chuabuuchau.com.vn,chuabuuchau, chua buu chau, chùa bửu châu, chua buu chau cu chi

6. Nguyện lớn thứ năm

“Ta nguyện đời sau, khi chứng được đạo quả Bồ Đề, nếu có chúng hữu tình nhiều vô lượng vô biên ở trong giáo pháp của ta mà tu hành theo hạnh thanh tịnh thì ta khiến cho tất cả đều giữ được giới pháp hoàn toàn đầy đủ cả tam tụ tịnh giới. Giả sử có người nào bị tội hủy báng giới pháp, khi nghe danh hiệu của ta thì trở lại được thanh tịnh, khỏi sa vào ba đường ác đạo”.

Với nguyện lực thứ năm, Ngài nói sau này khi đắc được đạo quả Bồ đề, thì những người tu theo hạnh thanh tịnh giữ đầy đủ tam tụ tịnh giới. Nếu đã thọ giới rồi mà lỡ phạm nhưng một khi nghe danh hiệu của Đức Phật Dược Sư Lưu Ly Quang Vương rồi thì được thanh tịnh, khỏi rơi trong ba đường ác đạo. Ở đây cái lý rất là sâu, nếu không khéo thì chúng ta sẽ hiểu lầm rằng khi mình lỡ phạm những giới đã thọ thì chỉ cần niệm “Nam mô Đức Phật Dược Sư Lưu Ly Quang Vương” sẽ được thanh tịnh trở lại.

Quý vị biết, giới của Đức Phật đưa ra thì hàng cư sĩ giữ năm giới, Sa di giữ mười giới, Tỳ kheo giữ 250 giới, Bồ Tát giữ 10 giới trọng và 48 giới khinh. Giới Bồ Tát còn gọi là tam tụ tịnh giới, bao gồm Nhiếp luật nghi giới, Nhiếp thiện pháp giới, Nhiêu ích hữu tình giới.

Thanh Văn giới và Bồ Tát giới

Thanh Văn là căn bản giữ gìn Nhiếp luật nghi giới, mà “Nhiếp luật” là “Phòng phi chỉ ác”, hay là “Chỉ trì”, tức là dừng tất cả các điều ác và luôn tạo các việc thiện.

Trong giới của hàng Thanh Văn còn có định cộng giới và đạo cộng giới.

- Định cộng giới: Như khi quý vị ngồi thiền mà đạt được trạng thái định tĩnh thì sẽ nhàm chán về dục, từ đó không có sát sanh, trộm cướp, tà dâm, nói dối, uống rượu. Lúc bấy giờ, giới sẽ luôn hộ trì, tự giữ lại mình chứ không còn nói rằng mình giữ giới nữa. Ví dụ như những thầy đi thọ giới Tỳ kheo, trong bộ luật có ghi rằng: “Nếu mà không đắc được giới thể thì rất dễ bị phạm, còn khi đắc được rồi thì giới thể này sẽ bảo vệ cho người hành giả”. Bên hàng Thanh Văn có định cộng giới, thường các Ngài thể nhập sâu vào định rồi thì không còn tạo tác về thân, miệng, ý nữa. Hay là duyên theo một cảnh để tâm mình được định tĩnh, gọi là tầm tứ, nhờ đó mà giữ được giới.

- Đạo cộng giới: Khi chứng được sơ quả, nhị quả, tam quả, tứ quả thì không tạo tác về thân, khẩu, ý nữa. Chẳng hạn chứng được tam quả A Na Hàm thì khi đó thấy cõi dục là nhàm chán, khi đó chỉ muốn đi xuất gia, ngoài ra không còn thèm muốn gì hết. Còn những vị chứng quả A-la-hán rồi, nếu còn là cư sĩ thì sau từ 1 đến 7 ngày mà không xuất gia thì sẽ nhập Niết Bàn. Cho nên bà Kham-me, thứ phi của vua Tần-bà-sa-la sau khi nghe Đức Phật giảng về lý vô thường thì bà chứng quả A-la-hán. Đức Phật nói với vua là nếu bà không xuất gia thì chậm nhất bảy ngày sau sẽ nhập Niết Bàn. Lúc này vua vì còn rất thương bà nên đồng ý để bà xuất gia, sẵn có dịp hàng ngày được gặp mặt, nghe pháp, cúng dường. Gần đây có một số người nói cư sĩ chứng quả A-la-hán nhưng vẫn sống ở ngoài đời hàng chục năm nên chúng tôi thấy không đúng với tinh thần nhà Phật. Trong Kinh Na Tiên Tỳ kheo, vua Mi-lan-da hỏi Tỳ kheo Na Tiên:

- Tại sao người cư sĩ khi chứng quả vị A-la-hán rồi phải nhập Niết Bàn?

