con rồng và con cọp đang giao tranh với nhau, nhưng vẽ mãi mà không ra được cái thế cho xứng. Lúc này, Thiền sư Vô Đức nói: “Muốn vẽ được thì phải hiểu đặc tính của từng loài mới thể hiện được sức mạnh của nó, rồng trước khi tấn công đầu phải lui về sau, cọp muốn chồm lên trước thì đầu phải hạ sát đất, cổ rồng càng hướng về sau thì sức quật càng mạnh, đầu cọp càng hạ sát mặt đất thì khả năng tấn công càng nhanh và nhảy lên lại càng cao”. Sau khi nghe lời dạy của Thiền sư Vô Đức, chư Tăng vẽ lại thì quả thực toát lên được hồn của bức tranh, Nhân đó, Thiền sư Vô Đức nói: “Đạo xử thế và việc tu hành các ông cũng cần phải như thế, càng phản tỉnh khiêm nhường thì năng lực vươn lên càng cao”.

Nhìn lại mình thì sao? Người ta nói một tiếng, mình nói hai tiếng, người ta nói ba tiếng, mình nói bốn tiếng, vợ chồng sống với nhau không hạnh phúc cũng vì thế. Mình cứ nhận mình sai đi thì mọi chuyện ổn hết, chịu lùi một bước mà thắng hoàn toàn luôn, đó là chiến công mà chỉ có người tu tập mới thấy được.

Lúc bấy giờ Thiền sư Vô Đức làm một bài thơ:

Tay cầm mạ non cấy xuống ruộng
Cúi đầu liền thấy trời trong nước
Thân tâm thanh tịnh ấy là đạo
Lùi bước chính là đang tiến lên.


Người cấy mạ là cấy lùi, lùi lại một chốc là đám mạ cấy xanh um hết, cúi đầu xuống thì thấy trời in trong nước, thân tâm thanh tịnh đó là đạo, lùi bước chính là đang tiến lên. Cho nên ở đây nói “Kẻ sĩ mộ đạo cần yếu phải hạ mình thấp xuống, lui về để nuôi đức”. Ở những ngôi chùa cổ tại miền Bắc, cửa vào chánh điện rất thấp, khi bước vào mà không cẩn thận, không thấp người xuống là đụng đầu liền. Cái lý ở đây là khi tìm đến đạo, muốn thấy đạo, muốn gặp ông Phật của tự tâm thì chúng ta phải tự hạ mình thấp xuống.

Các vị tu hành ngày xưa thường “Ngậm miếng như câm mà hạ lòng nuôi đức”, tức là miệng nói bớt lại để nuôi dưỡng cái đức. Những người hay nói bậy mà không biết như vậy là tổn phước rất nhiều. Trong ba nghiệp thân, khẩu, ý thì khẩu nghiệp rất quan trọng. Thường thường, kiểm soát ý nghiệp là quan trọng nhất, nhưng phương tiện ban đầu thì chúng ta phải ráng tu khẩu nghiệp. Bởi vậy, người xưa hay nói rằng: “Thủ khẩu như bình, phòng ý như thành”, có nghĩa là phải giữ miệng mình như bình, bình nước mà nghiêng thì nước công đức sẽ bị đổ sạch hết.

Trong Nghệ thuật sống có kể một câu chuyện, ngụ ý nói mình mà nuôi đức thì sẽ có thành tựu lớn. Ngày xưa, có một chàng đánh cá nghèo, sáng chiều anh đi ra vùng biển xa, đánh cá được bao nhiêu anh đem bán lấy tiền sinh sống. Do quá nghèo nên mặc dù đã lớn tuổi mà vẫn chưa lấy được vợ vì những cô gái ở làng chài không ai ngó ngàng đến anh. Rồi anh nghe tin có một cô gái làng bên rất đẹp, tuổi khoảng hai mươi tám nhưng không ai dám lấy vì cô nói nhiều quá, nói nhiều đến nỗi người xung quanh nhức đầu luôn. Anh đến xin cưới thì cha mẹ cô đồng ý ngay. Một hôm, anh ra biển bắt được một con cá vàng rất đẹp, thấy tội quá liền thả xuống. Không ngờ con cá này chính là thái tử con của Long vương. Để trả ơn, thái tử bảo anh cần gì thì sẽ giúp. Anh nói vợ mình nói nhiều quá, hãy làm cho cô ta hễ nói một lời thì một đồng tiền văng ra. Về đến nhà, anh giật mình thấy trong nhà đầy tiền, lúc ngủ cô nói mơ cũng ra tiền, nhiều đến nỗi muốn sập cả giường. Buồn phiền, anh lại ra biển cầu thái tử của Long vương cho giảm bớt tiền lại. Thái tử nói “Thôi được, vợ anh nói câu gì hay nhất, ý nghĩa nhất thì sẽ văng ra một đồng tiền”. Từ đó về sau tiền không còn văng ra nữa. Sau này, khi về già, lúc bà vợ sắp mất, bà gọi con cháu đến nói một câu thế này: “Nói là bạc, nín là vàng, nói ít không phải ít nói mà là không nói những điều vô ích”, bà nói xong văng ra ba chục đồng tiền vàng. Trong đời chúng ta nói gì ý nghĩa nhất, lời nói khiến người khác được an vui, hạnh phúc đó mới là lời nói có giá trị.

3/ MA PHIỀN NÃO

Ma phiền não là sự chướng. Sự chướng nếu chẳng trừ thì hay làm lộn xộn việc chánh tu. Thế nào là phiền? Thế nào là não? Phiền thì đuổi theo ngoại cảnh, não thì sanh ở nội tâm. Người tu Thiền nhất định phải đoạn phiền não. Phiền não chẳng trừ sạch thì tánh định khó hiện. Thấy người nữ mà sanh tâm là dâm tâm phiền não. Thấy sự giết hại mà sanh tâm là ác tâm phiền não. Thấy vật mà sanh tâm là tham tâm phiền não. Thấy người khổ mà sanh tâm khinh thường là ngã tướng phiền não. Thấy kẻ thấp hơn mình sanh tâm kiêu ngạo là tự đại phiền não. Thấy nghịch cảnh sanh sân hận là khuể tâm phiền não. Thấy thuận cảnh sanh vui là tùy hỷ phiền não. Thấy kẻ oán sanh tâm ghét là hận tâm phiền não. Thấy người thân sanh tâm thương là tư tâm phiền nãoTất cả những cái thấy bên ngoài mà bên trong sanh thủ xả đều là tính chất của phiền não, không thể nào mà nói ra cho hết được. Kẻ tham thiền nhất định phải trừ sự chướng. Sự chướng nếu chẳng không, làm não loạn cái định. Người học đời sau tại sao chẳng đoạn nó?

