chuabuuchau.com.vn,chuabuuchau, chua buu chau, chùa bửu châu, chua buu chau cu chi

12. Nguyện lớn thứ mười một

“Ta nguyện đời sau, khi chứng được đạo Bồ đề, nếu có chúng hữu tình nào bị sự đói khát hoành hành, đến nỗi vì tìm miếng ăn phải tạo các nghiệp dữ, hễ nghe danh hiệu của ta rồi chuyên niệm thọ trì thì trước hết, ta dùng các món ăn trân bảo ban bố cho thân họ được no đủ, sau ta mới đem chánh pháp nhiệm mầu kiến lập cho họ được cảnh giới an lạc hoàn toàn”.

Chúng ta có thể thấy hiện nay có rất nhiều những người đói khổ, nghèo cùng vì mưu cầu miếng ăn mà tạo những nghiệp như sát sanh, trộm cướp và các việc ác pháp. Vì vậy ở đây, Đức Phật Dược Sư Lưu Ly phát một đại nguyện lớn là nếu những người này sau khi nghe đến danh hiệu của Ngài, chuyên tâm thọ trì thì tức khắc được ban cho thức ăn trân bảo mà no đủ. Sau đó Ngài sẽ dùng chánh pháp để kiến lập cho họ được cảnh giới an lạc. Trong Kinh Bát Đại Nhân Giác, Đức Phật có dạy:

Đệ lục giác tri
Bần khổ đa oán
Hoành kết ác duyên
Bồ tát bố thí
Đẳng niệm oán thân
Bất niệm cựu ác
Bất tắng ác nhân.


Có nghĩa là, những người nghèo cùng khốn khổ đa phần hay oán trời trách đất, oán trách hoàn cảnh xã hội, oán trách cha mẹ, tất cả những người thân… từ đó dẫn tới việc hay kết các duyên ác. Nhưng theo tinh thần nhà Phật, sở dĩ ngày nay chúng ta ở trong hoàn cảnh nghèo khổ thiếu thốn là vì trong thời quá khứ mình không biết tu tập, không bố thí cúng dường, không tạo các việc thiện pháp. Do đó, Bồ Tát vì thương xót chúng sanh nên bố thí bình đẳng, không kể đó là người thân hay kẻ oán, trước là bố thí cơm ăn áo mặc, sau mới đem chánh pháp để giáo hóa chúng sanh.

Trong Kinh A Hàm, một hôm khi Đức Phật chuẩn bị thuyết pháp, có một vị cư sĩ bị mất bò nên ông vào rừng tìm con bò của mình. Sáng hôm đó, Đức Phật vào đại định thấy rằng trong pháp hội ngày hôm nay, vị cư sĩ này có một nhân duyên lớn với Phật, chỉ cần nghe một thời pháp thì ông sẽ chứng quả vị Tu Đà Hoàn, cho nên Đức Phật chờ ông. Sau khi ông tìm được bò rồi, Đức Phật biết khi ông đói bụng mà nghe pháp thì sẽ không thể thâm nhập được nên sai Tôn giả A Nan lấy cho ông một bát cơm. Tất cả hội chúng lúc đó đều không hề hoan hỷ, tuy nhiên sau khi ông ăn hết bát cơm rồi, ông ngồi chăm chú nghe pháp đoạn đầu, đoạn giữa, đoạn cuối. Trong lúc nghe pháp với tâm tịnh tín, ông chứng được quả vị Tu Đà Hoàn. Hiện nay, có nhiều quý Thầy, quý Sư cô làm những việc từ thiện cũng lại như thế. Ở những vùng đói khổ, nếu đem chánh pháp nói thì họ đang đói làm sao nghe được, cho nên trước phải dùng phương tiện giúp đỡ cho họ miếng ăn áo mặc,thuốc men, sau đó nói pháp thì họ mới nghe. Cho nên Bồ tát phải dùng đủ phương tiện thiện xảo để làm các việc thiện pháp và giáo hóa chúng sanh.

Đó là nói về sự. Còn bây giờ đi vào lý. Ở đây, chúng ta từ bao đời bị vô minh, tham chấp che lấp nên luôn đói khát về chánh pháp, vì thế Đức Phật mới dùng phương tiện thiện xảo ban bố cho chúng ta phương thuốc chánh pháp để chúng ta nhờ đó tu tập và chuyển hóa.

