chuabuuchau.com.vn,chuabuuchau, chua buu chau, chùa bửu châu, chua buu chau cu chi

5. Nguyện lớn thứ tư

“Ta nguyện đời sau, khi chứng đạo Bồ đề, nếu có chúng hữu tình nào tu theo ngoại đạo thì ta khiến họ quay về an trụ trong đạo Bồ đề, hoặc có những người tu theo hạnh Thanh Văn, Độc Giác, Duyên Giác thì ta cũng lấy giáo pháp Đại thừa mà dạy bảo cho họ”.

Đây là phần quan trọng mà những người tu Phật cần phải nắm bắt. Thường chúng ta hay hiểu ngoại đạo là những người bên xứ Ấn Độ không tu theo đạo Phật, nhưng theo tinh thần của nhà Thiền thì “Ngoại tâm cầu Phật, danh vi ngoại đạo”, có nghĩa ngoài tâm cầu Phật thì đó là ngoại đạo. Cho nên trong nhà Phật, dù tu theo pháp môn nào cũng không rời tự tâm. Chẳng hạn tu pháp môn thiền thì theo tinh thần của Tổ Bồ Đề Đạt Ma là “Trực chỉ nhân tâm, kiến tánh thành Phật”, pháp môn của Tịnh Độ tông là “Nhất tâm bất loạn” hay là “Tâm tịnh Phật độ tịnh”, pháp môn của Mật tông là “Tam mật tương ưng, tức khắc thành Phật”, có nghĩa là thân, khẩu, ý tương ưng. Các pháp môn tuy phương tiện có sai khác nhưng trọng tâm là đi thẳng vào tâm để nhận ra ông Phật ngay nơi tự tâm mình. Rải rác trong kinh điển có nhắc đến nhiều, ở đây chia tạm ra có tất cả năm loại thiền:

Hành giả dẫn điện từ rốn ra sau lưng, lên đầu rồi xuống rốn, dẫn điện chạy vòng vòng như vậy là chuyển luân xa”. Thiền này ngồi quán tưởng như có dòng điện chạy qua bảy luân xa. Loại thiền này không phải tinh thần của đạo Phật, không phải chỗ trọng tâm để vượt thoát cảnh giới luân hồi.

Hành giả mở các khiếu huyệt trên thân rồi xuất hồn bay đi học đạo”, tức là ngồi ở một nơi rồi xuất hồn bay đi học đạo ở chỗ này, chỗ khác. Có một Phật tử bên Canada nói với chúng tôi rằng anh cũng tu theo pháp môn này. Chúng tôi chỉ lấy ví dụ rằng: Ví như anh có một căn nhà tiện nghi đầy đủ, nhưng khi anh đi ra ngoài mà không khóa cửa hoặc không có người nào đó giữ nhà thì ăn trộm vô lấy hết đồ. Cũng vậy, thân của mình mà không có ông chủ thì ai vào? Ma, quỷ, tinh mị… sẽ vào. Cho nên tu một thời gian thì lẩn thẩn đi ra ngoài đường, nói lảm nhảm là vậy.

Hành giả thở vô, giữ hơi tại đan điền một lúc rồi mới thở ra, lâu ngày bụng dưới lớn dần lên như người nữ có thai, nên gọi là thiền thai tức”. Tức là khi hít hơi vào thì ém khí xuống bụng dưới rồi mới thở ra, lâu dần thì bụng dưới to lên như người phụ nữ mang bầu khoảng ba, bốn tháng.

Thiền này bên đạo giáo hay đạo tiên hay tu và đôi khi cũng được chút ít thần thông nhưng cũng không nhằm vào mục đích giác ngộ giải thoát. Có câu chuyện: Ông Lữ Đồng Tân quê ở Kinh Châu, vào cuối đời Đường ông đi thi ba lần không đậu, buồn quá nên quay về nhà. Lúc ghé vào quán rượu ở Trường An, tình cờ gặp Chung Hán Ly dạy cho phép thuật trường sinh. Ông bèn theo phép đó tu hành và có chút thần thông, bay trên không một cách tự tại, vân du khắp thiên hạ. Một hôm ông đi qua chùa Hải Hội ở Lô Sơn thì thấy từ dưới tỏa lên một luồng hào quang rực rỡ, biết thế nào ở đây cũng có bậc đạo nhân nên ông bay xuống, quả nhiên gặp Hòa thượng Hoàng Long Huệ Nam đang trong hội giảng pháp. Khi bay xuống thì ông viết trên lầu chuông bốn câu kệ:

Ngày một thanh nhàn thân tự tại
Sáu thần hòa hợp báu bình an
Đan điền có ngọc thôi hỏi đạo
Đối cảnh vô tâm chớ hỏi thiền.


Vì đến vào ngày giảng pháp nên ông cũng vào dự, nhưng vừa vào pháp hội thì Thiền sư Hoàng Long nói:

- Hôm nay có kẻ đến trộm pháp, lão tăng không giảng nữa.

Ngày xưa, các vị Thiền sư giảng pháp mà có những người tu theo pháp môn khác vào thì các Ngài liền biết và không giảng nữa, bởi vì họ không hiểu được giáo pháp của Đức Phật, dẫn đến phỉ báng và khinh thường pháp tối thượng nên sẽ bị đọa địa ngục. Như Lục Tổ Huệ Năng nói: “Nếu không phải là hàng đồng kiến đồng hành, ở trong pháp môn khác thì không được truyền trao, e tổn tiền nhân kia”.

Lúc này, Lữ Đồng Tân bước ra thi lễ, hỏi:

- Thế nào là trong một hạt thóc chứa cả thế giới, trong cái chảo nửa thăng nấu cả núi sông?

Thiền sư Hoàng Long mắng:

- Đó là đồ quỷ giữ thây chết

Đồng Tân nói:

- Làm sao trong chiếc túi này lại có thuốc trường sinh bất tử?

Thiền sư Hoàng Long bảo:

- Dù ông có sống tám muôn kiếp, chưa khỏi lạc vào ngoan không.

