chuabuuchau.com.vn,chuabuuchau, chua buu chau, chùa bửu châu, chua buu chau cu chi

3. Nguyện lớn thứ hai

“Ta nguyện đời sau, khi được đạo Bồ đề, thân ta như ngọc lưu ly, trong ngoài sáng suốt, tinh sạch hoàn toàn không có một chút nhơ bẩn nào hết.Ánh quang minh chói sáng khắp nơi, công đức cao vòi vọi và an trú giữa từng lưới dệt bằng tia sáng, tỏ hơn vầng nhật nguyệt. Chúng sanh trong cõi u minh đều nhờ ánh sáng ấy mà tâm trí được mở mang và tùy ý muốn đi đến chỗ nào để làm các sự nghiệp gì cũng đều được cả”.

Đức Phật tuyên thuyết các bộ kinh Đại thừa đều nhằm mục đích giúp cho chúng sanh được ngộ nhập Phật tri kiến. Do đó những bộ kinh Đại thừa chúng ta phải lột cho hết thì mới thấy được mật nghĩa của Đức Phật, còn không khéo thì sẽ bị kinh dẫn, nhiều khi mình đọc không hiểu nên bị lầm, bị chấp. Đức Phật từng nói: “Theo ta mà không hiểu ta  tức là phỉ báng ta”, mình tu theo Phật mà không hiểu hết ý nghĩa những lời Đức Phật dạy thì cũng đồng nghĩa là phỉ báng Ngài. Hay các Ngài nói giảng kinh điển Đại thừa như lảy tròng con mắt, nếu lảy không khéo thì đui mắt, tức là những lời dạy của Đức Phật trong kinh điển Đại thừa mà mình giảng không khéo, không diễn đạt hết ý nghĩa khiến cho chúng sanh bị lầm chấp, mê theo thì người hướng dẫn tội còn nặng hơn cả những người Chiên-đà-la chuyên giết mổ, sát sanh. Vì tất cả những lời nói của Đức Phật trong kinh điển đều có mật nghĩa, nếu không tu tập, nghiên cứu kĩ càng mà nói sai sẽ làm cho cả một thế hệ dài bị lầm mê, sai lệch hết. Cho nên ở đây, chúng tôi muốn giảng giải rõ ràng cho quý vị thấy được tinh thần của nhà Thiền nằm rải rác trong các bộ kinh Đại thừa.

“Ta nguyện đời sau, khi được đạo Bồ đề, thân ta như ngọc lưu ly, trong ngoài sáng suốt, tinh sạch hoàn toàn không có một chút nhơ bẩn nào hết…”.

Chúng ta đừng hiểu hạn hẹp rằng đây chỉ là nguyện lớn của Đức Phật Dược Sư Lưu Ly Quang Vương, mà phải hiểu rằng đó cũng chính là nguyện lớn trong mỗi con người chúng ta. Lục Tổ dạy: “Vô niệm vi tông, vô tướng vi thể, vô trụ vi bổn”, nếu đối trên các niệm mà chúng ta không chạy theo niệm, không bị niệm dẫn dắt thì lúc đó cũng giống như ngọc lưu ly trong ngoài sáng suốt. Còn đối trên các tướng mà chúng ta không trụ nơi tướng, không dính mắc nơi tướng thì chúng ta cùng đi trên một con đường với Đức Phật Dược Sư.

Trong Thiền thoại có ghi lại một câu chuyện: Một hôm có vị Tăng đang tụng kinh Kim Cang, đến đoạn “Nhược kiến chư tướng phi tướng tức kiến Như Lai” thì Thiền sư Đại Huệ Tông Cảo lúc đó tình cờ đi ngang qua, nghe thấy thì liền nói rằng:

- Ông tụng sai rồi, Kinh Kim Cang Đức Phật đâu có nói như thế.

Tăng chắp tay:

- Thưa Ngài, bộ kinh này con đã đọc hàng trăm lần, mà trong văn kinh Đức Phật dạy rất rõ: “Nhược kiến chư tướng phi tướng tức kiến Như Lai” (Nếu thấy các tướng mà chẳng phải tướng, tức thấy Như Lai). Ngài nói sai là sai ở chỗ nào?

Thiền sư Đại Huệ nói:

- Tôi đã đọc rất nhiều lần, Đức Thế Tôn dạy cho các Tỳ kheo là “Nhược kiến chư tướng thị tướng tức kiến Như Lai” (Nếu thấy các tướng là tướng, tức thấy Như Lai).