Phiền thì đuổi theo ngoại cảnh, não thì sanh ở nội tâm”, chẳng hạn như mình thấy con người ta học hành đỗ đạt mà con mình học dở, không theo đúng ý mình nên nội tâm sanh phiền não. Đó là phiền não do chạy theo ngoại cảnh. Chúng ta đã học Phật thì phải biết rằng tất cả mọi việc đều có nhân duyên, nhân quả của nó. Trong thời quá khứ mình đã tạo nhân nào thì giờ sẽ đi theo đường đó, mỗi người đều có nhân duyên khác nhau. Nếu chúng ta cứ nhìn ra bên ngoài rồi chạy theo ngoại cảnh mà không khéo chuyển hóa thì suốt ngày sẽ phiền não.

Tôi xin kể một câu chuyện làm ví dụ. Ngày xưa, có một bà sanh được cả thảy hai mươi người con, mười đứa đầu rất đẹp đẽ, thông minh, ai nhìn cũng thương, còn mười đứa sau thì xấu, ai nhìn cũng không ưa. Một hôm, Thượng đế xuống thăm nhà bà, bà hay tin liền đem giấu mười đứa con xấu trong đống rơm vì sợ nếu đem ra thì bị Thượng đế quở. Khi Thượng đế đến chúc phúc cho từng đứa, nói đứa thứ nhất lớn lên làm vua, rồi những đứa khác thì làm đại thần, làm kỹ sư, làm bác sĩ... Bà mẹ liền nghĩ: “Mười đứa này là con, mười đứa sau cũng là con, thôi đem ra cho Thượng đế chúc phúc luôn”. Vừa nhìn thấy, Thượng đế đã bảo đứa này làm ruộng, đứa kia chăn bò, đứa làm thợ hồ, đứa làm người dọn rác... Bà mẹ sửng sốt: “Mười đứa trước là con của con, mười đứa sau cũng là con của con, sao Thượng đế lại có tâm kì thị?”. Thượng đế nói: “Nếu hai chục đứa con của bà đều làm vua hết thì ai làm ruộng cho nó ăn, ai xây nhà cho nó ở….” Qua câu chuyện này quý Phật tử thấy, ai mà không mong muốn con mình sau này giỏi giang, làm kỹ sư, bác sĩ nhưng do cái nghiệp, cái túc duyên của quá khứ mà mỗi người sẽ đi một con đường khác nhau, không ai giống ai hết. Mình biết như thế thì “Tùy duyên tiêu nghiệp cũ, hồn nhiên mặc áo xiêm”. Tùy duyên để tiêu nghiệp cũ, nhưng nhớ đừng gây thêm nghiệp mới thì hồn nhiên mặc áo xiêm, tự tại trong cuộc đời.

“Người tu Thiền nhất định phải đoạn phiền não. Phiền não chẳng trừ sạch thì tánh định khó hiện”, tức là nếu suốt ngày chúng ta phiền não thì đảm bảo tu tập không bao giờ tiến. Nhưng hỏi thật, cái phiền não, cái khổ đau có phải của mình không? Giả sử bây giờ mình đang phiền não thì cái phiền não này là của ai? Nếu là của mình thì nó phải ở suốt với mình, sáng phiền não, trưa phiền não, tối phiền não, ngày này qua ngày khác phiền não. Còn đằng này, sáng phiền não nhưng trưa lại hết, chẳng hạn đang bực bội, cãi nhau với chồng mà nghe con điện thoại nói gửi về một số tiền lớn thì sao? Còn bực bội không hay vui vẻ liền? Như vậy để thấy cái phiền não này không phải của mình.

Trong Thiền thoại có kể, một cư sĩ đến thưa với Thiền sư Bankei rằng ông rất hay nổi nóng và xin Thiền sư dạy cho phương pháp để hết sân. Thiền sư bảo: “Ông hãy mang cái sân hận, nổi nóng ấy ra đây, ta sẽ có thuốc trị”. Cư sĩ trả lời: “Ngay bây giờ thì con không sân”. Thiền sư hỏi: “Vậy lúc nào ông mới sân?”. Ông nói: “Chỉ khi nào con về nhà, gặp mụ vợ thì mới sân”. Thiền sư bảo ông hãy về nhà, khi nào nổi sân thì mang ngay cái sân đến đây, Ngài sẽ trị cho. Khi về nhà, gặp bà vợ cằn nhằn, ông liền nổi sân, nhớ đến lời của Thiền sư Bankei, ông liền chạy ngay đến chỗ Ngài. Nhưng thật lạ là vừa đến nơi thì ông hết sân. Lúc này Thiền sư Bankei nói: “Cha mẹ ông sinh ông ra chỉ có tâm Phật mà thôi”. Cư sĩ nghe xong liền ngộ.

Ở đây chúng ta thấy rõ, nếu cái sân này là của mình thì ở nhà cũng sân, đến chùa cũng sân, gặp người này cũng sân mà gặp người kia cũng sân, còn ở đây về nhà gặp vợ mới sân, còn đến chùa gặp thiền sư thì hết sân. Rõ ràng cái sân này không phải của mình. Vậy cái gì biết được sân và cái gì biết không sân? Cái biết là cái năng biết và cái sân là cái bị biết nhưng chúng ta đồng hóa. Ngay trong giờ phút thực tại này, cái biết và cái bị biết đồng thời có mặt thì cái sân hết. Chẳng hạn tôi nhéo vào tay tôi, tôi biết đau, khi thả ra thì hết đau. Vậy cái gì biết có đau và không đau? Là cái tánh biết này, là tâm Phật chớ gì, vậy mà chúng ta luôn luôn đồng hóa cái tham là mình, cái sân là mình, cái si là mình. Cho nên trong Kinh Tương Ưng Bộ, Phật dạy: “Tâm tham biết tâm tham, tâm sân biết tâm sân, tâm tật đố biết tâm tật đố...”. Biết thì chúng ta không bị dẫn đi cho nên phiền não dứt, lúc đó tánh định hiện tiền, pháp tu nhà Phật chỉ đơn giản vậy thôi. Tu lâu hay mau là do mình.

Quý Phật tử nghiệm lại, thân mình nếu không nhờ ăn uống thì không sống được, xe mà không đổ xăng thì chạy không được. Cũng như thế, nếu chúng ta không tưới tẩm tham sân si, không tưới tẩm phiền não thì đến một lúc nào đó nó hết. Nhưng mình không chịu như vậy mà lúc nào cũng tưới tẩm hết. Ví dụ quên cái chìa khóa mà tìm không được rồi sinh ra bực bội, đi đường bị kẹt xe cũng bực…, mỗi ngày khi gặp những điều bất như ý, chúng ta không tìm cách chuyển hóa mà cứ tưới tẩm hạt giống sân, hạt giống phiền não. Đến một lúc nào đó, những hạt giống này tăng trưởng, lớn mạnh thì khi rời khỏi cuộc đời này, nó sẽ dẫn mình đi vào cảnh giới xấu ác. Còn cái gì mình cũng bỏ qua, cái gì cũng tha thứ hết thì mình không tưới tẩm nữa. Như câu chuyện của một bà già bên Thái Lan, bà đến gặp một vị Thiền sư than phiền là bà tu rất khó, không tiến được. Thiền sư dạy bà chỉ cần nhớ và thực tập ba chữ “Mặc kệ nó”. Sau khi ra về, bà thực hành đúng như vậy. Dù có chuyện gì xảy đến, vui hay buồn bà cũng “Mặc kệ nó”, gác tất cả mọi chuyện qua một bên. Một hôm, khi đang chiên cá, vì cứ mải tham công án “Mặc kệ nó” nên bà không để ý con cá trên chảo đã cháy đen, ông chồng la lên, bà nói: “Mặc kệ nó” thì ngay đó bà ngộ đạo.