“Ngoan không” tức là chìm trong nước chết, không có diệu dụng. Như ông Uất Đầu Lam Phất tu đạt đến chỗ sống tám mươi bốn ngàn kiếp ở cõi trời phi tưởng phi phi tưởng xứ, nhưng hết kiếp đó thì ông cũng đọa vào loài súc sinh, làm con chồn phi ly, trên ăn chim mà dưới ăn cá, hết làm loài chồn phi ly thì không biết bao nhiêu kiếp đọa dưới địa ngục. Tại sao như vậy? Trong Kinh kể rõ: Vì ông tu được năm thứ thần thông nên bay trên không trung rất tự tại. Vua rất quý kính ông nên thường cúng dường hậu hĩ. Một lần vua đi vắng nên dặn công chúa ở nhà thay vua tiếp đón và cúng dường. Cô công chúa này rất đẹp, khi thành kính quỳ xuống cúng dường thì vô tình bàn tay cô chạm vào chân ông, khi đó ông lỡ khởi một niệm dục nên mất thần thông, sau đó không bay về được. Ông bèn nói dối là muốn đi bằng xe ngựa về để chào dân làng. Sau khi về thì ông đi một mạch lên núi ngồi tu thiền định, nhưng lúc này trên trời thì chim kêu, dưới nước thì cá quậy làm ông không tài nào vào định được. Bực quá ông mới nguyền rằng sau này sẽ làm con chồn, trên thì ăn chim mà dưới thì ăn cá. Vì lời nguyền lúc sân hận đó nên Đức Phật nói ông sau khi hưởng hết tám mươi bốn ngàn kiếp ở cõi trời phi tưởng phi phi tưởng xứ rồi sẽ đọa làm loài súc sanh.

Lại kể tiếp đến câu chuyện của Lữ Đồng Tân. Sau khi nghe Thiền sư nói xong thì ông nổi sân, phóng kiếm đến chém Thiền sư Hoàng Long. Quý vị thấy, ở trên thì ông nói là “Đan điền có ngọc thôi hỏi đạo. Đối cảnh vô tâm chớ hỏi thiền”, mà đến đây thì ông quên mất, tuy rằng có thần thông bay đi tự tại nhưng tham sân si vẫn còn. Thiền sư  đưa tay chỉ một cái, kiếm rơi xuống đất. Đồng Tân không lượm kiếm lên được bèn lễ lạy sám hối, thưa hỏi Phật pháp.

Thiền sư Hoàng Long hỏi:

- Không hỏi chuyện chiếc chảo nửa thăng nấu cả núi sông, chỉ hỏi trong một hạt thóc chứa cả thế giới là sao?

Đồng Tân ngay đây liền khế hội huyền chỉ, đọc bài kệ sám hối:

Bỏ quách bị bao, đập nát đàn
Từ nay chẳng thiết luyện bạc vàng
Từ khi gặp được Hoàng Long dạy
Mới biết lâu nay dụng công lầm.


Ông quy y với Thiền sư Hoàng Long và từ đó đi theo con đường thiền tập.

Trong nhà Phật kị nhất là có ngũ thông (thiên nhãn thông, thiên nhĩ thông, tha tâm thông, thần túc thông, túc mạng thông) mà lậu tận thông thì chưa có. Như mình ngồi đây mà nghe ai nói ở đâu có thần thông là kéo nhau đi xem ngay, nội có chút xíu đó mà chúng ta đã bị họ dẫn dụ, cho nên mới nói Phật tử thời nay rất dễ bị lừa chứ vào thời Đức Phật thì không dễ như vậy. Vừa rồi chúng tôi đi qua Miến Điện để thăm các trường thiền, một số vị nói chuyện với Thầy Trụ trì Trúc Lâm là họ thấy cái này, thấy cái kia. Thầy nói, dù cho thấy được tám mươi bốn vạn kiếp nhưng chưa bao giờ, dù một phút giây, được thấy và chạm trán với cái tâm của mình thì cũng uổng dụng công.

Cho nên trong Kinh Tạp Thí Dụ, quyển Hạ có ghi: Thuở xưa ở nước Kế Tân có một thầy Tỳ kheo mở rộng giáo hóa, đệ tử của Ngài có vài trăm người theo học, trong đó có người chứng được tứ thiền, có người có được năm thứ thần thông, có người chứng quả Tu-đà-hoàn, có người chứng quả A-la-hán. Lúc bấy giờ có một người từ nước An Tức đến, thấy vị Tỳ kheo giáo hóa như thế thì rất vui mừng, xin làm đệ tử. Do túc duyên nên tu tập không bao lâu thì ông chứng được năm thứ thần thông. Vì trong thời gian ngắn mà chứng được ngũ thông nên ông hay thi thố, biểu diễn trước mọi người. Vị thầy thấy thế mới dặn: “Con tuy chứng được ngũ thông nhưng các hạt giống phiền não, nhiễm ô chưa hết sạch, con đừng sanh tâm kiêu ngạo ỷ vào sức thần thông đó”. Mặc dù được thầy dạy rất rõ ràng nhưng ông không những không nghe mà còn nổi sân, nghĩ thầy mình chắc không bằng nên tật đố, do đó ông bay về nước An Tức. Sau khi về đến nước An Tức, ông dùng thần thông bay ngang qua cung điện của vua. Vua nhìn thấy liền tự hỏi: “Sao lại có người phi hành trên hư không?” và mời ông xuống. Sau một hồi nói chuyện thì vua biết ông này đã chứng được năm thứ thần thông nên mời vào cung sống để hàng ngày gặp mặt, cúng dường và học đạo. Nhưng sau khi vào cung thì ở gần vua có rất nhiều cung tần mỹ nữ đẹp cho nên ông mải mê lao vào những điều đó khiến một thời gian sau nhiều cung nữ mang thai. Các vị đại thần biết chuyện tâu lại với vua, lúc đầu vua không tin một vị thầy đã chứng năm thứ thần thông lại có thể làm những việc ô nhục như thế. Sau cùng, vì nhiều người yêu cầu nên vua sai người đi kiểm tra thì quả là việc này có thật. Nhưng vì tình nghĩa, vua chỉ mời vị thầy này ra khỏi cung chứ không làm lớn chuyện. Sau khi ra khỏi cung, vì không còn tu nữa nên không có ai cúng dường, ông đi lang thang, đói khổ, sau đó trở thành ăn cướp. Băng cướp này gây ra những việc hết sức tày đình nào là giết người, cướp của… nên đích thân vua phải điều quân đi vây bắt. Sau khi bắt được toán cướp và nhận ra trong đó có cả vị thầy đã chứng ngũ thông ngày nào thì vua nói: “Ngày xưa vì gần phụ nữ nên xảy ra những chuyện đó, ta đã bỏ qua rồi. Tại sao bây giờ ra ngoài sao ông không tu lại đi ăn cướp?”. Ông này trả lời: “Vì như vậy nên không tu được nữa, ra đời đói quá nên bước đường cùng phải trở thành kẻ cướp”. Vua cũng vì lòng nhân từ, nghĩ ông đã từng tu, chứng được ngũ thông nên tha chết cho ông nhưng đuổi ra khỏi đất nước. Về phần ông khi bị đuổi ra khỏi đất nước, nghĩ rằng mình đã phạm giới dâm, sát, đạo nên quyết định đi làm mướn. Ông xin vào nhà của một đồ tể chuyên giết mổ trâu bò, heo…, làm được một thời gian thì do phước lực hết nên trong một lần đập xương con bò thì bị hai mảnh xương găm vào mắt làm ông bị đui. Sau khi bị đuổi việc, ông cầm cái bát mẻ đi xin ăn, cuộc sống thật là bi đát và đói khổ.