Tăng nói:

- Thầy đọc sai rồi, “Chẳng phải tướng” chứ không phải “Là tướng”.

Lúc này Thiền sư Đại Huệ nói:

- Kinh điển Đức Phật nói ra, những người mù không ai tụng đọc được hết.

Qua câu chuyện của vị tăng và Thiền sư Đại Huệ, quý vị thấy sao? Có khi đọc những bộ kinh hay những đoạn nhân duyên như thế này, phải đến nhiều năm sau, khi đã trải qua một thời gian tu tập có kết quả nhất định thì quay trở lại đọc mới vỡ ra và thấu hiểu được cái điểm hay của nó, huống chi mình coi có một ngày hai ngày thì làm sao thấu được. Có nhiều vị thấy một bộ kinh nào đó cao quá, ví dụ như Kinh Đại Bát Niết Bàn, Kinh Lăng Nghiêm, Kinh Lăng Già… cho nên không đọc mà bỏ qua. Thì đúng là bây giờ mình chưa hiểu, chưa thấu tột được, nhưng cứ coi đi coi lại thì một năm, hai năm sau, thậm chí nhiều năm sau tùy theo sức công phu của mình mà có thể thấu suốt được. Nói vậy để quý vị đừng nản chí mà hãy cố gắng hơn nữa, bởi vì nhiều khi Đức Phật nói kinh này là dành cho lớp Đại học, trong khi đó chúng ta mới học lớp một, lớp hai nên không hiểu được là chuyện bình thường. Mình phải vừa học, vừa tu, vừa chứng nghiệm thì mới thâm nhập được những bộ kinh của Đức Phật. Thiền sư Đại Huệ Tông Cảo nói nếu thấy các tướng là tướng, ví dụ như nhìn thấy cái đồng hồ là cái đồng hồ, tức là thấy Như Lai, còn nếu thấy các tướng chẳng phải tướng là còn qua quán chiếu, mà qua quán chiếu thì còn năng, còn sở. Năng sở chưa tiêu vong, chủ khách chưa dứt nên chưa đạt được đến chỗ “Vô tướng làm thể”. Còn lấy “Vô trụ làm gốc”, có nghĩa là nếu đối với các pháp mà chúng ta không trụ, không dính mắc, không chấp trước, đó là gốc của sự tu đạo. Thấy được như thế thì chúng ta đồng với chỗ “Thân như ngọc lưu ly, trong ngoài sáng suốt” của Đức Phật Dược Sư. Thân Phật trong ngoài sáng suốt, còn chúng ta trong ngoài có sáng suốt được không? Được. Tuy mình không được hẳn như Phật nhưng mình được trên từng niệm. Chẳng hạn như ngoài miệng mình nói thiện mà trong tâm mình không thiện thì trong ngoài không được sáng suốt, còn miệng mình nói “Mô Phật” và trong tâm mình cũng có Phật thì trong ngoài đồng nhất. Cho nên Lục Tổ nói: “Miệng nói lời thiện mà trong tâm không thiện thì không có định tuệ, miệng nói lời thiện mà trong tâm có thiện tức định tuệ bình đẳng”.

Ở gần thiền viện của Thiền sư Bankei có một người bị mù bẩm sinh, ông có một khả năng đặc biệt là khi lắng tai nghe người khác nói chuyện thì có thể biết người đó đang khổ đau, vui sướng hay là có tâm ích kỉ, tật đố với nhau. Sau khi Thiền sư Bankei tịch thì ông nói rằng: “Tôi sống ở đây đã hơn bốn mươi năm nhưng chưa bao giờ nghe thấy ai nói chuyện với nhau mà có được lời nói chân thật như Thiền sư Bankei. Mọi người đến chúc phúc cho nhau giàu sang, hạnh phúc nhưng trong lòng luôn có lẫn sự tật đố, ích kỷ. Còn ngược lại, Thiền sư Bankei thì vui với cái vui của người khác, buồn với nỗi buồn của người khác, trong ngoài đồng nhất”. Cho nên mình tu là tu trên từng niệm. Nghiệm lại ngay nơi bản thân mình, nếu khi nào gặp lại một người bạn học ngày xưa nhà khó khăn mà bây giờ nhà cao, cửa rộng thì dù chúng ta có chúc mừng, miệng có mỉm cười thì trong lòng có sự day dứt, bồn chồn. Biết như vậy rồi thì chúng ta phải chuyển liền để cho định tuệ được bình đẳng, trong ngoài đồng nhất.