Trong Kinh A Hàm Đức Phật dạy có bốn loại thức ăn:

1/ Đoàn thực:

Đoàn thực nghĩa là thức ăn được vo tròn lại. Vào thời Đức Phật, các vị Tỳ kheo sau khi đi khất thực trở về, các Ngài dùng tay bốc thức ăn, vò viên lại rồi lấy từng viên cho vào miệng ăn rất từ tốn nên gọi là đoàn thực. 

Trong Kinh Tử Nhục thuộc bộ Kinh A Hàm, Đức Phật có lấy một ví dụ về đoàn thực như thế này: Ví như có hai vợ chồng và một đứa con đang đi trên sa mạc, vì bị đi lạc nên đều rất đói khát và khốn khổ. Hai vợ chồng suy nghĩ, nếu không ăn thịt đứa con thì cả ba người đều chết, mà ăn thịt đứa con thì hai vợ chồng vẫn còn có thể sanh đứa con khác, nghĩ thế cho nên cuối cùng đành làm thịt đứa con của mình. Đức Phật hỏi các vị Tỳ kheo:

- Này các thầy Tỳ kheo, trong lúc hai vợ chồng ăn thịt đứa con của mình thì có cảm thấy vui sướng không?

Các thầy Tỳ kheo đáp:

- Bạch Thế Tôn, hai vợ chồng vì sự sống mới buộc phải ăn thịt đứa con nên không thể nào vui được.

Đức Phật nói:

- Cũng như thế, này các thầy Tỳ kheo, các ông là người xuất gia, từ bỏ hết tất cả cho nên trong lúc ăn uống cũng không được khen đây là món ngon, không được chê đây là món dở.

Chúng ta sống trong cuộc đời này, mình ăn để nuôi thân, dùng thân này để tu tập. Trong tam đề ngũ quán có năm pháp quán: 1. Quán thức ăn này từ đâu đem đến, công của người khó nhọc biết bao; 2. Quán ta có công đức nhiều hay ít mà thọ thức ăn này; 3. Quán dùng thức ăn này để trị tham sân si; 4. Quán ta thọ thức ăn này để trị bệnh đói gầy; 5. Quán vì thành tựu đạo nghiệp nên thọ nhận thức ăn này.

Như vậy qua bài kinh này, Đức Phật chỉ cho chúng ta thấy rằng chúng ta đi xuất gia không phải vì ăn uống mà vì một con đường sáng sủa, cao siêu, vi diệu, vì vậy trong lúc ăn cơm phải xem như đang dùng thịt đứa con của mình, quán như vậy thì không còn khen chê món này ngon, món kia dở nữa… Người xuất gia dùng thức ăn để tu chứ không phải đi tu để kiếm thức ăn, ai khởi niệm xuất gia vì miếng ăn là thua ngay từ đầu rồi. Đức Phật cũng dạy các vị Tỳ kheo là phải thừa tự pháp chứ không phải thừa tự thức ăn. Kể cả các vị cư sĩ, mỗi khi  đến những nơi tu tập mà được dịp dùng bữa thì cũng không nên khen chê thức ăn.

Trong Kinh Trung A Hàm có kể một câu chuyện. Một hôm Đức Phật đi khất thực về. Sau khi thọ thực xong còn nửa bình bát cơm, Đức Phật gọi một vị Tỳ kheo lên và để cho vị đó dùng. Thầy Tỳ kheo khi đó từ chối dùng thức ăn còn lại của Phật. Sau đó Phật lại gọi một vị Tỳ kheo khác đến dùng nửa bát cơm còn lại trong bình bát của mình, lúc này vị Tỳ kheo thứ hai nghĩ rằng nếu vị ấy dùng được thức ăn của Thế Tôn thì sẽ rất có phước nên ăn hết chỗ cơm còn lại trong bình bát của Phật. Lúc bấy giờ, Đức Thế Tôn họp đại chúng lại và khen ngợi vị Tỳ kheo thứ nhất không dùng đồ ăn của Phật mới là người giữ được kho báu của Như Lai, thừa tự chánh pháp của Như Lai, sau này vị ấy có thể dùng chánh pháp để hoằng pháp làm lợi lạc cho chúng sanh. Còn vị thứ hai thì không được. Vì nhân duyên đó mà đức Phật thuyết bài kinh Thừa Tự Pháp chứ không thừa tự thức ăn.