Chúng ta nhiều chuyện quá nên phiền não luôn tăng trưởng, nếu chẳng trừ sạch phiền não thì tánh định khó hiện. Chúng tôi thấy ở trong chúng, người nào càng nhiều chuyện chừng nào thì càng khó tu chừng đó. Chuyện gì của ai mình cũng xía vô, còn chuyện của mình thì mình lại không biết. Cho nên phiền não khó trừ là do mình. Người Trung Quốc có câu: “Tuyết rơi trước cửa chưa từng quét, lại lo sương phủ mái nhà người”, ý là nhà mình tuyết đổ dày xuống mà không chịu quét, không chịu dọn, lại cứ lo nhìn vài ba giọt sương đọng ở mái nhà người khác. Cho nên người biết tu rồi thấy rất nhẹ. Ở trong chúng, ai nói gì thì nói,  mình cứ mặc kệ, việc mình làm thì mình cứ làm.

Thấy người nữ mà sanh tâm là dâm tâm phiền não”, tức là thấy người khác phái mà khởi niệm dâm thì đó là dâm tâm phiền não. “Thấy sự giết hại mà sanh tâm là ác tâm phiền não”, chẳng hạn như thấy con vật hay người nào bị giết, bị hại mà mình khởi tâm vui thích thì đó là ác tâm phiền não. “Thấy tài lợi mà sanh tâm là tâm trộm phiền não”, chẳng hạn mình đến nhà người ta hay đến ngân hàng thấy người ta đếm tiền nhiều, lúc đó chỉ cần khởi niệm thôi thì đó là tâm trộm phiền não. “Thấy vật mà sanh tâm là tham tâm phiền não”, chẳng hạn thấy người ta có ngôi nhà đẹp, có chiếc xe xịn, mình cũng khởi tâm thèm muốn, về nhà ngủ không được, đó là dính mắc, là tâm trộm phiền não.  “Thấy người khổ mà sanh tâm khinh thường là ngã tướng phiền não”, tức là thấy người ta nghèo, khổ mình xem thường, khinh khi  mà không biết rằng khinh người thì tức là mình đang dấy niệm ác, âm đức mình bị tổn. Đó là ngã tướng phiền não. “Thấy kẻ thấp hơn mình sanh tâm kiêu ngạo là tự đại phiền não. Thấy nghịch cảnh sanh sân hận là khuể tâm phiền não. Thấy thuận cảnh sanh vui là tùy hỷ phiền não”, vui cũng là một dạng phiền não, bởi vì trong cái vui nó có mầm mống của sự đau khổ. “Thấy kẻ oán sanh tâm ghét là hận tâm phiền não”. Thấy kẻ oán là gì? Chẳng hạn mình có người chị, người em được mình giúp đỡ hết lòng mà họ trở ngược lại phản mình, nói xấu mình, nếu mình oán, mình thù thì đó là nuôi hận tâm phiền não. Mình phải thấy người đó cũng là một chúng sanh. Anh em, vợ chồng, con cái mình đều là chúng sanh. Mình cứ phát nguyện: “Phục vụ chúng sanh là cúng dường chư Phật” thì tức khắc hết phiền não. Có nhiều Phật tử nói: “Con đã giúp cho anh con, chị con hết lòng, không có gì là không giúp mà họ trở lại nói xấu con”. Tôi nói đó là cái phước của mình, như vậy thì nghiệp mình càng bớt, bởi vì trong vô lượng kiếp mình thiếu nợ mình đâu có biết, nếu sanh tâm oán ghét thì khi chết sẽ không được giải thoát.

4/ MA SỞ TRI

Ma sở tri gọi là lý chướng. Lý chướng nếu chẳng trừ thì hay làm loạn chánh định. Sở tri là thế nào mà lỗi lớn như thế?

Chính vì biết ta được ngộ, biết ta thông thiền, biết ta rõ giáo, biết ta hội lý, biết ta học nhiều, biết ta hiểu nhiều, biết ta trì giới nghiêm túc, biết ta được định, biết ta phát huệ, biết ta chứng không, biết ta tự tại.


Chúng ta bị dính vào chỗ lý chướng thì trong lúc ngồi thiền sẽ bị loạn chánh định. Chúng ta tu mà nói bản thân mình được ngộ đạo, hay là đã thông suốt về thiền, về giáo thì đây là bị lý chướng. Vì sao? Vì trong lúc mình chấp vào chỗ mình thông suốt về thiền hoặc về giáo, hoặc hội về lý thì trong đó đã ẩn chứa những hạt giống phiền não còn ẩn nấp trong tàng thức. Chính đó là lúc chúng ta chấp ngã, thấy mình hơn thiên hạ, cái gì mình cũng biết, thấy mình trì giới được nghiêm túc, còn những người khác thì không trì giới. Chẳng hạn như mình sống trong đại chúng, mình thấy cái gì mình cũng nghiêm túc hết, mình học được, tu được, ngồi thiền được, hoặc là mình có mặt đầy đủ trong các giờ học, hoặc là mình trì giới, khi đó mình thấy cái gì mình cũng hơn mọi người, lúc đó là chấp ngã đang tăng trưởng. Khi chấp ngã tăng trưởng thì lý chướng có mặt, mà lý chướng có mặt thì loạn chánh định.

Vào thời kỳ Đức Phật, hoặc vào thời chư Tổ, các Ngài cũng thường thị hiện ra những người học nhiều, biết nhiều thường tu chậm hơn những người học ít, vì học nhiều, hiểu nhiều thì hay bị chấp ngã, thấy mình hơn người khác. Chẳng hạn như Lục Tổ Huệ Nănng vào thời nhà Đường thị hiện là một người không biết chữ. Ở đây ý không phải là phế bỏ sự học, mà khi hiểu qua tinh thần này rồi, chúng ta vẫn học, vẫn tu, vẫn trì giới, vẫn ngồi thiền, nhưng mọi cái chúng ta buông xả hết. Chúng ta học cũng phải buông xả, tu cũng phải buông xả, giữ giới nghiêm túc cũng phải buông xả luôn, chứ đừng thấy mình giữ giới được thanh tịnh, còn người khác thì phạm giới, phá giới, nếu thấy như thế thì có sự chấp ngã, mà chấp ngã thì ma sở tri thâm nhập vào tâm thức của mình.