Tỳ kheo Na Tiên mới trả lời:

- Giống như chiếc vương miện Ngài đang đội thì chỉ có Ngài đội được mà thôi, nếu dân thường đội lên sẽ phạm tội khi quân và bị chém đầu. Cũng vậy, quả vị A-la-hán rất lớn nên muốn giữ được quả vị này cần phải có 250 giới.

Cũng giống như Đức Phật muốn giáng sanh vào một cõi nào đó thì cõi đó phải đủ đức, đủ phước, đủ nhân, đủ duyên thì mới gánh nổi một bậc xuất trần như Đức Phật thị hiện. Một người đã chứng nhập vào sơ quả, nhị quả, tam quả rồi thì lúc này giới giữ lại.

Nhưng ngược lại, hàng Bồ Tát thì phải đủ tam tụ tịnh giới. Hàng Thanh Văn chỉ giữ Nhiếp luật nghi giới, ví dụ nếu thấy một cô gái bị rơi xuống sông mà không cứu thì không có tội, vì khi cứu mà nắm chân nắm tay thì khởi niệm về ái, khi đó sẽ phạm vào giới. Nhưng hàng Bồ Tát còn thọ cả Nhiếp thiện pháp giới và Nhiêu ích hữu tình giới, luôn luôn làm lợi ích cho chúng sanh, cho nên nếu không cứu thì phạm vào khinh cấu tội. Trong giới Bồ Tát có khai, nếu gặp trường hợp đó thì có thể sử dụng sợi dây hoặc cây sào để cứu, nếu không có sợi dây hoặc cây sào thì phải dùng đủ mọi phương tiện có thể để cứu người bị nạn, bởi vì hàng Bồ Tát là chỉ về tâm, mà tâm dấy niệm phạm thì mình thành tâm ngay trong cái niệm đó để sám hối, còn không sám hối thì phạm vào tội Đột kiết la hay Thâu lan giá.

Trong quá khứ, bà Mạt Lợi phu nhân uống rượu trong ngày thọ Bát Quan Trai, nhưng Đức Phật lại nói bà tuy uống rượu nhưng lại có công đức. Bởi vì trong ngày bà thọ Bát Quan Trai, vua Ba Tư Nặc sai đầu bếp xuống nấu đồ ăn cho ông. Trong lúc làm đồ ăn, người đầu bếp vì sơ ý làm miếng thịt bị cháy khét nên nhà vua nổi giận, đòi đưa người đầu bếp này ra chém đầu. Trong lúc ở pháp trường đợi nhà vua ra chứng kiến hành hình, bà Mạt Lợi phu nhân hay tin nên đến chỗ vua Ba Tư Nặc, kêu người hầu làm một bữa tiệc thật thịnh soạn và trong lúc đợi thì bà cùng với ông vua uống rượu. Một lát sau, vua Ba Tư Nặc vì say rượu nên quên không ra xử người đầu bếp. Sáng hôm sau khi tỉnh rượu, vua nhớ ra vụ người đầu bếp thì bà Mạt Lợi phu nhân kể lại chuyện hôm qua và nói:

- Vì thấy bệ hạ định chém đầu người đầu bếp đó cho nên thiếp tìm cách cứu.

Vua Ba Tư Nặc nói:

- Bà giữ tám giới mà sao còn uống rượu? Như thế là phạm giới rồi

Vì cả hai vẫn còn do dự về cái giới đó nên đến hỏi Đức Phật. Sau khi nghe ngọn ngành câu chuyện, Đức Phật dạy:

- Bà được công đức chứ không có phạm giới, vì dù uống rượu nhưng là để cứu người, đó là giới Bồ Tát.

Điều đó có nghĩa là, làm một việc gì, dù có bị thiệt cho mình nhưng có lợi ích cho người khác thì sanh ra công đức. Cho nên người đi thọ giới Tỳ kheo bắt buộc phải thọ giới Bồ Tát, bởi vì trên lộ trình hành Bồ Tát đạo mà không thọ giới Bồ Tát, chỉ có Nhiếp luật nghi giới mà không có Nhiếp thiện pháp giới và Nhiêu ích hữu tình giới thì tu rất là khó, làm Phật sự cũng không được.