Qua tinh thần nói trên, thức ăn mà Đức Phật Dược Sư Lưu Ly muốn đem đến cho chúng ta tiêu biểu cho con đường chánh pháp mà chúng ta tu học. Chúng ta đang nghe pháp là chúng ta đang dùng thức ăn, mà khi Đức Phật nói pháp hay sau này khi các vị Tỳ kheo tụng đọc Bát Nhã thì đồ ăn trân bảo ở cõi chư thiên cũng không bằng, vì ở cõi trời không được nghe những bài kinh bài thường hay được tụng ở cõi Ta bà này. Cho nên chúng ta phải thấy rằng mình rất may mắn vì tuy là phàm phu nhưng vẫn còn được nghe thánh pháp của Phật, nhất là những bộ Bát Nhã.

2/ Xúc Thực:

Xúc thực tức là sáu căn tiếp xúc với sáu trần. Có thể lấy ví dụ như những người ghiền đồ cổ, họ chỉ cần nhìn một món đồ yêu thích thì không cần ăn uống, hay nghe một bài nhạc hay thì quên luôn đói hoặc như có những người thích xem phim, chơi game đến nỗi không ăn không uống. Đây chính là xúc thực. Khi các căn của chúng ta tiếp xúc với trần cảnh rồi duyên theo đó đắm đuối thì đó là chúng ta bị độc hại. Đức Phật ví dụ như hình ảnh một con bò bị lột da rồi đem xuống sông thì hàng vạn con trùng sẽ bám vào để hút máu, sau đó mang con bò lên cột vào gốc cây cổ thụ thì hàng vạn con trùng trên cây bám vào hút máu tiếp. Phật nói chúng sanh ở cõi này không khác gì con bò bị lột da và bị những con vi trùng hút máu, nhưng vẫn còn may mắn hơn con bò bị lột da vì chúng ta còn có bộ da giới luật mà Đức Phật đã thương xót trao cho chúng ta để bao bọc lại. Giới là phương tiện chúng ta phải giữ để không cho những con vi trùng sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp kia hút máu mình. Đối với người cư sĩ tại gia là 5 giới, còn đối với người xuất gia là 10 giới, 250 giới hay 10 giới trọng và 48 giới khinh của Bồ Tát giới. Nhờ bộ da giới luật này mà chúng ta sống còn trong cuộc đời này để tu học, nếu không sẽ bị những con trùng hút máu đến khô kiệt và cuối cùng khi chết đi sẽ sanh vào các cõi dữ.

3/ Tư Niệm Thực:

Là những loại thức ăn bằng vọng tưởng. Chẳng hạn như khi chúng ta ngồi thiền mà bị chi phối bởi các tư tưởng mong muốn làm chức này, chức kia thì trong lúc khởi niệm như vậy là chúng ta đang bị những niệm này xâm lấn. Khi khởi những niệm tật đố, san tham, ích kỷ thì đó là những thức ăn ác pháp, còn khi khởi những niệm thiện như xây bệnh viện, làm cầu, làm từ thiện hay ráng tu thành Phật thành Tổ để cứu giúp chúng sanh… thì đó là những thức ăn thiện pháp.

Đức Phật ví dụ: “Khi chúng ta bị những tư niệm thực bất thiện xâm chiếm, bị danh lợi tài sắc lôi cuốn thì giống như bị hai người lực sĩ ném xuống hầm lửa lớn đang bốc cháy”, có nghĩa là mắt mình duyên theo và dính mắc với sắc là đang bị lửa thiêu đốt, tai duyên theo tiếng khen chê là dính mắc với thanh, cũng đang bị lửa thiêu đốt. Hàng ngày chúng ta đều bị những ngọn lửa tham, sân, si, lửa vô thường thiêu đốt.

Cũng trong Kinh A Hàm, Đức Phật nói cho ba ngàn vị Tỳ kheo về lửa: “Này các Tỳ kheo, vạn pháp đang bốc cháy; bốc cháy ở mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý; bốc cháy bằng lửa tham dục, lửa hận thù, lửa si mê ảo vọng. Những thứ lửa này thiêu đốt các ông hàng ngày”. Sau thời pháp đó thì ba ngàn vị Tỳ kheo đều chứng quả A-la-hán.