Có một câu chuyện: Một người tuy là cư sĩ nhưng thông hiểu về giáo và tất cả các pháp môn. Từ cái hiểu đó nên ông rất coi thường các vị tăng sĩ tu hành không nghiêm túc hay không hiểu nhiều bằng ông. Một hôm, ông đang ngồi trên gác và lần xâu chuỗi, khi mở mắt ra thì thấy hai hàng chư vị Bồ Tát thỉnh ông lên pháp tòa giảng pháp. Sau khi thấy như vậy, ông rất hoan hỷ và nghĩ rằng mình tu đã thành công nên mới bước xuống giường thiền để đi đến pháp tòa. Trong khi đang đi, chuẩn bị lên pháp tòa thì ông bị rớt xuống cầu thang và từ đó nằm liệt giường. Qua sự kiện này, chúng ta thấy dù học nhiều, biết nhiều nhưng nếu không biết tu, không biết cách chuyển hóa, buông bỏ chấp ngã thì cũng là một cái bệnh lớn. Bệnh này vào thời đại ngày nay rất nhiều người bị vấp phải. Chính chỗ vấp này Lục Tổ gọi là “Còn ngô ngã”, “Ngô ngã” là thấy mình thấy người, đây chính là sự chướng mà chúng ta chưa phá dẹp được. Đó còn gọi là “Biết ta chứng không, biết ta tự tại, biết ta vô ngại, biết ta học nhiều, biết ta hiểu nhiều”. Cần phải nhớ rằng chúng ta học hiểu để lấy đó làm hành trang tiến tu trên con đường giác ngộ giải thoát chứ không phải học hiểu rồi chấp vào chỗ học hiểu đó. Đó là bệnh chứ không phải là cái mà mình đạt được.

Một câu chuyện khác trong Thiền thoại. Có một vị bác học đang trên đường về quê bằng đường biển. Sau khi ổn định trên thuyền, ông đến làm quen vị thuyền trưởng và hỏi thăm:

- Anh là thủy thủ lái thuyền, vậy anh đã học thiên văn học chưa?

- Tôi chưa học.

- Anh lái thuyền mà chưa học thiên văn học thì coi như mất một phần ba đời người.

Đi tiếp một đoạn đường, ông lại hỏi vị thuyền trưởng:

- Anh lái thuyền vậy đã học chiêm tinh học (nhìn sao đoán hướng) chưa?

- Tôi chưa học.

- Vậy là anh lại mất thêm một phần ba đời người nữa.

Thêm một đoạn đường, ông lại hỏi:

- Thế anh đã từng học hải dương học chưa?

- Tôi chưa học.

- Vậy là anh chết nửa đời người rồi.

Bỗng nhiên lúc đó sóng to gió lớn nổi lên, vị thuyền trưởng hỏi ông bác học:

- Xưa nay ông đã học môn bơi lội học chưa?

- Bơi lội học là gì? Tôi chưa học.

Lúc này vị thuyền trưởng nói:

- Như vậy là ông chết cả một đời người rồi.

Tại sao lại chết cả đời người? Bão lớn thì thuyền dễ chìm, lúc này mạnh ai nấy bơi, nếu không biết bơi thì chết chìm dưới biển. Dù có học nhiều môn như chiêm tinh học, thiên văn học, hải dương học… cũng không dùng được lúc này. Qua chuyện này, chúng ta thấy dù học nhiều, hiểu nhiều mà không hóa giải sự chấp vào cái học hiểu này thì chắc chắn sẽ bị ma sở tri hay gọi là lý chướng. Nếu thấy cái gì mình cũng giỏi hết thì phải coi chừng, nếu không cẩn thận đến một ngày nào đó chúng ta sẽ rớt.

Biết ta được thần thông, biết ta được lẽ mầu, biết ta được chứng đạo, biết ta được thành Phật, muôn ngàn điều biết thì gọi đó là lý chướng. Lý chướng nếu chẳng trừ thì pháp chấp chẳng quên, pháp chấp chẳng quên thì chơn tâm chẳng hiện. Người tu thiền định nhất định phải dứt trừ lý chướng”.

Trên tinh thần tu tập, chúng ta phải biết cách chuyển hóa. Tất cả những gì học hiểu trong lúc thiền tập, giữ giới…, chúng ta đều buông xả hết, không dính không mắc thì chơn tâm hiện tiền. Điều này cũng đơn giản chứ không phải quá khó, nghĩa là chúng ta làm tất cả các việc thiện pháp, tu tất cả việc thiện pháp nhưng chỉ có một chữ biết. Đó là gì? Buông hết tất cả các pháp. Dù cho tu bất cứ pháp môn nào, chúng ta cũng phải buông hết tất cả các pháp thì chơn tâm mới hiện tiền.

5/ MA TÀ KIẾN

Ma tà kiến là chấp chướng. Chấp chướng chẳng trừ, ắt rơi vào định tà. Tà kiến như thế nào mà loạn chánh định như vậy?

Chấp tánh chẳng hoại, gọi sự chấp ấy là hữu kiến (tức là thấy có), chấp tánh vốn không (rỗng), gọi sự chấp ấy là vô kiến (chấp không). Chấp vốn không chết, gọi sự chấp ấy là thường kiến. Chấp theo khí mà diệt, gọi sự chấp ấy là đoạn kiến. Chấp từ không sanh ra có là tự nhiên kiến. Chấp từ khí (hơi) hóa ra hình là tà nhân kiến. Tất cả những tà chấp, tà kiến, nhân duyên, tự nhiên… đều chẳng lìa không, hữu, đoạn, thường, hai đầu, tự chướng bổn lý đến rơi vào đường tẻ. Người tham thiền phải biết mà ngộ ra chỗ này.


Chấp tánh chẳng hoại, gọi sự chấp ấy là hữu kiến (chấp có)”. Chỉ cần mình có sự chấp trong bản tánh mình là bất sanh bất diệt là rớt vào chấp có. Cho nên vào thời Đức Phật có chín mươi sáu ngoại đạo, sáu mươi hai kiến chấp đều không ra ngoài chấp có và chấp không. Ngược lại, tinh thần của nhà Phật là liễu chỗ có và không. Người tu Thiền cần phải nghiên cứu kỹ tinh thần Kinh Pháp Bảo Đàn của Lục Tổ Huệ Năng. Có một vị Tăng đến hỏi hỏi Lục Tổ: “Phật tánh là thường hay vô thường?” thì Lục Tổ khẳng định là “Vô thường”, vì ông chấp tánh thường nên Lục Tổ phá. Cái gì mà chúng sanh chấp thì chư Phật, chư Tổ đều phá hết, không cho mình dính mắc. Hễ chúng ta chấp thì nó có một thứ bệnh trong đó, cho nên phải liễu chỗ có và không. Vì thế, đây gọi là Trung Đạo đế, đệ nhất nghĩa đế mà Bồ Tát Long Thọ xiển dương.