Một hôm, vị Tỳ kheo ở nước Kế Tân nhớ đến người đệ tử năm xưa nên dùng đạo nhãn để xem hiện giờ ông này công phu tu hành đến đâu, đang giáo hóa ở đâu, thì thấy người đệ tử của mình đang đi ăn xin. Bấy giờ trong số các đệ tử của Ngài có năm trăm người tu hành chỉ thích chứng năm thứ thần thông mà không muốn phá trừ các phiền não tham, sân, si để dứt hết mầm khổ đau. Lúc này vị thầy muốn cảnh tỉnh họ nên nói:

- Này các con, hãy chuẩn bị hành trang. Ngày mai chúng ta đi thăm sư huynh của các con, người mà năm xưa vì chứng ngũ thông xong đã không nghe lời chỉ bảo của ta mà bỏ đi.

Bấy giờ các đệ tử của Ngài vui mừng nói:

- Sau năm năm giáo hóa thì bây giờ chắc sư huynh của chúng con sự nghiệp rực rỡ, đệ tử chắc là đông lắm rồi.

Hôm sau, vì tất cả đều dùng thần thông nên chẳng bao lâu đã đến trước mặt người ăn xin. Các đệ tử rất ngạc nhiên, chưa nhận ra người trước mặt là vị sư huynh của họ ngày nào nên hỏi Thầy:

- Thưa Thầy, sao Thầy không đưa chúng con đến chỗ sư huynh mà lại đi đến chỗ người ăn xin mù mắt này?

Vị Thầy không nói gì, chỉ gọi tên thì ngay lập tức, người ăn xin mù mắt kia đánh rơi bát và quỳ xuống nói:

- Bạch Thầy, Thầy có phải là Thầy của con không?

- Đúng vậy, ta đến thăm con. Vì sao con lại đến nông nỗi này?

Người ăn xin lúc này nghẹn ngào khóc và kể lại câu chuyện xảy ra với mình từ trước tới giờ. Vị thầy quay ra bảo các đệ tử:

- Chứng năm thứ thần thông chưa hẳn đã sạch hết mọi ái nhiễm nên các con không được ỷ vào nó.

Khi nghe vị Thầy nhắc nhở thì năm trăm vị Tỳ kheo ngay tức khắc chứng quả A-la-hán, bước vào con đường vô sanh.

Qua câu chuyện trên, chúng ta thấy rằng dù đã chứng được năm thứ thần thông mà vẫn phạm phải giới dâm, giới sát rồi cuối cùng phải đi ăn xin kiếm ăn qua ngày. Còn ngày nay mình thì chỉ cần nghe thông tin là có người tìm được xác chết mất tích mấy chục năm thì lập tức tung hô, coi họ như thánh ngay mà không hiểu chút gì về giáo lý đạo Phật. Hòa thượng cũng từng nói: Nếu Phật tử đang ngồi nghe pháp mà nghe nói có ai đang bay ở ngoài thì chắc cũng bỏ ra ngoài xem chứ không ngồi nghe pháp nữa.

Ngày xưa, Tôn giả A Nậu Lâu Đà vào một buổi sáng đi khất thực về thì Ngài nhìn thấy một ngàn tiểu thiên thế giới. Ngài đến khoe với Tôn giả Xá Lợi Phất thì Tôn giả Xá Lợi Phất liền quở:

- Đây là cặn bã của tham, sân, si. Đấy mới chỉ là vỏ cây chứ chưa phải lõi cây.

A Nậu Lâu Đà quỳ xuống hỏi:

- Thưa sư huynh, cái nào mới là lõi cây?

Xá Lợi Phất nói:

- Là đoạn tận tham, sân, si, kiến hoặc và tư hoặc.

Tôn giả A Nậu Lâu Đà sau khi nghe xong, liền xin Đức Phật vào rừng để chuyên tu tập, sau ba tháng Ngài chứng quả A-la-hán.

Lấy một ví dụ cụ thể, đây là một cái ly, bây giờ bỏ vào trong đó một chiếc nhẫn và đậy nắp lại, đem đến cho hai ông thầy xem. Một thầy nói trong cái ly có chiếc nhẫn và một thầy nói không thấy gì cả. Vậy trong hai thầy, nói thật lòng quý vị kính ai hơn? Bảo đảm quý vị kính ông thầy thứ nhất hơn vì thầy đó nhìn xuyên qua được chiếc ly và thấy chiếc nhẫn. Quý Phật tử nếu không có phước duyên gặp được Hòa thượng thì rất dễ bị gạt, nhất là ở miền Bắc, nhiều người hay tin những chuyện đâu đâu, thấy cái gì là lạ thì tin nhiều khi muốn sạt nghiệp luôn. Nhưng đối với nhà Phật thì bất kể vị thầy nào, dù có nhìn thấy hay không nhìn thấy chiếc nhẫn trong ly mà đối với sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp không bị dính mắc thì vị đó có con mắt Bát Nhã, con mắt vô sanh.