Trong Kinh Pháp Hoa, Đức Phật nói: “Tam giới vô an, du như hỏa trạch”, có nghĩa là chúng sanh ở trong tam giới giống như đang ở trong nhà lửa. Giống như câu chuyện Tô Đông Pha được Thiền sư Phật Ấn khai thị bằng bảy cái lò lửa. Ở đây Đức Phật biết chúng sanh lỡ tạo nghiệp rồi nên tạm chấp nhận cho chúng ta có một lò lửa thôi, vì vậy mới chế ra giới không tà dâm. Nhiều người chấp nhận quy y Tam Bảo rồi mà vẫn lén tìm thêm 2, 3 cái lò lửa nữa hơ cho vui, thậm chí có người có tận 9, 10 cái lò lửa … Vì vậy Đức Phật mới dạy rằng mình đang bị bốc cháy, cho nên chúng ta cần phải dừng nghiệp lại, nếu không sẽ bị thiêu đốt mãi mãi trong hầm lửa mà không thoát ra được.

4/ Thức Thực:

Chúng ta mỗi ngày đều ăn ba bữa sáng, trưa, chiều để nuôi thân, còn tâm chúng ta thì ăn những thức ăn gì? Nếu mình khéo thì tụng kinh, đọc sách, sám hối, ngồi thiền… Đó là những loại thức ăn giúp tâm hóa giải hận thù và tăng trưởng thiện pháp.

Đức Phật ví dụ như, buổi sáng có ông vua ra lệnh cho người lính cầm 300 lưỡi dao nhọn cắm sâu vào thân người tử tù. Buổi chiều, vua hỏi: “Người tử tù đó bây giờ ra sao?”. Người lính nói “Tâu bệ hạ, còn sống”. Vua ra lệnh: “Lấy 300 lưỡi dao đâm tiếp vào người nó”. Và buổi tối vua lại hỏi: “Người tử tội còn sống hay không?”, Người lính nói: “Vẫn còn sống”. Ông vua nói: “Hãy lấy 300 lưỡi dao đâm qua thân thể nó một lần nữa”. Qua câu chuyện này ngụ ý, mỗi ngày chúng sanh đều dùng vô số lưỡi dao độc tố như tham dục, sân hận, si mê và ảo vọng, tật đố, ganh tỵ, thù oán và vô minh… đâm vào tâm thức của mình. Ví dụ buổi sáng mình xuống bếp làm, bị tri khố sai gì đó mà mình không thích, cự lại rồi nổi sân, thế là bị 300 mũi dao đâm vào, sau đó về liêu kể với người bạn đồng liêu rồi lại nổi sân lên, vậy là tiếp tục đâm 300 mũi dao vào tâm mình, tối đến ngồi thiền, hình ảnh buổi sáng hiện lên khiến mình lại thấy bực bội, khó chịu, thế là lại bị 300 mũi dao nữa, như thế cả ngày bị đâm liên tiếp. Cho nên Đức Phật nói có hai người, một người ngu và một người trí, cùng bị mũi dao cắm vào người, cả hai đều cảm thấy đau khổ. Nhưng người có trí thì biết rút dao ra và băng bó vết thương lại, có nghĩa là buông xả, không nhớ đến sự việc đó nữa, còn người ngu thì sau khi bị đâm rồi, về nhà không những không rút dao ra mà còn tự đâm tiếp vào mình, tức là không buông xả được, giữ sự bực tức trong lòng rồi đi kể cho những người khác, cho nên tâm thức bị đâm tan nát.

Đức Phật nói thức thực này rất nguy hiểm, nhưng nếu chúng ta khéo chuyển hóa thì có thể tưới tẩm những hạt giống thiện pháp. Có một Thiền sư ngày trước thấy tăng chúng tu sao mà kỳ nên Ngài bực mình, bèn vào trong thất tu, sau hai mươi năm thì Ngài ngộ đạo. Khi ra thất, Ngài nói ngày xưa chính mình kỳ chứ không ai kỳ cả. Khi đã thấu hiểu được pháp giới, các Ngài thấy rất rõ mỗi chúng sanh đều có nghiệp duyên nên các Ngài thông cảm, bao dung, vì vậy mà không còn bị trói buộc trong cuộc đời này.

Qua những điểm này, chúng ta thấy rằng thức ăn mà Đức Phật Dược Sư Lưu Ly Quang Vương muốn nhắc đến tiêu biểu cho sự đói khát của chúng sanh bị tật đố, ích kỷ, xan tham dày vò nên Ngài mới dùng phương tiện thiện xảo chỉ ra chánh pháp để chúng ta tu học và chuyển hóa.