“Chấp vốn không chết, gọi sự chấp ấy là thường kiến (chấp không)”. Theo tinh thần Bà la môn giáo trong kinh Vệ Đà, nếu có ai nghiên cứu qua thì có thể thấy rất giống với tinh thần Thiền đốn giáo, cũng nói về thường tại tự tại hoặc chơn tâm tự tại giống như bên Thiền, nhưng họ lại chấp vào chỗ thường tại, chỗ bất sanh bất diệt, trong cái chấp này có cái tự ngã, từ cái tiểu ngã của họ, sau khi chết sẽ cộng trú vào cái đại ngã của thượng đế, mà vị thượng đế này là thường tại, bất sanh bất diệt. Ngược lại, Đức Phật dạy rằng chỗ bất sanh bất diệt là thể nhận được chơn tâm, tức là vẫn có một cái liễu tri thường biết, điều này khác hoàn toàn tư tưởng của Bà la môn ngoại đạo.

“Tất cả những tà chấp, tà kiến, nhơn duyên, tự nhiên… đều chẳng lìa không, hữu, đoạn, thường, hai đầu, tự chướng bổn lý đến rơi vào đường tẻ. Người tham thiền phải biết mà ngộ ra lẽ này”. Tức là có chấp gì đều là dính mắc. Chúng ta lúc chấp có, lúc chấp không, tất cả đều rơi vào trong pháp nhị nguyên phân biệt, đây chưa phải là chỗ tự tại, bất sanh bất diệt mà Đức Phật muốn chỉ. Nếu chấp vào chỗ bất sanh bất diệt là thường tại thì ngay đó vẫn là bệnh, chưa rốt ráo. Chỗ bất sanh bất diệt của nhà Phật là rõ biết tất cả các pháp mà chơn tâm bất động. Vì vậy trong tinh thần nhà Thiền, đến giai đoạn này là buông hết tất cả nhưng vẫn rõ ràng thường biết. Cho nên khi Tổ Huệ Khả trình Tổ Bồ Đề Đạt Ma: “Hôm nay con bặt hết các duyên”. Tổ Bồ Đề Đạt Ma nói: “Coi chừng rơi vào Không”, tức là đoạn hết các duyên là chấp Không. Nhưng Tổ Huệ Khả khẳng định lại: “Rõ ràng thường biết, nói không thể đến”. Chỗ này này đòi phải có công phu, có chứng nghiệm thì mới rõ được.

6/ MA VỌNG TƯỞNG:

Ma vọng tưởng gọi là tự chướng. Tự chướng chẳng không thì sanh diệt chẳng dừng, điên đảo tán loạn, che chướng bản tâm. Người tham thiền cần phải làm cho rỗng không cái chướng này. Nay nêu ra một hai điều để làm sáng tỏ cái vọng chướng như: vọng tưởng ngộ đạo, vọng tưởng tu chứng, vọng tưởng đắc định, vọng tưởng phát huệ, vọng tưởng nhiều hiểu biết, vọng tưởng hay làm văn, vọng tưởng về danh đạt, vọng tưởng thần thông, vọng tưởng thành Phật….. Các vọng chẳng không, động niệm làm trái với lẽ chơn. Người mới học đạo phải dứt vọng làm gốc.

Tất cả những vọng tưởng này đều là bệnh hết, đó gọi là ma vọng tưởng. Thường có nhiều người ngồi thiền nhưng không ở trong chỗ lặng mà thường biết, mà lại hay vọng tưởng về quá khứ, về tương lai sau này mình đi đâu, làm gì, mong cầu chứng đạo, phát huệ, đắc định… đây đều là vọng tưởng. Nếu như chúng ta không phá, không dẹp thì có một lúc nào đó ma vọng tưởng thâm nhập, vì vậy có những người suốt ngày chỉ biết nói lảm nhảm mà không rõ nơi chính mình. Đây còn gọi là vọng chướng. Nếu chúng ta không học qua thì chúng ta sẽ rất dễ bị dính mắc.

7/ MA KHẨU NGHIỆP:

Ma khẩu nghiệp gọi là cuồng chướng. Nếu chẳng dè dặt lời nói mà buông ý lắm mồm thì tán tâm loạn niệm, chẳng được định tâm. Khẩu nghiệp do đâu mà lỗi quá nhiều? Bởi ưa bàn huyền nói diệu, giảng kinh nói tông, tự khoe rằng đã được ngộ, chê bai kẻ khác ngu mê. Luận về sở trường sở đoản của người, nói sự phải, sự quấy của người, ngâm thi vịnh phú, mở miệng xướng càn, bình luận chuyện xưa và nay, bàn chuyện đất nước hưng phế, xưa là người hiền, kẻ ngu, nay là kẻ ác người thiện, chẳng quan hệ đến việc ta mà gân cổ lên tranh luận chuyện được mất của thiên hạ. Vô cớ khen chê, nói những cảnh dục khiến người sanh yêu, nói những chuyện bất bình khiến người sanh giậnChê sau lưng, khen trước mặt, tất cả những lời nói lợi hại khiến người quên mất chánh niệm. Người tham thiền cần yếu phải gắng giữ gìn, chẳng những ít lời nuôi đức mà lại khiến tâm chẳng loạn. Kẻ sơ cơ tu hành cần phải cẩn thận và kiêng giữ việc này.

“Ma khẩu nghiệp gọi là cuồng chướng. Nếu chẳng dè dặt lời nói mà buông ý lắm mồm thì tán tâm loạn niệm, chẳng được định tâm”.
 Tất cả những bệnh này đều là bệnh của chúng sanh, kể cả những người xuất gia và những người tại gia. Chẳng hạn như trong lúc cùng đại chúng tụng kinh hay thọ trai, thân, miệng, ý  chúng ta đều trang nghiêm, nhưng chỉ cần kết thúc khóa lễ hay kết thúc thọ trai là tiếng râm ran ở đâu nổi lên. Đây là ma khẩu nghiệp, rất hay làm chướng bản tâm mình, đặc biệt là đối với người tu hành. Chúng ta ngồi một mình thì không có gì hết, thường ít tạo nghiệp, nhưng chỉ cần một, hai người thôi thì ban đầu còn nói về Phật pháp, sau đó thì câu chuyện sẽ không biết đi đến đâu. Tất cả những câu chuyện không hiểu từ đâu mình nhớ ra, gặp người này, gặp người kia, miệng mình bắt đầu nói, không nói chịu không được, đây chính là ma khẩu nghiệp là cuồng chướng làm chướng bổn tâm. Vì vậy mới nói: “Nếu chẳng dè dặt lời nói mà buông ý lắm mồm thì tán tâm loạn niệm, chẳng được định tâm”.