Trong Kinh Tạp Thí Dụ có kể câu chuyện: Có một Sa di chứng được năm thứ thần thông nên rất hay coi thường thầy của mình. Thấy đệ tử như vậy nên một hôm vị thầy cảnh báo: “Con hay thích thể hiện mình có thần thông, con nên cẩn thận vì nếu không, có một lúc nào đó, con sẽ phải nhờ đến một người phụ nữ bị lòa nuôi con đó”. Sa di này không tin nên cãi lại và bỏ ra ngoài. Một hôm ông thầy đang làm lễ trên chánh điện thì chợt khởi niệm: “Phải chi bây giờ có một bông hoa sen ở núi Hy Mã lạp Sơn thì hay biết mấy”. Vừa khởi niệm xong thì ông Sa di vì chứng được ngũ thông, nhìn thấy tâm của thầy mình nên đưa cho ông thầy bông hoa sen liền. Ông thầy nhận bông hoa sen đó và lại tiếp tục cảnh báo đệ tử hãy cẩn thận trong việc sử dụng thần thông. Lần nầy thì Sa di nổi giận và bay lên không bỏ đi luôn. Trong lúc đang du ngoạn trên không thì ông nghe thấy một tiếng nhạc du dương từ dưới sông vọng lên, nhìn xuống thì thấy một cô gái rất xinh đẹp đang gánh nước. Vì tai chạy theo điệu nhạc và con mắt chạy theo bóng hình cô gái nên  Sa di này bị mất thần thông, nhưng nhờ vẫn còn một chút năng lực thiền định nên ông từ từ hạ xuống mặt đất. Vì nghĩ rằng do cô gái mà mình bị mất hết năng lực nên ông một mực bắt cô gái phải cưới. Cô gái từ chối vì thấy ông là đệ tử Phật và đã xuất gia nhưng ông vẫn khăng khăng bắt cô phải lấy mình, nếu không sẽ chết trước mặt cô. Cô gái một phần vì sợ, một phần thấy ông cũng khỏe mạnh, khôi ngô nên cuối cùng cũng đồng ý. Sau khi lấy vợ thì ông xin vào làm ở một xưởng dệt. Một hôm đi làm, đến giờ ăn cơm trưa, mọi người ai cũng được vợ hoặc người nhà mang cơm đến nhưng ông đợi mãi không thấy bóng dáng của vợ mình đâu. Quá trưa mới thấy vợ mình mang cơm đến, lúc này vừa đói khát cộng với cơn giận giữ đang phát hỏa nên tiện tay, ông vớ được cái thoi dệt vải và ném về phía người vợ. Không may cái thoi lại bay vào mắt của người vợ làm mù cả hai con mắt. Lúc này ông chợt tỉnh ngộ và khóc. Mọi  người vào an ủi thì ông nói: “Tôi khóc không phải vì việc làm vợ tôi mù, mà tôi khóc vì hối hận không nghe theo lời dạy của Thầy tôi ngày xưa”. Và từ đó ông cứ đi làm và mang tiền, mang gạo về, còn cô vợ thì bị mù, không đi làm được nên quanh năm suốt tháng ở nhà nấu cơm chờ ông về ăn.

Cho nên người nào nói nhìn thấy ba, bốn kiếp về trước thì cũng không dính dáng gì đến đạo Phật hết. Dù chứng được năm thứ thần thông mà chưa đạt lậu tận thông nên chấp, vì chấp nên nhân ngã tăng trưởng, mà khi đi sâu rồi mình mới thấy những dòng thác bộc lưu này rất là vi tế. Các vị Tổ Sư nói, đây là bờ mé của sinh tử. Chúng ta tu tập giống như đang đi trên lớp băng mỏng, đứng bên vực thẳm, sơ sẩy một chút là ngã là chết liền, vì vậy lúc nào cũng phải hết sức cẩn thận, không tin vào tâm mình. Trong Kinh Tứ Thập Nhị Chương, Phật dạy: “Chừng nào các ông chứng quả A-la-hán rồi thì lúc đó mới tin tâm mình”, còn chưa được như thế thì dù có chứng gì đi nữa thì cái tâm vẫn là tâm vọng tưởng, tâm lừa dối. Như mặt biển dù yên ả nhưng bên dưới là những con sóng đang cuộn, chỉ cần đủ duyên là nó cuốn mình vào những đường tội lỗi liền. Với tinh thần của các vị Tổ Sư thì các Ngài không dính mắc về con đường thần thông, mà quan trọng là trên các pháp, chúng ta không dính, không mắc, không bám, không trụ thì đó gọi là mắt Phật, mắt Bát Nhã. Con mắt này rất cần thiết trong suốt quãng đường tu học của chúng ta.

Thiền của đạo Phật trọng tâm phát huy trí tuệ, phá si mê, ngã chấp, pháp chấp để thoát khỏi cảnh luân hồi sanh tử. Tạm chia ra thiền quán hạnh và thiền trực chỉ.

1. Thiền Quán Hạnh của Hiển giáo thuộc về hành bố (con đường tiệm tu).

A. Thiền Nguyên thủy:
 Theo tinh thần Tứ Niệm Xứ:

- Quán thân bất tịnh: Là quán về ba mươi sáu thứ uế trược trong thân, quán thấy từng lóng xương khô. Nhưng sau khi quán thân bất tịnh thì phải trở về cái tịnh ngay chứ không sẽ dẫn đến tự sát vì lúc đó cảm thấy gớm ghiếc cái thân nhơ bẩn này. Vào thời Đức Phật, có sáu mươi vị Tỳ kheo sau khi quán thân bất tịnh, thấy gớm quá nên đều đi tự sát. Khi Đức Phật ra thất thấy thiếu mấy chục vị, hỏi ra thì mới biết nguyên do nên Ngài dạy rằng: “Các ông khi quán thân bất tịnh đến cùng cực rồi thì phải trở về cái tịnh lại”.

- Quán thọ là khổ: Dù là thọ vui hay buồn, tất cả các thọ đều là khổ hết.

- Quán Tâm vô thường:

- Quán Pháp Vô ngã:

Đó gọi là tiệm tu (hành bố).

B. Thiền Phật Giáo Đại thừa: Theo tinh thần Lục Diệu Pháp Môn của Ngài Trí Khải Đại Sư gồm sổ tức, tùy tức, chỉ, quán, hoàn, tịnh, hay nói cách khác là quán Trung, quán Giả, quán Không.

2. Thiền tông trực chỉ

Thiền tông trực chỉ còn gọi là Ngộ Tâm Thành Phật Thiền, là loại thiền chẳng lập văn tự, truyền riêng ngoài giáo điển. Thiền này chủ trương chỉ thẳng tâm người thấy tánh thành Phật cho nên cũng có thể gọi là Kiến tánh thành Phật thiền, hoặc Tức tâm là Phật thiền. Khởi thủy ban đầu của Thiền tông trực chỉ là “Niêm hoa thị chúng”, tức là trên hội Linh Sơn, Đức Phật đưa cành hoa sen lên, Ngài Ca Diếp mỉm cười được Phật truyền tâm ấn. Ngài Ca Diếp truyền xuống cho Ngài A Nan, cho đến vị Tổ thứ hai mươi tám là Tổ Bồ Đề Đạt Ma qua Trung Quốc làm Sơ Tổ nêu cao tinh thần:

Bất lập văn tự
Giáo ngoại biệt truyền
Trực chỉ nhân tâm
Kiến tánh thành Phật.