Trong Kinh Tương Ưng Bộ, Đức Phật nói: “Này các Tỳ kheo, trên đời này có bốn hạng người. Hạng thứ nhất là ngoài chín trong sống. Này các Tỳ kheo, hạng người thứ hai là ngoài sống trong chín. Này các Tỳ kheo, hạng người thứ ba là ngoài sống trong sống. Này các Tỳ kheo, hạng người thứ tư là ngoài chín trong chín”.

Hạng người thứ nhất, ngoài chín trong sống, là chỉ những người bên ngoài tưởng như đã sáng đạo nên sống thanh thản, không lo lắng nhưng thực chất bên trong thì chưa. Hạng người thứ hai, ngoài sống trong chín, là chỉ những người bên ngoài sống không có oai nghi, phép tắc, ăn nói thô tháo không đúng như lời Đức Phật dạy mà bên trong lại là bậc sáng suốt, sáng đạo, ví dụ như Ngài Tế Công vào đời Bắc Tống. Hạng người thứ ba, ngoài sống trong sống, là chỉ những người bên ngoài thì không có phép tắc, bên trong thì chưa sáng đạo. Hạng người thứ tư, ngoài chín trong chín, là chỉ những người trong ngoài sáng suốt. Trong bốn loại người trên thì hạng người nào xứng đáng giữ gìn gia bảo của Như Lai? Đó là hạng người thứ tư, ngoài chín trong chín. Trong câu chuyện “Thoát vòng tục lụy” của Hòa thượng Tinh Vân viết về hai huynh đệ, sư huynh là Ngọc Lam và sư đệ là Ngọc Lâm. Ngọc Laâm tuy hành Bồ Tát đạo nhưng giống như hạng người thứ hai, tức là bên ngoài sống, bên trong chín, cho nên dù sáng đạo rồi nhưng bên ngoài không có oai nghi giống như nhà Phật nên giáo hóa, độ chúng sanh không được rộng lớn. Còn Ngọc Lâm thì giống như hạng người thứ tư nên làm Quốc Sư, độ được rất nhiều người. Vào thời này, dù là người xuất gia hay cư sĩ thì cũng phải ráng tu làm sao cho được như hạng người thứ tư thì dù chưa được như Phật, như Tổ nhưng chúng ta cũng tránh được việc phá kiến người khác. Chẳng hạn như đi đến thiền viện mà chúng ta không chịu khó tu tập, chỉ lo tụm năm, tụm bảy nói chuyện thị phi thì mọi người thấy mình không có sự chuyển hóa sẽ đặt dấu hỏi, do đó chúng ta phải tự kiểm điểm lại.

Rồi lại đến câu: “Tinh sạch hoàn toàn không có một chút nhơ bẩn nào hết”. Ngài Quy Sơn Linh Hựu nói: “Các ông một niệm ác dấy lên thì như đem phẩn bỏ vào trong tâm”. Cho nên khi chúng ta đi vệ sinh thì trước khi lên bồn cầu mình đọc bài kệ:

Khi đại tiểu tiện
Nguyện cho chúng sanh
Bỏ tham, sân, si
Dứt sạch điều ác.


Tập quán chiếu như vậy một thời gian thì trí tuệ tự nhiên phát sinh. Chúng sanh ở đây là chúng sanh ở trong tâm mình, dứt bỏ tham, sân, si. Nói thẳng ra thì khi mình ăn cơm, bánh mì, cháo bún…, đem vào thì rất tinh khiết, sạch sẽ nhưng khi cơ thể mình thải ra thì có dơ không? Trong lúc đó, mình quán chiếu sâu sắc những chất uế tạp đó như là tham, là sân, là si rồi mình bỏ nó, dứt sạch các điều ác.

Đức Phật Dược Sư Lưu Ly Quang Vương lại phát nguyện tiếp:

“…Ánh quang minh chói sáng khắp nơi, công đức cao vòi vọi và an trú giữa từng lưới dệt bằng tia sáng, tỏ hơn vầng nhật nguyệt. Chúng sanh trong cõi u minh đều nhờ ánh sáng ấy mà tâm trí được mở mang và tùy ý muốn đi đến chỗ nào để làm các sự nghiệp gì cũng đều được cả”.