Quý Phật tử trong cuộc sống giữa đời thường còn chồng, còn con, còn gia đình nên bắt buộc phải nói, bắt buộc phải làm. Còn khi đã vào thiền viện rồi, muốn tu tập tiến bộ thì nói ít chừng nào tốt chừng ấy, mình chỉ lo hoàn thành bổn phận của mình thôi, những chuyện còn lại không liên quan đến mình thì không có dính vào, vì đã có Thầy Trụ trì hay các vị có trách nhiệm nói rồi. Chư Tăng, chư Ni ở trong chúng nếu chỉ biết lo tu thì sẽ tu rất tiến. Ngày xưa khi ở trong chúng, tôi có dùng phương pháp “Mặc kệ nó”, tức là được giao việc gì thì làm việc đó, ngoài ra ai làm gì, nói gì mặc kệ. Không phải mình phế mặc mọi thứ mà là mình chưa có trách nhiệm phải quản nên tốt nhất là không nên nói nhiều, giữ gìn khẩu nghiệp, chỉ có một đường duy nhất là tu. Như thế bảo đảm từ ba đến mười năm là có sự tiến bộ. Sự tu hành khi đã có căn bản rồi thì sau này, đủ nhân đủ duyên quý vị đi đâu, ở bất kỳ chỗ nào cũng dễ dàng thích nghi mà vẫn tu được. Còn nếu như đụng việc gì cũng chịu không được, việc gì mình cũng nói thì lúc đó gọi là loạn tâm, mà loạn tâm thì chẳng được định tâm, khi chết sẽ mù mịt, rất dễ đi bậy.

Khẩu nghiệp do đâu mà lỗi quá nhiều? Bởi ưa bàn huyền nói diệu, giảng kinh nói tông, tự khoe rằng đã được ngộ, chê bai kẻ khác ngu mê”. Chỗ này, người xuất gia mắc bệnh nhiều hơn cư sĩ. Vì sao? Vì không thấy được chính mình cho nên bàn huyền nói diệu, tự khoe mình đã được ngộ rồi, còn những người khác thì ngu, mê, dốt… Khi miệng bắt đầu hoạt động thì chính lúc đó chúng ta đang gieo khẩu nghiệp, mà khẩu nghiệp không trừ thì cuồng chướng tăng trưởng, lúc này sẽ thấy “Hạ mục vô nhơn”, có nghĩa là dưới con mắt mình không có người nào hết, coi trời bằng hạt tiêu, lúc đó là bệnh đã nặng rồi.

Luận về sở trường sở đoản của người, nói sự phải, sự quấy của người”, chẳng hạn như nói ông này có những cái dở thế này thế kia, gặp mình thì sẽ khác…, nhưng đó không phải là chuyện của mình. Mình không biết người đó có những công hạnh gì mà tự nhiên nói vậy thì tổn phước và mang họa và thân.

Ngâm thi vịnh phú, mở miệng xướng càn, bình luận chuyện xưa nay, bàn chuyện đất nước hưng phế, xưa là người hiền kẻ ngu, nay là kẻ ác người thiện, chẳng quan hệ đến việc của ta mà gân cổ lên tranh luận chuyện được mất của thiên hạ”. Vào thời Đức Phật, nhóm Lục quần Tỳ kheo là những người chuyên bàn luận về các vấn đề của đất nước, chính trị, tất cả mọi thứ. Đức Phật mới quở và chỉ dạy họ những điều đó không hề liên hệ tới đường tu, các ông chỉ có con đường tu tập để chuyển hóa. Người tu ngày nay cũng thường hay mắc phải những lỗi này, cho nên nếu người thực tâm tu thiền phải suy xét cho kỹ để khỏi uổng việc tu hành của mình.

Vô cớ khen chê, nói những cảnh dục khiến người sanh yêu, nói những chuyện bất bình khiến người sanh giậnChê sau lưng, khen trước mặt, tất cả những lời nói lợi hại khiến người quên mất chánh niệm. Người tham thiền cần yếu phải gắng giữ gìn, chẳng những ít lời nuôi đức mà lại khiến tâm chẳng loạn. Kẻ sơ cơ tu hành cần phải cẩn thận và kiêng giữ việc này”.  

Có nhiều người khi người khác làm những thiện pháp thì trước mặt họ luôn khen ngợi, nhưng sau lưng thì dèm pha người đó loạn tâm, làm vì danh vì lợi... Việc khen trước mặt mà chê sau lưng là bệnh thường thấy của chúng sanh.

Quý vị để ý vì sao chúng ta nhập thất tu lại tiến hơn ở ngoài? Vì ở trong đó mình chỉ có một cửa là ý căn thôi, còn năm căn kia mình đóng bít hết, mà nội chỉ cần đóng căn lưỡi, tức là giữ được khẩu nghiệp thôi thì coi như mình đã chiến thắng được một nửa rồi, cho nên tu nhanh tiến. Mình để ý nếu hôm nào cả ngày mình nói chuyện suốt thì buổi tối ngồi thiền không thể yên được vì tâm mình nó loạn động. Thân trạo cử, miệng trạo cử thì ý cũng sẽ trạo cử. Hơn nữa, khi mình kiệm lời cũng là lúc mình nuôi lớn cái đức của mình, người nào càng ít nói chừng nào thì càng tu tiến chừng đó. Cho nên các Tổ nói: “Các ông nên để miệng của mình lên meo, lên mốc như cây quạt mùa đông”  hay “Các ông hãy bịt kín cái lỗ ấy lại đi, đừng để nó xì ra”. Người xưa tu hành luôn bít kín miệng, giữ gìn khẩu nghiệp cho nên tiến rất nhanh, còn mình bây giờ không những không bít mà còn muốn làm cho cái miệng rộng ra để nói cho lớn, cho nhiều. Qúy Phật tử thấy, chỉ cần hai người với nhau, một người nói nhiều và một người nói ít thì người ít nói luôn có sức mạnh hơn. Người hay nói huyên thuyên thì thường không sâu sắc, chỉ cần nói hai ba lời là người ta biết hết công phu tu tập như thế nào, đang ở đâu, còn những người thường giữ miệng, “Im lặng như sấm sét” thì tâm ý rất sâu kín, khó đoán. Cho nên ở đây “Nói ít lời để nuôi đức, khiến tâm chẳng đoạn”.

8/ MA BỆNH KHỔ

Ma bệnh khổ gọi là khổ chướng. Thân nhiều bệnh tật đều do nghiệp đời trước, hoặc do mất sự điều hòa mà biến sanh trăm thứ bệnh, làm cho người học đạo có sự chướng ngại, chẳng được thọ dụng pháp lạc. Nay xin nêu lên mấy điều thiết yếu để tự đề phòng: Điều hòa tỳ vị, tiết chế và chọn thức ăn uống, ít đắm mùi vị nồng cay, lại phải cữ vật sống và lạnh. Khi đói chớ đọc tụng, lúc no chớ gánh vác nặng. Sau khi ăn chớ ngủ, tối cữ ăn no.

Người thích ăn đồ thối nát, ưa ăn đồ chiên xào, thích ăn ngũ vị, dùng nhiều vật quấy. Lại tọa thiền nơi đất ẩm, ngủ nơi chỗ gió, đang ra mồ hôi mà vào nước tắm, đang chỗ nắng mà ưa dùng đồ lạnh mát, đang lúc gió mà tắm rửa, nằm nghỉ ngoài trời dưới chỗ nhiều sương. Cùng các trường hợp no quá, đói quá, vui quá, giận quá, nóng quá, lạnh quá, chỗ mưa lớn sương nhiều, bệnh nội thương ngoại cảm, tất cả đều do lỗi không biết điều hòa nên sanh những thứ bệnh hoạn, làm cho thân chẳng được yên. Kẻ hậu học phải biết mà phòng bị
.