Có câu chuyện một vị thầy qua sông trên một chiếc đò mà người lái đò là một cô gái rất đẹp. Khi đến bờ bên kia, lúc thu tiền thì cô gái thu của mọi người một đồng, riêng vị thầy cô thu hai đồng. Vị thầy thắc mắc thì cô trả lời: “Vì từ lúc lên đò đến lúc sang đây, thầy cứ nhìn tôi nên tôi lấy thầy thêm một đồng”. Mấy ngày sau, khi xong việc vị thầy trở về và lại qua đò, người lái đò vẫn là cô gái hôm trước. Lần này rút kinh nghiệm, Thầy không hề nhìn ngó gì đến cô. Nhưng thật bất ngờ, khi sang đến bờ bên kia thì cô gái đòi thu của thầy bốn đồng. Vị thầy lại thắc mắc: “Lần trước cô bảo tôi nhìn cô nên thu thêm của tôi một đồng, nhưng lần này suốt quá trình di chuyển, tôi không nhìn cô lấy một lần mà toàn nhìn xuống nước. Tại sao cô lại thu của tôi tận bốn đồng?”. Cô gái lái đò nói: “Tuy thầy không nhìn mặt tôi nhưng lúc thầy ngó xuống nước thì tâm thầy nhìn trộm tôi”. Như vậy đối với giới Bồ Tát là phạm, tức là tâm trộm. Chẳng hạn như mình ngồi đây mà khởi niệm đi đâu đó có nghĩa là mình phạm, nhưng hay một điểm là khi vừa khởi niệm thì ngay niệm đó mình sám hối. Cho nên Lục Tổ dạy: “Từ niệm trước, niệm hiện nay và niệm sau, mỗi niệm không bị ngu mê, kiêu cuống làm nhiễm, từ trước có những nghiệp ác, ngu mê, kiêu cuống… các tội thảy đều sám hối, nguyện một thời tiêu diệt, hằng không khởi lại”.

Trong Giới luật nói: Ví như hàng Thanh Văn chỉ làm sạch cỏ vườn tâm của mình, đó là Nhiếp luật nghi giới,  còn hàng Bồ Tát thì ngoài nhổ sạch cỏ, sau đó phải xới đất lên trồng hoa màu, đó là Nhiếp thiện pháp giới, sau khi có được hoa màu rồi thì đi đem phân phát cho chúng sanh gọi là Nhiêu ích hữu tình giới. Cho nên hàng Thanh Văn thì không làm từ thiện, đủ duyên thì đi giáo hóa còn không thì rút vào núi tu hết. Như bên Miến Điện thì họ không làm bất cứ một việc gì, từ xây cất, nấu cơm, nhổ cỏ…. toàn bộ đều giao cho cư sĩ làm hết. Họ tu theo phương pháp Nguyên thủy, thời Đức Phật ngày trước sao thì họ y như vậy, đi khất thực ai cúng gì ăn vậy dù là chay hay mặn. Còn bên Bắc tông là hệ Phát triển, hệ Đại thừa, tức là Đại chúng bộ. Sau khi Đức Phật nhập Niết bàn chia ra làm 2 bộ phái, một là Thượng tọa bộ, hai là Đại chúng bộ: Thượng Tọa bộ là ngày trước có những giới điều Phật dạy như thế nào thì phải y theo đó mà làm. Đại chúng bộ là những lớp Tỳ kheo trẻ có năng lực, đi giáo hóa ở rất nhiều nơi nên tùy theo môi trường và tùy theo quốc độ mà giới có khai ra. Ví dụ như bên Ấn Độ họ rất kính trọng pháp khất thực nhưng qua Trung Hoa, nếu người nào mà đi khất thực thì họ lại rất coi thường. Vì thế cho nên các Ngài không đi khất thực nữa mà chuyển vào trong các tịnh xá, chùa, thiền viện để tu và giáo hóa. Đến thời của Thiền sư Bá Trượng thì các Ngài còn tự làm ruộng, trồng rau, vì thế mới có câu: “Một ngày không làm là một ngày không ăn”. Cho nên hàng Thanh Văn chủ yếu dùng “Chỉ trì”, không dùng “Tác trì”, đây là Nhiếp luật nghi giới. Còn hàng Bồ Tát thì lấy tam tụ tịnh giới làm cội gốc để tiến thẳng đến con đường Phật quả, tu tập để thành Phật. Cho nên giới là con đường đưa đến quả vị A-la-hán cho hàng Thanh Văn và giới cũng là con đường đưa đến quả vị tối thượng. Do đó Đức Phật dạy: “Hàng xuất gia chuyên tâm giữ 10 giới hoặc 250 giới, còn hàng tại gia thì chuyên tâm giữ 5 giới hay còn gọi là biệt biệt giải thoát giới”. Như quý vị giữ một giới là không sát sanh thì tâm tư mình được yên ổn, ngay lúc đó mình được giải thoát một giới, rồi mình giữ giới không trộm cướp thì không sợ cảnh sát, cũng không sợ ai nghi kị mình thì ngay trong giờ phút đó mình cũng được giải thoát một giới. Giữ giới nào thì được giải thoát giới đó nên gọi là biệt biệt giải thoát giới. Có những người giữ giới rất nhẹ nhàng, an ổn nhưng ngược lại có những người giữ giới rất là khó, đó là do nghiệp tập, tập khí của mỗi người. Ví dụ như một quả banh, nếu bơm căng thì những chỗ mọt nó xì ra, trong lúc hành giả công phu đến độ quyết liệt, miên mật, chẳng hạn như vào thất thì tùy theo cái nghiệp tập của mình, nó trổ ra nghiệp nào là mình biết. Có người vào thất toàn ngủ không, nhưng có người vào thất không ngủ mà lại khởi niệm thèm ăn, có người không thèm ăn mà thèm sắc, có người không thèm sắc lại thích nghe nhạc…, lúc đó phải có một bậc thiện tri thức sáng mắt đã trải qua những kinh nghiệm này rồi để chỉ cho mình. Cho nên trong quá trình tu tập, mình đừng cười tại sao ông này tu kiểu gì, bà kia tu kiểu gì…tất cả là do tập khí, tập là nhóm hợp và khí là hơi hám. Sở dĩ sau này, Tổ Bá Trượng nhóm họp tăng chúng tu tập một chỗ là để kèm kẹp với nhau, sách tấn với nhau chứ để tu một mình thì dễ rớt. Tu một mình mà khi nhập thất thì 10 người dễ phạm hết 10 người, nên khi nhập thất xung quanh phải có Tăng chúng bao bọc. Có nhiều vị không hiểu, ở trong chúng mới có hai, ba năm ra cất thất ở riêng, cuối cùng rớt. Bởi vì cái thân mình đang mang đây là thân tổng báo, có cả thiện cả ác. Mình đang tu tốt thì có nghĩa là thiện pháp đang trổ ra, đang chín muồi, nhưng đến khi ác pháp tăng trưởng, nếu không có những vị thiện tri thức, có đại chúng bao bọc chung quanh thì đảm bảo mình rớt liền.