Chúng ta đừng nghĩ là vào thời Đức Phật không có pháp môn đốn giáo. Trong Chỉ Nguyệt Lục có ghi: Một hôm Đức Thế Tôn thăng tòa, đại chúng tụ tập xong, Bồ Tát Văn Thù dánh dùi bạch chúng: “Xem kĩ pháp của Pháp vương. Pháp của Pháp vương là như thế”. Bồ Tát nói xong thì Đức Thế Tôn liền xuống tòa. Quý vị phải chú ý đoạn Bồ Tát Văn Thù đánh dùi bạch chúng: “Xem kĩ pháp của Pháp Vương. Pháp của Pháp Vương là như thế”. Quý vị nghe chưa? Tiếng dùi là nhĩ căn viên thông, tức là nghe mà không bị chạy theo tiếng, đó là ngộ được pháp của Pháp vương rồi. Nghe tiếng chim, tiếng chó, tiếng mèo kêu, tất cả các tiếng đến cùng một lúc mà chỉ có một tánh nghe, mỗi pháp đều ở trong bản vị của nó, không can hệ gì đến tánh nghe hết.

Trong Ngũ Đăng Hội Nguyên ghi: Một hôm quan Đại phu Lục Hoàn Công đến hỏi Thiền sư Nam Tuyền:

- Con có nuôi một con ngỗng ở trong bình, bây giờ nó lớn rồi, con muốn lấy nó ra mà không muốn làm vỡ cái bình. Xin hỏi Thầy phải làm như thế nào?

Thiền sư gọi:

- Lục Hoàn Công

- Dạ

- Ra rồi.

Ngay đó ông quan liền ngộ.

Rồi một hôm, trước khi đi khất thực, Tôn giả A Nan đến hỏi Đức Phật:

- Kính bạch Thế Tôn, xin Thế Tôn dạy cho con về pháp khất thực của bảy Đức Phật đời trước?

Đức Phật gọi:

- A Nan

- Dạ

- Đi đi.

Ngay đó Tôn giả A Nan liền nhận được.

Như vậy, ai biết “Dạ”? Ai biết đi? Chỉ cần mình phản quang trở lại lại thì ngay tức khắc đầy đủ không thiếu thốn. Cho nên chúng ta thấy pháp đốn giáo đã có từ thời Đức Phật rồi.

Trong Kinh Tạp A Hàm, một hôm Đức Phật cùng các vị Tỳ kheo đi đến rừng Thân Thứ. Ngài cầm một nắm lá và hỏi:

- Này các Tỳ kheo, nắm lá trong tay ta nhiều hay lá trong rừng nhiều?

Các vị Tỳ kheo thưa:

- Bạch Thế Tôn, nắm lá trong tay Thế Tôn ít, còn lá trong rừng nhiều.

Đức Phật dạy:

- Những gì ta nói với các ông giống như nắm lá trong bàn tay của ta, còn cái mà ta chứng nghiệm thì như lá trong rừng.

Do đó, dù chúng ta có đọc hết tam tạng kinh điển thì đó cũng chỉ là lá trong bàn tay, còn cái mà chúng ta chứng nghiệm được thì như lá trong rừng, nói không được. Trong nhà thiền nói giống như người câm ăn mật vậy, dù có cảm nhận được vị ngọt nhưng khi người khác hỏi thì không nói, không diễn tả được.

Trong Kinh Niết Bàn kể, có một con rùa và một con cá ở cùng với nhau. Một hôm con rùa đi dạo chơi trên mặt đất, sau khi trở về thì con cá hỏi:

- Mấy bữa nay anh đi đâu mà tôi không nhìn thấy anh?

Rùa trả lời:

- Mấy hôm vừa rồi tôi đi lên bờ đi dạo, thấy nào là lâu đài, nhà cửa, con người huyên náo lắm.

Con cá không tin những chuyện đó và cho là rùa nói dóc. Dù cho rùa có giải thích cách mấy thì con cá vẫn không tin. Vì sao? Vì con cá đã bao giờ lên bờ đâu. Đức Phật nói cảnh giới Niết Bàn người nào tự thân chứng nghiệm thì mới thông cảm, cho nên đến với các Ngài, hợp cơ thì các Ngài mới nói chứ không thì lặng im. Do đó, trong Kinh Viên Giác Lược Giải, Ngài Hám Sơn nói: “Chỉ cần dùng một chữ Biết, đó là pháp tối thượng”, rất là phù hợp với pháp “Biết vọng không theo” của Hòa thượng Trúc Lâm.

Trong Kinh Tương Ưng Bộ, Đức Phật nói:

- Này các Tỳ kheo! Tâm tham biết rõ nội tâm các ông có tham, nội tâm ông có sân biết rõ nội tâm ông có sân, nội tâm ông có si biết rõ nội tâm ông đang có si. Này các Tỳ kheo! Biết rõ chúng có mặt hay không có mặt trong tâm vị ấy. Có phải chúng là những pháp do lòng tin được hiểu biết, hay do ưa thích được hiểu biết, hay do suy tư phương pháp được hiểu biết, hay do lắng nghe, kham nhẫn, thích thú, biện luận mới được?

Các Tỳ kheo thưa:

- Bạch Thế Tôn, không phải.

Đức Phật hỏi tiếp:

- Này các Tỳ kheo! Có phải các pháp này do thấy chúng với trí tuệ?

Các Tỳ kheo thưa:

- Lành thay, thưa Đức Thế Tôn, đúng như thế.