Ở đây Ngài nói chúng ta tu tập mà bệnh thì sẽ tu không được. Thường khi thân bị bệnh thì chúng ta hay đổ lỗi cho nghiệp đời trước là do sát sanh, hại vật nhiều nên đời này bệnh. Điều đó đúng nhưng chưa đầy đủ, chưa hoàn toàn chính xác, vì nếu trong đời hiện tại này, nếu chúng ta không khéo, không biết cách điều hòa tỳ vị thì cũng dễ sanh ra những chướng nạn. Ngài có nêu lên một số ví dụ như ăn mùi vị quá nồng, đồ sống, đồ lạnh, hay khi đói đọc tụng, lúc no làm việc nặng… Ngoài ra, thích ăn những đồ thối nát (như chao), thích ăn những đồ có mùi thum thủm sẽ gây ra bệnh về gan..., rồi ăn đồ chiên xào nhiều thì khi ngồi thiền sẽ cảm thấy bứt rứt, khó chịu. Những thứ ngũ vị như hành, hẹ, tỏi, nén, trong Kinh Lăng Nghiêm Đức Phật nói, nếu ăn sống thì sanh sân mà ăn chín thì sanh dâm, đều khiến cho mình bị kích động, không có được chánh định. Tọa thiền nơi đất ẩm, ngủ nơi chỗ gió, đang ra mồ hôi mà tắm, đang lúc gió mà tắm rửa, đói quá no quá, vui quá giận quá, lạnh quá nóng quá, mưa lớn sương nhiều, bệnh nội thương ngoại cảm…, tất cả đều do mất sự điều hòa nên sanh những thứ bệnh hoạn, làm cho thân chẳng được yên. Cho nên kẻ hậu học chúng ta cần phải biết mà dự phòng và tránh bệnh tật để việc tu tập không bị chướng ngại. 

9/ MA HÔN TRẦM:

Ma hôn trầm gọi là thùy chướng (chướng về ngủ nghỉ). Thùy chướng chẳng luyện trừ, hôn trầm quá nặng, chơn tâm chẳng sáng, huệ tánh chẳng phát khởi, rơi vào chỗ mờ tối của núi đen và hang quỷ. Nguyên nhân của bệnh hôn trầm kia như thế nào?

Ở đây chư Tổ muốn dạy chúng ta, tu thiền mà không vượt qua được sự hôn trầm, để mặc kệ sao cũng được thì đó là một cái bệnh lớn, có nhiều người vừa mới nghe hô thiền là đã ngồi tại chỗ “lễ Phật” rồi. Bệnh hôn trầm chúng ta phải biết cách đối trị. Lúc trước chúng tôi cũng bị hôn trầm như quý Phật tử vậy, sau này phát hiện ra do làm việc nhiều quá rồi lại ăn buổi chiều, mà ăn chiều thì thiền bị lủng, chìm. Quý vị cứ thử buổi chiều ăn thật no thì buổi tối ngồi thiền chỉ được một lúc là chìm nghỉm, ngủ gục luôn. Bởi vậy nếu không ăn chiều thì buổi tối có thể ngồi thiền thoải mái, tỉnh táo. Thời gian đầu thì hơi khó chịu vì bị cơn đói quấy rầy nhưng lâu ngày sẽ quen dần. Chúng tôi nhiều khi đi làm Phật sự bận rộn, nếu quá giờ thọ trai thì cũng không ăn, nhưng mà không thấy đuối, thấy mệt, chỉ cần buổi tối và buổi sáng chịu khó ngồi thiền khoảng từ một đến hai tiếng mà không ngủ là lấy lại được đầy đủ sức khỏe. Thực ra, thức ăn chúng ta ăn uống chỉ là bậc hạ thôi, còn bậc thượng thì có thể dùng khí để nuôi dưỡng cái thân này. Khoan bàn đến việc ngồi thiền giúp giác ngộ giải thoát mà trước tiên, chỉ cần ngồi thiền đúng cách, hít vào sâu thở ra nhẹ nhàng, đều đặn thì cũng như Yoga dùng khí tốt để nuôi dưỡng cơ thể, nên ăn ít mà vẫn khỏe, ít bệnh tật. Còn nếu chúng ta ăn nhiều vào buổi chiều, nhất là đồ chiên xào nướng thì không khéo đó là nguyên nhân dẫn đến hôn trầm, buổi tối ngồi thiền sẽ rất buồn ngủ.

“Sự hôn chướng này phần lớn là do ăn nhiều, tham nhiều vị ngon, nói nhiều làm tán khí, hình lao tỳ yếu, tinh thần chẳng trong lặng, độc khí hỗn loạn, ngu si nhiều giận tức, lười biếng buông lung, chẳng nghĩ nhớ việc sanh tử, chỉ tham an ổn. Kẻ hậu học khi dụng công nên phát tinh tấn: Mang dùi chích thịt, cho đầu chạm vào cây cột, lễ Phật đốt đèn, đứng nơi nguy hiểm, đi kinh hành, khổ thân mài luyện thì ma ngủ mới nhẹ”.

Chúng ta để ý, giận quá cũng là nguyên nhân của hôn trầm. “Mang dùi chích thịt” là chỉ Ngài Từ Minh, Ngài bị hôn trầm rất nặng nên mỗi khi ngủ gục, Ngài dùng cái dùi sắt chích vào thịt để tỉnh ngủ. Cho đầu chạm vào cây cột, tức là có vị để cái cột gỗ ở trước mặt, mỗi khi ngủ gục thì đầu đập vào cây gỗ mà tỉnh táo trở lại. Ngồi thiền một hai tiếng mà ngủ chừng bốn, năm chục phút thì coi như mình thua cuộc, rớt vào ma ngủ, định tuệ không phát sinh được.

“Nếu chẳng như vậy mà mặc tình ngủ nghỉ thì chơn tâm chẳng sáng. Người tham thiền nên dũng mãnh để hàng phục ma ngủ”.

10/ ĐẠI THIÊN MA:

Đại Thiên ma chẳng đồng với các chướng trên. Bởi do tu hành đúng đắn, sắp chứng đạo quả, tâm tinh đã thông suốt, lặng yên chẳng động nên làm kinh động đến thiên ma và quỷ thần đều kinh sợ, cung điện của chúng sụp đổ, cõi đất rung động. Ma chúa kinh hãi, các loài yêu quái ở cây, ở đá cũng hoảng sợ.