Đây qua phần công phu. Sau khi Đức Phật chứng được quả vị Bồ đề rồi thì thân Ngài tỏa ra vầng hào quang chiếu cùng khắp. Bây giờ khoa học bằng những thiết bị chuyên dụng đã chứng minh được rằng, những vị tu hành có năng lực lớn thì xung quanh có vầng hào quang lớn. Cho nên khi những vị tu hành có giới đức lớn đến khai thị cho những người sắp mất thì người sắp mất cảm thấy an ổn, hạnh phúc, mát mẻ nên chết được siêu thoát. Những vị nào đi hộ niệm thì tâm phải thuần tịnh, nhu nhuyến, rải lòng từ ra cho người sắp mất thì họ mới cảm nhận được ánh sáng của mình mà an vui lên đường, còn mình đến mà  rải toàn tâm sân hận thì coi chừng họ chết bị đọa liền. Đức Phật sau khi thành đạo trở về thành Ca-tỳ-la-vệ thì La Hầu La đi bên cạnh Phật nói: “Bạch Thầy, con đi bên cạnh Thầy thấy mát mẻ quá”. Đó là vì ánh sáng từ bi của Phật phủ trùm hết xung quanh. Lại có một con chim bị thợ săn rượt bắt, bay đến núp dưới vạt áo cà sa của Tôn giả Xá Lợi Phất mà vẫn run rẩy nhưng khi bay đến chỗ của Đức Phật thì hết run. Tôn giả Xá Lợi Phất thấy thế liền thắc mắc hỏi Đức Phật. Đức Phật nói: “Mặc dầu ông đã chứng quả vị A-la-hán nhưng tập khí sân trong thời quá khứ vẫn còn sót lại chút ít nên con chim này vẫn cảm được. Còn ta đã dứt sạch hết tất cả, con chim này cảm nhận được nguồn ánh sáng của ta nên được an ổn, hạnh phúc”. Quý vị thấy trong thực tế, những người làm nghề đi buôn trâu, bò, chó.. cứ đến đầu làng là những con vật này kêu sủa ầm ĩ, hay một người thường sân hận mặt lúc nào cũng cau có, mệt mỏi, khác hẳn khuôn mặt của những người hay rải lòng từ. Ngay như bản thân mình, khi đi qua một quán bán đồ mặn thì cảm nhận khác và khi qua một quán bán đồ ăn chay cảm nhận khác. Cho nên ánh sáng chiếu cùng khắp, từng lưới từng lưới dệt đều tỏa ánh sáng, ngay cả đến lỗ chân lông của Đức Phật cũng tỏa hào quang. Ánh sáng này chính là ánh sáng Bát Nhã, trí tuệ Bát Nhã, muốn có được ánh sáng này thì hàng ngày chúng ta phải tụng đọc văn tự Bát Nhã, quán chiếu Bát Nhã rồi đến thật tướng Bát Nhã.

Do đó Thiền sư Thiên Cơ dạy:

Hạ thủ công phu tu thiền hoàn toàn ở chỗ giác ngộ. Cần biết phàm phu một niệm giác tức một niệm là Phật, Phật một niệm chẳng giác tức một niệm là phàm phuBởi vì giác tức là Phật, Phật tức là giác. Phật với phàm phu chỉ tại giác cùng chẳng giác mà thôi”. Muốn cho ánh sáng được cùng khắp thì chúng ta phải hạ thủ công phu tu thiền hoàn toàn ở chỗ giác ngộ, có nghĩa là một niệm sân vừa dấy khởi chúng ta phải biết liền, vừa ra cửa là chạm lúa mạ của người, chúng ta phải kéo trở về cái tự tánh biết của mình.

Tâm người có Giác tức là có Phật. Giác hay mở cửa lục độ, hay vượt qua kiếp hải ba A-tăng-kỳ”. Mình vừa giác thôi thì ngay trong giờ phút thực tại đó mình đã mở cửa bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí huệ. Ví dụ như khi đang ngồi thiền mà có một con muỗi đến chích, ngay lúc đó nếu mình không giác thì sẽ đập chết nó, còn nếu mình có giác thì quán chiếu chúng sanh này khổ quá nên bố thí cho giọt máu. Như vậy ngay trong lúc bố thí mà không đập nó thì có trì giới, nó chích mình biết đau mà vẫn chịu được và ngồi yên thì có nhẫn nhục. Mình ráng cố gắng ngồi cho hết giờ không xả ra thì đó là tinh tấn, mà tinh tấn thì có thiền định và trí huệ kế bên. Cái gì thấy được từng niệm đang diễn tiến mà chúng ta làm chủ được niệm thì đó là lục độ mở cửa ra. Như vậy đâu cần có tiền mới bố thí, đang tu cũng có lục độ.