Trong Kinh Hoa Nghiêm, Đức Phật dạy: “Thiện nam tử, trong các thứ cúng dường, pháp cúng dường là hơn hết”.

Chúng ta bố thí, cúng dường thức ăn thức uống thì chỉ nuôi cái thân tạm bợ này thôi. Còn cúng dường chánh pháp thì chính là nuôi pháp thân huệ mạng của chúng ta. Chẳng hạn khi chúng ta đến các Thiền viện, cúng dường cho quý Thầy một số tiền có thể giá trị rất lớn, nhưng chỉ cần quý Hòa thượng nói cho mình một bài pháp ngắn, khiến mình vơi bớt đi những nỗi đau khổ trong cuộc đời thì cái nào giá trị hơn? Có nhiều người có danh vọng lớn, tài sản nhiều, rất giàu có nhưng vẫn gặp những đau khổ trong cuộc đời mà không giải quyết nổi, dẫn đến bế tắc và muốn tự sát, nhưng khi gặp và được Hòa thượng hay các quý Thầy chỉ dạy khiến họ tỉnh ra nên họ bỏ ý định tự tử, quay trở về luôn làm những việc thiện pháp giúp ích mọi người, cuộc đời từ đó trở nên tốt đẹp hơn. Cho nên trong các thứ cúng dường, pháp cúng dường là hơn hết. 

Pháp cúng dường là:

- Không bỏ hạnh Bồ Tát để cúng dường: có nghĩa là chúng ta luôn phát nguyện lớn đi vào cuộc đời này để làm hạnh Bồ Tát, làm tất cả các việc thiện pháp và hồi hướng đến quả vị Phật. Làm được như vậy thì chúng ta không chấp chước, không trụ vào tướng bố thí. Như thế mới được cái hạnh Bồ Tát.

- Tu hành đúng theo lời Phật dạy để cúng dường: có nghĩa là chúng ta phải tu theo đúng lời Phật dạy: “Này các thầy Tỳ kheo! Hãy tự mình thắp đuốc lên mà đi, thắp đuốc với chánh pháp. Này các thầy Tỳ kheo! Hãy tự làm hòn đảo cho chính mình, không nương tựa một ai khác”. Đó chính là y theo lời Phật dạy để tu.

- Làm lợi ích cho chúng sanh để cúng dường: ví dụ như làm công quả, nấu cơm, nhặt rau, đun nước…, làm tất cả những việc phục vụ chúng sanh, mang lại lợi ích cho chúng sanh, đó cũng chính là vun đắp công đức cho chính mình. Mình phải thấy rằng, có những người muốn làm nhưng bị bệnh, bị tật nguyền nên không thể làm được, mình còn may mắn hơn bao nhiêu người đó cho nên những gì có thể làm được trong khả năng của mình để làm lợi ích cho người thì cứ cố gắng hết sức mà làm.

- Chịu khổ thế cho chúng sanh để cúng dường.

Trong tinh thần của nhà Phật, cho dù là người xuất gia hay cư sĩ, Đức Phật luôn nêu cao tinh thần “Thừa tự pháp chứ không thừa tự thức ăn”.

Kinh Duy Ma Cật có kể: “Lúc bấy giờ, khi đang ở trong thất của ông Duy Ma Cật, sắp đến giờ ăn, Xá lợi Phất khởi niệm rằng: “Sắp đến giờ ăn rồi, các Bồ Tát sẽ ăn gì đây?”. Duy Ma Cật biết được ý đó mới nói: “Này Xá Lợi Phất, ông đến đây vì pháp hay vì thức ăn?”. Lúc này, Tôn giả Xá lợi Phất đỏ mặt trả lời: “Tôi đến đây vì pháp, không phải vì thức ăn”.

Vì sao Xá Lợi Phất chỉ cần khởi niệm thôi mà Duy Ma Cật đã biết? Bởi vì Ngài không phải cư sĩ bình thường mà chính là Kim Túc Như Lai đến từ phương Đông đến trợ giáo cho Đức Phật Thích Ca Mâu Ni hiển bày pháp môn đốn giáo, vì thời đó các hàng Thanh Văn không tin vào pháp môn này. Trong Kinh thường nói: “Nhất Phật xuất thế, vạn Phật hộ trì”, khi một Đức Phật xuất hiện ở đời thì có rất nhiều vị cổ Phật xuống để hỗ trợ.