Khi một người mới phát tâm xuất gia thì cung điện ma vương chấn động. Ở đây chúng ta phải hiểu một lý sâu hơn. Đó là khi chưa xuất gia, chúng ta sống trong gia đình có cha mẹ, vợ con, nhà cửa, vật chất đầy đủ, dù gì đi nữa chúng ta vẫn có sự hưởng thụ và tự do trong hạnh phúc đời thường. Bây giờ chúng ta muốn gạt hết qua một bên để dấn thân vào con đường tu tập thì đó không phải là một con đường tưởng tượng mà có ranh giới rõ ràng. Bình thường người ta hay nói rằng: “Đời và đạo không khác nhau”, đó là nói về lý trung đạo, tức là trung đạo đế, đệ nhất nghĩa đế dung nhiếp, nhưng với hành giả sơ cơ bước chân vào con đường đạo thì giữa đạo và đời khác xa hoàn toàn. Chẳng hạn như ở ngoài đời chúng ta có thể 8 giờ thức dậy nhưng ở trong đạo thì bắt buộc 3 giờ phải dậy. Trước chúng ta buồn khổ có thể đi vào quán karaoke, vũ trường, quán nhậu để giải khuây nhưng xuất gia rồi thì phải rạch ròi chứ không thể giống như cuộc sống bên ngoài được. Lúc này trong nội tâm, cái thiện và cái ác đấu tranh rất dữ dội. Như ngày xưa khi mới phát tâm xuất gia, tôi cũng phải nuôi dưỡng tâm quyết chí xuất gia của mình trong ba năm trường, trong giai đoạn đó tư tưởng có rất nhiều sự đan xen, tranh đấu. Cuối cùng thì cái thiện thắng và tôi vào chùa xuất gia, tức là bên nào thắng thì mình sẽ đi theo con đường đó.

Cõi đất rung động, ma chúa kinh hoàng, các loài yêu quái ở cây, ở đá cũng hoảng sợ. Tất cả loài ma mị đều có ngũ thông đồng đến não loạn, chẳng cho người vào Thánh vị. Chúng biến ra những điều quái lạ, hóa ra những cảnh dục để làm loạn thiền định của người tu”.

Vấn đề này những người tu ở rừng núi hay trong thất rất hay gặp phải. Trong suốt bốn mươi ngày đêm thiền định, ma vương hiện ra liên tục nhưng không làm gì được Đức Phật. Cuối cùng, ba ma nữ là con gái của ma vương hiện ra ba mỹ nữ tuyệt sắc ở cõi trời Tha Hóa Tự Tại, sắc đẹp không ai sánh bằng. Theo kinh điển Đại thừa phân tích thì ma vương hiện ra những cảnh này là muốn phá người tu hành, khiến họ bị vướng vào cảnh dục. Những người xuất gia đã từng có gia đình, vợ con thì khi tu trong thất sẽ thấy hiện ra cảnh gia đình. Như trong kinh có một vị Tỳ kheo phạm giới với một con ngựa cái chết vì trong mắt ông, đó là một thiên nữ chứ không phải là con ngựa chết. Trong giai đoạn hành giả chuẩn bị bước vào con đường Thánh vị thì cái dục đầu tiên hiện ra là vợ mình hoặc là người ngày xưa mình đã từng thương. Với những người xuất gia từ nhỏ thì thấy hiện ra những người con gái đẹp. Đây là những hạt giống phiền não xấu ác tiềm ẩn trong tàng thức mà bây giờ tuệ mình sáng lên thì những hạt giống này càng hiện lên rõ ràng. Có những vị tu trên núi rất miên mật, nhưng đến giai đoạn tâm yên ổn, tuệ giác phát huy thì những cảnh dục lại hiện ra và họ phạm giới, có trường hợp phạm giới rất kỳ cục mà mình không thể hiểu được. Bởi vậy, muốn nhập thất thì xung quanh phải có đại chúng bao bọc, hoặc là phải kiến tánh rồi thì mới có lực để chống đỡ, nếu không, khi những cảnh dục hiện ra mình chống đỡ không được. Con đường tu này giống như con dao hai lưỡi, nếu mình thắng thì phát sinh đại trí huệ, còn nếu mình không làm chủ được mà phạm vào thì tức khắc rớt trong lưới ma. Bởi vậy người tu cần phải rất cẩn thận và phải biết những điều này để có phương pháp tu tập và sám hối cho phù hợp.

“....hiện ra rất nhiều quái lạ, hóa ra những cảnh dục để làm loạn tâm thiền định của người tu. Người tu nếu tâm sanh ra thủ hay xả, ma liền được tiện lợi, mà người tu thì thọ hại.” Tức là khi hiện những cảnh này, mình thích hay giận dữ thì đều bị dính mắc. Nhưng lúc này, chỉ cần dùng tuệ Bát Nhã để nhìn thì một lúc, ma này sẽ lặng mất. Trong Kinh Lăng Nghiêm, Đức Phật dạy mình giống như lửa, còn ma này như những con thiêu thân, lao đầu vào thì chết.

Tự phát điên cuồng, cho là đã thành Phật. Còn sống thì bị hãm hại vào nạn vua, lúc chết đọa vào vô gián ngục.” Có những người tự xưng mình thành Phật, thành Tổ, việc đầu tiên là sẽ phạm vào giới dâm, rồi sau đó là đến nạn vua chúa, khi chết sẽ bị đọa vào địa ngục vô gián.

Kẻ sĩ tham thiền chánh niệm  rõ ràng, trí tuệ chiếu sáng, một lòng chẳng động, mặc tình chúng tác quái, ta chẳng thèm thấy nghe, dùng chánh định hàng phục ma, ma tự nhiên tiêu diệt. Kẻ tu học đời sau phải cẩn thận và tự phân biệt cho rành rõ ma sự này”. Trong Thiền thoại có ghi, Thiền sư Đạo Thọ ngồi thiền trong núi, những cảnh ma quái hiện lên. Tất cả Tăng chúng chạy trốn, còn Ngài thì bình tĩnh ngồi yên, sau đó ma tự lui. Mọi người hỏi tại sao Ngài thắng được thì Ngài nói rằng  Ngài chỉ dùng một chữ “Vô”, tức là chỉ cần không trụ các pháp thì ma tự tiêu. Cho nên tu hành phải khéo, nếu không thì chúng ta sẽ bị ma nhiễu loạn. Có những người đang yên ổn trong chúng tự nhiên lại muốn ra ngoài cất thất tự tu, vừa ra ngoài là có người đến hộ thất ngay, tăng thì hộ thất đa phần là người nữ mà ni thì hộ thất là người nam. Đây là những nghiệp tập túc oan nhiều kiếp nên ma nó lẩn vào người đó. Lúc đó mình nên biết đây là ma nó vào, cần phải cẩn thận.

Giảng sư

Kết nối

Tổng số truy cập
Thông tin: 21.069
Pháp Âm: 32.943
Đang truy cập
Hôm qua: 20164
Tổng truy cập: 2.139.236
Số người đang online: 497
hosting gia re , web gia re tron goi , thiet ke web tron goi tai ho chi minh, binh duong, vung tau, ha noi, ca nuoc , thiet ke web tron goi gia re