Như vậy cái gì thấy được tham, sân, si? Đó là cái biết bên trong nhưng chúng ta quên. Vì vậy Thiền sư Lâm Tế khai thị: “Người học thời nay không nhận được là bởi bám vào chữ nghĩa làm hiểu biết, ghi chép những lời nói của mấy lão già vào trong một cuốn sổ to rồi bọc kỹ lại năm ba lớp không cho người khác thấy, nói đó là huyền chỉ, giữ khư khư làm như của quý. Bọn mù! Các ông nhằm trên khúc xương khô tìm đâu ra nước”. Quý vị cầm cuốn kinh có vắt cách mấy cũng không ra nước, cho nên cuốn này là kinh chết, còn cái gọi là chân kinh sống động nhất thì ở ngay nơi tự thể của quý Phật tử. Mình ngồi học giáo lý ở đây là để hiểu biết, gọi nôm na là học bản đồ để tránh bị đi nhầm đường lạc lối mà thôi. Còn chúng ta tu được, chứng nghiệm được thì thấm vào tứ chi, phổ ra hành động, đó mới là một cuốn kinh sống.

Ở núi Tỷ Duệ  bên Nhật Bản có một Tàng Kinh Các thật lớn, có một số nhà sư vào những ngày rằm tháng tư, tháng bảy, tháng mười hay mùng một Tết thường đem kinh ra phơi ở chỗ đầu gió và nói rằng, người nào mà đón được gió, ngửi được hơi kinh thì bao nhiêu bệnh tật, phiền não đều tiêu trừ, do đó người ta đua nhau lên núi. Một hôm Thiền sư Nhất Hưu nghe đồn như vậy thì Ngài cũng lên. Đến nơi, Ngài kiếm chỗ đầu gió cởi trần phơi bụng nằm trên đám cỏ, nhiều tín đồ lên núi thấy như vậy rất là khó coi. Lúc này mấy vị sư ở tự viện rất bực và chạy ra nói:

- Chỗ này là chùa và là nơi chúng tôi phơi kinh, tại sao ông lại cởi áo ra nằm như thế?

Thiền sư trả lời:

- Ta cũng đang phơi kinh.

Mấy ông sư lại hỏi:

- Kinh ông đâu?

Thiền sư chỉ vào bụng và nói tiếp:

- Kinh ta đây. Kinh này biết ăn, biết ngủ, biết thuyết pháp, biết làm việc. Kinh của ta là kinh sống, còn kinh các ông phơi là kinh chết.

Từ đó về sau, mấy vị sư kia từ đó không còn phơi kinh nữa.

Cho nên kinh này mới là kinh sống động nhất, làm thiện, bao dung, tha thứ, làm tất cả các pháp lành, bi nguyện, đại nguyện cũng đều từ nơi chân kinh này. Cho nên Thiền sư Lâm Tế quở: Người học thời này không nhận được là bởi bám vào chữ nghĩa làm hiểu biết, rồi tranh cãi kinh này của Phật, kinh kia không phải của Phật mà không nhận được chân kinh ngay chính nơi mình.

Tiếp tục, trong Ngũ Đăng Hội Nguyên có chuyện: Thiền sư Thần Tán sau khi ngộ đạo ở chỗ Ngài Bá Trượng thì trở về chỗ vị thầy ngày trước. Khi về đến nơi, vị thầy hỏi:

- Mười năm qua ngươi đi được cái gì?

Ông trả lời:

- Con đi tay không, về cũng tay không.

Đó là gì? Là Kinh Bát Nhã, tinh thần của Bát Nhã phá sạch hết những sự nghiệp đã chất chứa. Tuy nói vậy mà ông thầy chưa ngộ. Một hôm, ông thầy đang ngồi xem kinh thì có một con ong cứ chui qua tờ giấy dán ở cửa sổ, mãi mà không chui ra được. Lúc này Thiền sư Thần Tán mới đọc bài kệ:

Cửa không chẳng chịu ra
Quá ngu chui cửa sổ
Trăm năm vùi giấy cũ
Ngày nào mới được ra?


Ông thầy nghe xong buông cuốn kinh xuống, nói:

- Từ bữa giờ ta thấy ngươi nói rất lạ, toàn huyền cơ huyền chỉ của nhà Thiền. Mai ngươi thăng tòa nói pháp cho ta và đại chúng nghe.

Hôm sau, Thiền sư Thần Tán lên ngồi tòa giảng pháp, nêu cao tinh thần của Ngài Bá Trượng

Linh quang độc chiếu
Vượt khỏi căn trần
Chẳng bám chữ nghĩa
Căn tánh không nhiễm
Vốn tự viên thành
Chỉ lìa vọng duyên
Tức như chư Phật.


Vừa giảng xong thì ông thầy khóc, nói:

- Lão tăng tu hơn bốn mươi năm bây giờ mới nghe được cái huyền chỉ ấy.

Quý vị thấy, ông thầy này hơn bốn mươi năm mới được nghe huyền chỉ của nhà thiền nên cảm động mà khóc. Còn mình bây giờ nghe nhiều hay ít? Từ đó mới thấy mình có phước nhiều mà không biết nắm bắt.

Tinh thần trực chỉ của nhà thiền, hỏi bên này nói bên kia.

Có một cô tiểu thư con nhà quyền quý quen một anh thanh niên nghèo nên bị cha mẹ cấm. Một hôm anh này vì nhớ cô quá nên đánh liều đến nhà, nhưng nhà lớn quá nên không biết cô ở đâu. Cô tiểu thư ở trên lầu nhìn thấy, muốn cho anh biết mình đang ở đâu nhưng lại sợ cha mẹ phát hiện, nên giả bộ gọi to: “Tiểu Ngọc, đem cho cô cái bình hoa”. Gọi Tiểu Ngọc là vậy nhưng thực chất là cốt chỉ cho anh kia chỗ mình đang ở. Vì vậy mới có câu :

Tần hô Tiểu Ngọc nguyên vô sự
Chỉ yếu đàn lang nhận đắc thinh.

Tức là:

Tần hô Tiểu Ngọc không việc khác
Chỉ cốt anh chàng nhận tiếng thôi.


Trong nhà Thiền, các Ngài đưa câu chuyện này ra làm ví dụ để dạy, chủ yếu là nhận ra ông chủ của chính mình, còn tất cả kinh điển… đều là phương tiện. Đó là Thiền trực chỉ.

Một hôm, có ông Tăng đến hỏi Thiền sư Hành Tư:

- Thế nào là đại ý Phật pháp?

Sư đáp:

- Gạo ở Lô Lăng giá bao nhiêu?

Nghe thì thấy vô lý, sao hỏi đại ý Phật pháp mà lại hỏi về giá gạo ở Lô Lăng? Nếu ngay đó mà mình nghĩ giá gạo ở Lô Lăng là bao nhiêu, mắc hay rẻ thì mất mình, mà ngay đó tự nhiên bặt hết các niệm thì lập tức nhận được đại ý Phật pháp.