“Sau khi Tôn giả Xá lợi Phật trả lời, Ngài Duy Ma Cật nói: “Nếu ngài muốn ăn, xin chờ giây lát, sẽ có một bữa ăn hiếm có”. Tức thì, Duy Ma Cật nhập vào chánh định tam muội và dùng thần thông lực chỉ cho hội chúng thấy ở phương trên, cách thế giới này bốn mươi hai hà sa cõi Phật, có một nước tên là Chúng Hương, có Phật hiệu là Hương Tích hiện nay đang ở tại thế”.

Tích là chứa nhóm, Hương Tích là chứa nhóm những mùi hương công đức. Phật Hương Tích tượng trưng cho ngũ phần pháp thân hương là hương giới, hương định, hương huệ, hương giải thoát, hương giải thoát tri kiến.

“Khi ấy, Ngài Duy Ma Cật vẫn không rời chỗ ngồi, ở ngay trước đại chúng dùng thần lực tạo ra một vị hóa Bồ Tát, rồi Ngài bảo vị hóa Bồ Tát lên cõi trời Chúng Hương, gặp Phật Hương Tích để xin một chút thức ăn dư mang về thế giới Ta Bà để làm Phật sự”.

Đây là tiêu biểu cho pháp môn đốn giáo, tức là từ thể mà khởi ra diệu dụng. Ngài Duy Ma Cật không rời chỗ ngồi, tiêu biểu cho tâm bất động, hóa ra một vị Bồ Tát nữa, tiêu biểu cho từ nơi tâm thể bất động mà khởi ra diệu dụng. Cho nên đọc kinh điển Đại thừa, nếu mình không có công phu tu tập về pháp môn đốn giáo sẽ thấy khó hiểu ở điểm này mà tưởng rằng ngài Duy Ma Cật có thần thông. Theo tinh thần của pháp môn đốn giáo thượng thừa, làm tất cả các việc thiện pháp mà tâm bất động, không trụ tất cả các việc thiện pháp thì đó gọi “Vô tác diệu lực”, như thế mới là công đức. Còn chúng ta làm các việc thiện pháp mà chấp trước thì đó là phước đức. Như vua Lương Võ Đế xây chùa, độ tăng mà chấp trước nên Tổ Bồ Đề Đạt Ma nói không có công đức, còn nếu ông làm mà không chấp trước, không thấy tướng nhân, tướng ngã, tướng chúng sanh, tướng thọ giả thì đó mới là công đức. Có người cho rằng Lục Tổ Huệ Năng sau khi triệt ngộ nơi Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn, Ngài vào trong rừng ở với nhóm thợ săn, nếu Ngài không khởi niệm thiện thì làm sao thả những con vật như nai, hổ, thỏ… Nhưng người đó không hiểu rằng các Ngài khi đó ở trong “Vô Tác Diệu Lực” nên dù có làm bất cứ việc gì cũng đều là thiện pháp, đều trong tinh thần giới định tuệ, vẫn ở trong bất động mà ứng xử ra các pháp.

“Bấy giờ, hóa Bồ Tát trao cho Duy Ma Cật bát cơm thơm, mùi hương thức ăn này lan tỏa khắp thành Tỳ-da-ly rồi lan khắp thế giới Ta Bà, lan khắp ba ngàn đại thiên thế giới”.

Đây là cơm gì mà mùi hương tỏa ngát như vậy? Ở đây, thức ăn thơm là ngầm chỉ cho người có giới đức, có hương giới, hương định, hương tuệ, hương giải thoát, hương giải thoát tri kiến. Chúng ta đọc kinh điển Đại thừa phải hiểu nghĩa như vậy, nếu y kinh mà giải nghĩa thì oan cho chư Phật ba đời, mà nói pháp lìa kinh một chữ thì đồng với ma nói. Trong Kinh Pháp cú, Đức Phật dạy:

Hương các loài hoa thơm
Không bay ngược chiều gió
Nhưng hương người đức hạnh
Ngược gió khắp tung bay
Chỉ có bậc chân nhân
Tỏa khắp mọi phương trời.