“Khắp làm lợi ích như cát bụi, khuếch trương phước huệ, được sáu thứ thần thông, tròn đầy quả Phật trong một đời. Cảnh khổ trong địa ngục, nào vạc dầu sôi, sông băng, nghe đến giác liền biến thành rừng hương, uống nước đồng sôi, nuốt hoàn sắt nóng, nghe đến giác thảy đều sanh Tịnh độ”.

Trong lúc mình thực hành lục độ là bố thí, trì giới, nhẫn nhục ,tinh tấn, thiền định và trí huệ thì ngay lúc đó mình làm lợi ích rất là nhiều. Đơn cử như trong khi nấu ăn cho đại chúng, nếu thân tâm thanh tịnh thì phước đức rất lớn nhưng nếu không cẩn thận thì tai họa cũng rất lớn, như trong khi nấu mà thân tâm không được thanh tịnh, tay dơ mà bốc đồ ăn, hoặc rau thì chỉ rửa một hoặc hai nước thôi thì mình đều bị tổn phước rất nhiều. Cho nên hàng ngày chúng ta phải luôn luôn tập giác, vì có những lúc do chưa được chánh niệm hoàn toàn nên chúng ta phạm vào những giới luật trong nhà Phật mà mình đã thọ, đáng lẽ ra mình phải vào địa ngục vì tâm u minh, không sáng suốt, sông băng và vạc dầu sôi ví như tham, sân, si, nhưng nhờ có giác nên sanh Tịnh độ.

Trong Kinh có kể một câu chuyện: Có một bà già cúng một sấp y cho một thầy Tỳ kheo, khi bà đi, đứng, nằm, ngồi đều nhớ đến công đức đó nên rất vui sướng, hạnh phúc, nhưng khi chết, chỉ vì một niệm sân hận với đứa con trai mà bà bị rớt xuống hỏa ngục. Vừa rớt xuống hỏa ngục thấy nóng quá, tự nhiên bà khởi niệm nhớ lại là trong cuộc đời đã có lần cúng một sấp y cho thầy Tỳ kheo, thì ngay đó hỏa ngục liền biến thành một tòa sen lớn đưa thẳng bà lên cung trời Đao Lợi. Nhiều người không hiểu, nói ở nhà tu tâm cũng được, cần gì đến chùa, nhưng hiểu như vậy là lầm. Chúng ta thường đến chùa để nhớ những cảnh trang nghiêm, thanh tịnh, làm cho tâm mình cũng được thanh tịnh theo. Khi vừa chết, do thường nhớ đến Phật Pháp Tăng thì mình sẽ sanh về cõi lành. Còn ở nhà chắc gì đã tu tâm được, có lúc vợ chồng hòa thuận, có lúc cãi lộn, xích mích, rồi vướng vào ái dục thì khi chết mà nhớ mấy việc đó thì đi vào đường xấu. Các vị Thiền sư sau khi đắc đạo còn phải lên núi tu tập một thời gian từ ba mươi đến năm mươi năm huống nữa là chúng ta. Vì thế tốt nhất là cứ khoảng nửa tháng hoặc một tháng, quý vị nên đến chùa một lần, giống như pin hết thì đến sạc rồi về nhà dùng thôi.

Trong Kinh Pháp Hoa diễn tả lại ánh sáng của Đức Phật: “Bấy giờ, Đức Phật từ nơi tướng lông trắng giữa chặng mày phóng ra luồng hào quang chiếu khắp cả một muôn tám nghìn cõi ở Phương Đông, dưới thời chiếu đến địa ngục A Tỳ, trên suốt thấu trời sắc cứu kính. Chúng sanh ở cõi này đều thấy cả sáu loài chúng sanh ở các cõi kia”. Ở đây chúng ta phải đặt câu hỏi: Tại sao trong kinh Đại thừa thường chỉ nói về phương Đông mà không nói về phương Tây, phương Nam hay phương Bắc? Phương Đông tiêu biểu cho đất tâm, trong tâm không một niệm thì ánh sáng trí huệ chiếu sáng cùng khắp. Đức Phật phóng hào quang ngay ở chặng mày mà không phải ở đầu hay ở ngực là tương ưng với “Chữ bát mở ra đà sáng quắc”, chữ bát là không dính mắc hai bên, phân biệt đối đãi. Dù có lên thiên đường hay là xuống địa ngục thì Phật tánh cũng không thêm, không bớt. “Chúng sanh ở cõi này đều thấy cả sáu loài chúng sanh ở các cõi khác”, tức là một khi chúng ta nương vào ánh sáng Đức Phật Dược Sư Lưu Ly Quang Vương và thể nhập vào tâm định tĩnh rồi thì có thể nhìn rõ sáu cõi. Có những lúc chúng ta ngồi gần nhau mà không có thấy nhau vì còn niệm năng, sở, chủ, khách, thương, ghét rồi những niệm tật đố, san tham, ích kỉ. Cho nên khi bỏ hết được những niệm xấu, ác đó thì chúng ta mới có thể nhìn rõ sáu cõi được.