Một hôm, Tăng hỏi Thiền sư Tào Sơn:

- Vật gì quý nhất trên đời?

Sư đáp:

- Đầu con mèo chết.

Vị Tăng lại hỏi:

- Đầu con mèo chết vì sao lại quý?

Sư đáp:

- Vì không có ai trả giá.

Không ai trả giá thì đâu còn mắc rẻ, nếu có người trả giá thì sẽ có mắc rẻ, mà lìa được cái mắc rẻ, chủ khách, năng sở thì ngay lập tức nhận được thôi. Hàng ngày chúng ta luôn luôn sống trong đối đãi, nên khi chết thì dù thương hay ghét mình đều đi vào cảnh giới xấu, vì thế phải lìa các niệm nhị nguyên chủ khách, thương ghét, có không thì lập tức đi thẳng vào Trung Đạo. Đó là thiền trực chỉ, chỉ thẳng vào tâm. Cái gì thấy được sự đối đãi đó? Mình tu thiền nếu không khéo thì hay bị dính mắc trên các niệm.

Như câu chuyện về một người bán đậu hũ sáng nào cũng đi qua chỗ Thiền sư Bạch Ẩn. Thấy các sư ai ngồi cũng êm ru thì một hôm anh đánh liều hỏi Thiền sư: “Thưa thầy, các thấy ngồi làm sao mà hay vậy? Ngày mai con có thể ngồi được không?”. Thiền sư đồng ý. Thế là hôm sau anh đến ngồi thiền cùng với mọi người. Ngồi được khoảng một tiếng thì anh la lớn: “Thấy rồi, thấy rồi”. Tăng chúng mừng lắm vì nghĩ anh này căn duyên tốt, vừa tu đã thấy đạo. Sau khi xả thiền xong, mọi người đến hỏi han xem anh đã thấy gì thì anh nói: “Bà Bảy thiếu con tiền mua đậu hũ gần một năm nay mà con không nhớ, giờ ngồi thiền mới nhớ ra”.

Quý vị nào đủ nhân duyên nhập thất thì mới biết, ở ngoài không nhớ gì nhưng khi vào thất thì mình nhớ hết, từ hồi còn bé, đã từng đi đâu, làm gì…. Nhưng hay một điều là cái gì thấy được từng niệm đó? Chỉ cần mình sống trở về với cái biết của mình thì niệm nó lìa, đến một lúc nào đó niệm nó tự sanh rồi tự diệt. Khi công phu đạt được đến mức độ này rồi thì ngồi rất yên, ai có hỏi mình ngồi thiền để làm gì thì trả lời: “Ngồi chơi” thôi, mà chính lúc đó lại là lúc dụng công đắc lực nhất, gọi là “Vô công dụng hạnh”. Đạt đến trạng thái đó rồi thì nấu cơm, rửa bát, quét nhà, đi tàu xe… đều tu được, bất kể làm việc gì cũng tu được hết. Còn có những người ngồi thiền mà miệng cứ nói “Đi! Đi!”, hỏi làm gì thì bảo đuổi vọng tưởng. Vọng tưởng có thật đâu mà đuổi nó, làm như vậy khác nào cầm gậy đập vào hư không.

Rồi có một ông Tăng hỏi Thiền sư Vân Môn: “Thế nào là Phật?”. Thiền sư đáp: “Que cứt khô”. Cái này trong kinh nào? Mình có tìm trong bốn bộ kinh cũng không thấy điểm này nằm ở đâu cả. Nó nằm ở diệu lực sống động của các Thiền sư, trả lời làm cho người đối diện ngớ ngẩn, ngây người ra. Chính thời điểm đó các niệm vắng lặng hết thì nhận được ông Phật ở chính nơi mình. Đó chính là thủ thuật của các vị Thiền sư.

Chính vì vậy, Thiền sư Bạch Ẩn làm một bài kệ:

Trong hang Tất Bát La
Chưa kết tập kinh này
Đồng Thọ không lời dịch
A Nan đâu được nghe.


Sau khi Đức Phật nhập Niết Bàn, Tôn giả Ma Ha Ca Diếp triệu tập năm trăm vị Thánh chúng, chọn hang Tất Bát La để kết tập kinh điển của Đức Phật lần đầu tiên. Nhưng kinh điển này A Nan chưa từng được nghe. Vậy Phật có nói kinh này không? Nói như thế nào? Trong Kinh Kim Cang, Đức Phật đến giờ ăn Ngài đắp y, mang bát đi vào thành lớn Xá Vệ khất thực, khi vào thành theo thứ lớp khất thực, trở về chỗ mình, thọ thực xong, thu xếp y bát, rửa chân và trải tòa mà ngồi. Lúc đó, Tôn giả Tu Bồ Đề quỳ chắp tay cung kính bạch Phật: “Bạch Thế Tôn, thật ít có. Như Lai khéo hộ niệm các vị Bồ Tát, khéo phó chúc các vị Bồ Tát”. Ngay trong chỗ ôm bình bát, đi từng bước vào thành khất thực, về thọ trai…, từng thứ từng thứ Ngài hiện bày ra hết, đó chính là bài kinh không lời sống động từ Đức Thế Tôn, cho nên mới nói bài kinh này Ngài A Nan chưa từng được nghe, mà Ngài Đồng Thọ cũng không dịch được. Đồng Thọ là Ngài Cưu Ma La Thập vào thời Diêu Tần, Ngài là thần đồng về dịch kinh điển, những bài kinh Ngài dịch từ tiếng Phạn ra tiếng Hán vô cùng xuất thần, văn của Ngài rất sáng và thoáng.

Lại tiếp:

Gió bắc qua song cửa
Nhạn nam tuyết rơi đầy
Trăng núi dáng như gầy
Mây lạnh dường mưa rây
Ngàn Phật dù xuất thế
Không thêm bớt một lời.


Chỗ này quý vị lưu ý, gió bắc, nhạn nam, trăng núi, mây lạnh, toàn bộ là sự cô liêu. Mà trong sự cô liêu của các pháp thì bặt hết ý niệm nhị nguyên, nào là mắc rẻ, phải quấy, hơn thua, tốt xấu. Mà bặt như vậy rồi thì tinh thần trực chỉ hiển lộ.