Chẳng hạn chúng ta nghe ở miền Nam có một vị Hòa thượng nào đó tu hành giới hạnh thanh tịnh, có năng lực vi diệu độ chúng. Tuy mình ở miền Bắc không thấy mặt Ngài nhưng vẫn nghe qua băng đĩa, đó là hương thơm của người đức hạnh bay đi khắp nơi, không chỉ ở miền Bắc mà khắp nơi trên thế giới đều nghe được hương thơm đức hạnh này. Đây chính là hình ảnh tiêu biểu cho người giữ giới hạnh thanh tịnh chứ không đơn thuần là mùi hương bình thường. Hương thơm đức hạnh này không cần nói, không cần khoe ra hay quảng cáo mà tự bay tỏa khắp nơi. Thường những ai mà hay tung hô bản thân mình thì đều là Bồ Tát rởm. Trong Kinh Lăng Nghiêm, Đức Phật nói Bồ Tát không bao giờ tự xưng là Bồ Tát. Chỉ khi nào gần tịch, các Ngài muốn dạy cho chúng sanh biết thì để lại những bài kệ rồi đi, ví dụ như Ngài Hàn Sơn và Ngài Thập Đắc là hóa thân của Bồ Tát Văn Thù và Bồ Tát Phổ Hiền, sau khi bị phát hiện ra thân thế thì các Ngài nói “Giặc, giặc” rồi chạy vào núi mất tích, sau này khi gom lại được 3000 bài kệ thì mọi người mới biết đó là Bồ Tát Văn Thù và Bồ Tát Phổ Hiền. Hoặc như ngài Phong Cang là hóa thân của Đức Phật A Di Đà xuống, hay cỡi cọp… Các Ngài xuống thế giới này một cách thầm lặng chứ không như một số người bây giờ, đi đâu cũng tự xưng mình là A-la-hán, Bồ Tát, cho nên chúng ta phải biết điều này để phân biệt cho khỏi bị lầm.

“Các Bà la môn, cư sĩ trong thành Tỳ-da-ly ngửi được mùi hương ấy đều thấy thân tâm nhẹ nhàng, thanh thản, đồng ca ngợi sự hiếm có này”.

Quý Phật tử để ý, tại sao khi đến gần các vị Hòa thượng thì chúng ta cảm thấy rất vui thích, rất hạnh phúc, nhiều khi muốn ngồi gần cả ngày mà không chán. Đó chính là do năng lực giới đức của các Ngài nên mình ngồi gần mà cảm thấy được vui vẻ, thảnh thơi, an ổn. Trong Kinh diễn tả, có một con chim bị thợ săn đuổi bắt nên sợ hãi bay đi, khi đến gần Ngài Xá Lợi Phất, nó núp trong lòng Ngài nhưng vẫn còn run rẩy, nhưng khi bay đến chỗ Đức Phật thì được an ổn hoàn toàn, không còn sợ hãi. Đức Phật dạy rằng do Ngài Xá Lợi Phất tập khí sân vẫn còn sót lại, còn Đức Phật thì đã hết. Hoặc như ở trong một Tăng đường mà có một vị tu hành thanh tịnh thì chúng ta ở chung cũng cảm thấy thanh tịnh, an ổn. Còn nếu ở trong một Tăng đường mà mười người đều cãi nhau hết thì chúng ta ở chung cũng thấy như địa ngục, địa ngục ở đây chính là “Bất như ý xứ”, là những điều làm mình không vui, không như ý… Tăng được gọi là hòa hợp và Ni cũng vậy, khi có bốn vị Tăng trở lên ở cùng một chỗ, hòa hợp với nhau thì mới gọi là Tăng đoàn. Khi đến một môi trường hòa hợp thì chỉ cần vừa ghé vào là chúng ta cũng có thể cảm nhận được hương vị hòa hợp ở nơi đó.

“Lúc bấy giờ, có một vị Trưởng giả tên là Nguyệt Cái, dẫn tám mươi bốn ngàn người đến nhà ông Duy Ma Cật. Chúng quỷ thần, chư Thiên khắp các cõi trời Dục giới và Sắc giới ngửi được mùi hương này cũng tìm đến”.

Thường những nơi nào mà có người tu hành thanh tịnh, có giới đức thì những chúng sanh từ cõi hữu hình cho đến cõi vô hình đều tìm đến để ngửi mùi hương giới hạnh chứ không phải là ngửi mùi hương nhang. Khi họ đến, nghe mình tụng đọc kinh sách hay khai thị thì họ có thể thức tỉnh được.