Thiền sư Viên Chiếu dạy: “Hãy xem ánh sáng tốt lành rực rỡ, chiếu sáng cả đại Thiên thế giới, trăm ức vi trần cõi nước, đại hải, núi Tu di, mặt trời, mặt trăng, bốn châu thiên hạ, cho đến cõi Phật vi trần đều ở trong ánh sáng phát hiển ra cùng một lúc. Này các nhân giả! Có thấy chăng? Nếu thấy được thì chính các ông đang tự thân ở trong ánh sáng tốt lành đó, không thấy được đừng nói là ánh sáng tốt lành chẳng có chiếu soi. Hãy tham!”

Nếu chúng ta thấy được từng niệm để chuyển hóa thì chúng ta đang ở trong ánh sáng của Ngài. Như vậy bộ Kinh Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật là nói cho chúng ta, để chúng ta tu và chứng nghiệm ánh sáng đó chứ không phải để chúng ta đọc tụng rồi cầu xin an ổn. Có một điểm hay là, dù cho chúng ta chưa thể nhập được ánh sáng đó nhưng nó vẫn luôn luôn chiếu soi qua sáu căn: Mắt thấy, tai nghe, mũi ngửi, lưỡi nếm, thân xúc chạm, cho nên tuy mình chưa đồng với Phật Tổ nhưng hàng ngày chúng ta luôn được trải nghiệm đồng với Phật tổ. Chính vì lẽ đó, ngài Hám Sơn nói: “Hàng ngày sống trong viên giác mà chưa từng viên giác, chính đó là phàm phu. Hàng ngày sống trong viên giác mà được nửa phần viên giác chính là Bồ Tát. Hàng ngày sống trong viên giác mà trụ trì trong cảnh giới viên giác chính là Phật Đà”. Như vậy mình cũng có viên giác giống như Phật nhưng chưa sống được thì là phàm phu, cũng ăn uống ngủ nghỉ như Phật nhưng mình ăn không biết là mình đang ăn, uống không biết là mình đang uống…, nên mình và Phật ngày một cách xa. Cho nên Ngài Hàm Thị nói: “Cái chỗ tầm thường nhất của chúng sanh chính là chỗ Phật và Bồ Tát để mắt đến”, chúng ta thường tìm những gì lạ, mờ mờ ảo ảo mà không biết rằng chính những chuyện tầm thường nhất cũng là chỗ phi thường nhất.

Do đó, trong Kinh Vô Lượng Thọ, Phật dạy: “Nếu chúng sanh trên mỗi cõi có ai gặp ánh sáng này thì ba chất dơ tham, sân, si đều tiêu diệt, thân ý nhu nhuyến, vui mừng khấp khởi, lòng lành bởi đó mà sinh ra. Ví như họ ở trong tam đồ rất khổ mà một khi thấy được ánh sáng này rồi thì đều được nghỉ ngơi, không khổ não nữa. Sau khi qua đời, họ đều nhờ đó mà được giải thoát”. Vừa thấy ánh sáng này thì ngay lập tức tham, sân, si mất, khi đó thân tâm vui sướng, an ổn. Vì thế Sơ Tổ Đạt Ma nói: “Tâm tịnh thì thích việc lành. Thể nhiễm thì ưa việc ác”, quý vị để ý khi nào tâm mình thanh tịnh và vui vẻ, an ổn thì mình thích làm việc lành như bố thí, cúng dường, phóng sanh, ấn tống kinh sách, giúp đỡ mọi người….

Giảng sư

Kết nối

Tổng số truy cập
Thông tin: 21.070
Pháp Âm: 32.943
Đang truy cập
Hôm qua: 21011
Tổng truy cập: 2.158.209
Số người đang online: 519
hosting gia re , web gia re tron goi , thiet ke web tron goi tai ho chi minh, binh duong, vung tau, ha noi, ca nuoc , thiet ke web tron goi gia re