Như vậy qua phần nầy, chúng tôi nêu lên để cho quý vị thấy được năm loại thiền không phải của đạo Phật và nắm bắt được pháp môn mà chúng ta đang tu là Thiền “Trực chỉ nhân tâm, kiến tánh thành Phật”. Còn bao nhiêu những thứ thần thông đều là cặn bã, là rác, bỏ hết, không có dính mắc. Dầu cho ai nói thấy kiếp này, kiếp kia, mình cũng lạnh lùng nói “Dù ông có thấy được hàng triệu kiếp đi chăng nữa, hay phi hành bay trên hư không mà chưa chuyển hóa được cái tâm của ông thì cũng vô ích”. Nắm bắt được điều này rồi thì Đức Phật nói người này có căn tánh thượng thừa, phải trồng sâu căn lành thì mới gặp được pháp môn đốn giáo này và tin tưởng tu tập theo.

Trong thời quá khứ, Bồ Tát Văn Thù do đã phỉ báng pháp môn này mà bị đọa ba mươi ngàn tiểu kiếp dưới địa ngục, hết kiếp địa ngục lên làm súc sanh, ngạ quỷ. Rồi một ngàn tiểu kiếp sau được làm người xuất gia nhưng nửa chừng lại phải hoàn tục. Quý vị thấy, vì phỉ báng pháp môn đốn giáo của Phật mà phải chịu đau khổ rùng rợn như vậy. Vì thế nếu chúng ta không tin, không hiểu, chúng ta chưa tu, chưa chứng nghiệm mà phỉ báng pháp môn tối thượng thừa thì tội này rất là lớn. Chúng ta có túc duyên tu tập theo pháp này, nhưng nếu cứ nói “Tôi tu theo pháp môn tối thượng thừa” thì đó cũng là bệnh,  phải xem lại vì mình tu thì chỉ mình biết. Ở đây chúng tôi nêu lên để cho quý Phật tử thấy và nắm bắt được pháp môn mình đang tu, còn thần thông này kia thì không dính dáng.

Do đó, nguyện lớn thứ tư của Đức Phật Dược Sư Lưu Ly Quang Vương là dùng đủ phương tiện đưa các hành giả tu hạnh Thanh Văn, Duyên Giác, Độc Giác vào con đường Đại thừa, tức là cỗ xe lớn, là con đường chánh pháp của Đức Thế Tôn.

Sau chín trăm năm Phật diệt độ, ở nước Kế Tân có ba anh em xuất chúng. Người anh cả là Đại Sư Vô Trước, Ngài thông suốt hết kinh điển Đại thừa, nhưng ngược lại người em là Ngài Thế Thân lại thích Tiểu thừa và phỉ báng những bộ Kinh Hoa Nghiêm, Kinh Pháp Hoa, Kinh Lăng Nghiêm, Kinh Địa Tạng, Kinh Dược Sư, nói đây là ngụy tạo và luôn đề cao pháp Thanh Văn và viết ra thành hơn 500 bộ luận. Ngài Vô Trước biết người em mình phỉ báng pháp môn tối thượng, sợ  em mình sau này bị sa vào chốn khổ đau mà không biết làm thế nào để khuyên. Một hôm, Ngài mới nghĩ ra được một phương tiện thiện xảo. Ngài gửi một lá thư cho Ngài Thế Thân, nói mình bị bệnh sắp mất và bảo phải đến gấp. Mặc dù ý tưởng và phương tiện tu hành khác nhau nhưng hai anh em lại rất thương nhau, nên nghe tin như vậy thì Ngài Thế Thân lập tức lên đường. Sau khi gặp thì Ngài Vô Trước nói:

- Ngày xưa anh có phát nguyện là khi cuối đời, anh sẽ tụng mấy bộ kinh lớn là Hoa Nghiêm, Lăng Già, Pháp Hoa, Địa Tạng… nhưng bây giờ bệnh sắp mất không còn cơ hội để làm việc này nữa, sợ anh chết không nhắm được mắt. Nếu được thì em giúp anh hoàn thành di nguyện này.

Thấy anh sắp mất mà lại nói như vậy nên Ngài Thế Thân thăng tòa tụng liền. Vì Ngài rất giỏi nên tụng ba ngày ba đêm là hết những bộ kinh này, tụng đến đâu Ngài thấm đến đó. Sau khi tụng xong, Ngài bước vào phòng người anh, lấy một con dao và nói:

- Từ trước đến nay em luôn phỉ báng giáo pháp Đại Thừa, nhưng nay khi tụng đọc em mới thấy đó là một triết lý sống động nhất và chỉ có tuệ giác Đức Phật mới nói ra được.

Nói xong, Ngài lấy dao định tự cắt lưỡi mình để tạ lỗi, nhưng khi vừa vung dao lên thì Ngài Vô Trước ngăn lại nói:

- Ngày xưa em dùng ba tấc lưỡi để phỉ báng Đại Thừa thì bây giờ em dùng ba tấc lưỡi này để ca ngợi Đại Thừa.

Vì thế, trong ba tháng liền, ông viết năm trăm bộ luận Đại Thừa và sau trở thành Thiên Thân Bồ Tát, vì Ngài viết tất cả một ngàn bộ luận gồm năm trăm bộ Đại Thừa và năm trăm bộ Tiểu Thừa. Sau này Ngài đi đến đâu cũng ca ngợi và xiển dương pháp Đại Thừa, tối thượng thừa.

Như vậy, trong tinh thần này quý vị thấy rằng, Ngài Vô Trước Đại Sư cũng giống như Đức Phật Dược Sư Lưu Ly Quang Vương, thấy người em mình tu về hạnh Thanh Văn, Duyên Giác, Độc Giác nên dùng đủ mọi phương tiện thiện xảo giúp đỡ người em mình từ cỗ xe Thanh Văn, cỗ xe Độc Giác, cỗ xe Duyên Giác đưa vào cỗ xe lớn là cỗ xe Đại Thừa, chỉ cho người em mình thấy rõ được tri kiến Phật là như thế nào. Đó cũng là nguyện lớn thứ tư của Đức Phật Dược Sư Lưu Ly Quang Vương.

Giảng sư

Kết nối

Tổng số truy cập
Thông tin: 21.713
Pháp Âm: 28.884
Đang truy cập
Hôm qua: 15076
Tổng truy cập: 3.495.168
Số người đang online: 543
hosting gia re , web gia re tron goi , thiet ke web tron goi tai ho chi minh, binh duong, vung tau, ha noi, ca nuoc , thiet ke web tron goi gia re