“Bồ Tát Duy Ma Cật nói: ‘Cơm này được xông ướp bằng hương đại bi của Như Lai. Đừng ăn cơm bằng ý hạ liệt vì như vậy khó có thể mà tiêu hóa được’”.

Có nghĩa là cơm này không phải nấu bằng gạo mà cơm này được huân ướp bằng sức đại bi của Thế Tôn. Vì thế nếu ăn cơm bằng ý hạ liệt, có nghĩa là tâm nhỏ hẹp, chỉ làm lợi ích cho mình thôi, không muốn ở cõi này để tu tập và chuyển hóa chúng sanh mà tự tu tự độ thì ăn cơm này không tiêu, mà phải khởi lòng đại bi thương xót chúng sanh thì mới ăn cơm này được.

“Có một vị Thanh Văn nghĩ rằng: ‘Cơm này rất ít mà đại chúng lại đông, mọi người đều ăn thì làm sao mà đủ?’. Lúc bấy giờ, vị hóa Bồ Tát liền nói: ‘Đừng lấy đức nhỏ và trí nhỏ của hàng Thanh Văn mà đo lường phước huệ vô lượng của Như Lai. Nước của bốn đại dương còn có thể cạn chứ cơm này thì vô tận. Nếu mọi người đều vo cơm thành viên lớn như núi Tu Di, ăn cho đến một kiếp vẫn chưa hết cơm. Vì sao? Vì đó là thức ăn còn dư của người đã thành tựu công đức vô tận giới hương, định hương, tuệ hương, giải thoát hương, giải thoát tri kiến hương. Do vậy không bao giờ cùng tận’”.

Một hôm có vị Tăng đến hỏi Thiền sư Duy Chánh: “Thầy là Thiền sư mà sao không chịu nói pháp?” thì Ngài trả lời rằng: “Ngày đêm nhờ vạn tượng đều diễn bày. Ngôn ngữ có gián đoạn mà pháp này thì vô tận nên gọi là tạo hóa vô tận tạng”. Quý vị có thấy vạn pháp hiện tại đang diễn bày chánh pháp của Đức Phật không? Chẳng hạn hiện tượng sóng thần, lũ lụt, thiên tai… là nói pháp gì? Vô thường. Hoặc chúng ta thấy cuộc đời luôn có những sự kiện bức bách mình thì đó là nói về pháp Khổ. Hoặc chúng ta xây nhà rồi bị thiên tai đánh sập thì đó là nói về pháp Không, Hoặc sau khi tu tập một thời gian chúng ta thấy bản thân là vô ngã. Tất cả vạn pháp ngày đêm đều phô bày hiện tượng vô thường, khổ, không, vô ngã. Đây chính là Pháp vô tận tạng. Cũng như vậy, ở đây, cơm này chỉ cho thức ăn dư thừa của người đã thành tựu công đức ngũ phần pháp thân hương. Một khi đã thành tựu công đức này rồi thì cơm vô tận, dùng cả đời cũng không hết. Chúng ta phải tu như thế nào để ăn được thức ăn này và thức ăn này khắp ba ngàn đại thiên thế giới ăn cũng không bao giờ thiếu. Hương giới định tuệ này là hương vô tướng, mà đã vô tướng thì dầu cho thời gian, không gian biến đổi cũng không bao giờ mất.

“Những ai ăn cơm này đều cảm thấy an ổn như chư Bồ Tát ở quốc độ Nhất Thiết Lạc Trang Nghiêm. Từ chân lông họ tỏa ra mùi thơm vi diệu như mùi thơm các loài cây trên cõi Chúng Hương”.

Ở đây muốn nói rằng một khi một người trở về con đường chánh niệm, thúc thủ sáu căn thì tự nhiên họ đi, đứng, ngồi, nằm đều trang nghiêm thanh tịnh.

Giảng sư

Kết nối

Tổng số truy cập
Thông tin: 21.069
Pháp Âm: 32.943
Đang truy cập
Hôm qua: 20164
Tổng truy cập: 2.138.937
Số người đang online: 484
hosting gia re , web gia re tron goi , thiet ke web tron goi tai ho chi minh, binh duong, vung tau, ha noi, ca nuoc , thiet ke web tron goi gia re