Chẳng hạn về giới dâm. Trong giới luật thì ban đầu là nhân dâm. Nhân dâm là tập khí chủng tử tham nhiễm sẵn có từ vô thỉ kiếp, mình vừa ra đời là nó theo, gọi là câu sanh ngã chấp, mà câu sanh ngã chấp thì câu sanh pháp chấp đi theo. Cho nên đường tu không phải dễ, mình nghe lý thiền thì rất hay nhưng những hạt giống xấu đã theo mình từ vô lượng kiếp, nó nằm rất sâu, chừng nào tu đến giai đoạn quyết liệt, phải kiến tánh mới đâm thủng được. Từ nhân dâm dẫn đến duyên dâm, tức là mình có mặt ở cõi đời này, nó khởi lên tới hiện đời bây giờ, chẳng hạn như khởi lên thích cái dâm mà không diệt ngay lúc đó, để nuôi dưỡng thì nó tương tục. Chẳng hạn như có người là trí thức, ăn học đàng hoàng, gia đình hạnh phúc mà lại phạm tội hiếp dâm, tức là người đó đến nhà bạn chơi, nhìn thấy con người bạn mới có 14, 15 tuổi, khởi niệm thích nhưng khi vừa dấy lên niệm đó mà không chuyển hóa ngay, lại tiếp tục nuôi dưỡng thì một lúc nào đó đủ nhân duyên, nó phát tác ra thì sẽ xảy ra việc. Nhưng điều này chỉ những người có tu tập mới biết được chứ người không tu thì khó biết. Nếu duyên dâm mà quý vị không chịu chuyển hóa, luôn luôn tưới tẩm thì nó dẫn đến cách thức dâm. Cách thức dâm là rủ rê, hẹn hò. Đến lúc này chúng ta vẫn không biết cách chuyển hóa thì nó dẫn chúng ta tới cái tiếp theo đáng sợ hơn là nghiệp dâm. Nghiệp dâm là hành động tạo tác về thân, về miệng, về ý. Giới trộm cướp cũng như vậy. Có người không phạm giới dâm thì lại phạm vào giới trộm cướp, bởi vì từ vô thủy kiếp họ đã có những hạt giống trộm cướp. Các giới khác cũng tương tự như thế. Chẳng hạn trong một gia đình có mười người thì năm người thường ưa thích làm việc thiện, bố thí cúng dường, năm người còn lại thì không. Năm người thường ưa thích bố thí cúng dường là do những hạt giống bố thí cúng dường trong đời quá khứ nhiều, sung mãn cho nên thích làm việc thiện. Vì thế Tổ Bồ Đề Đạt Ma nói: “Tâm tịnh thì thích làm việc lành, còn thể nhiễm thì thích tạo những điều ác”.

Bây giờ chuyển qua phần Khai giới. Hàng Bồ Tát khai giới như thế nào?

“Bồ Tát trong thời gian tu nhân thì không có khai, nếu có khai thì khai giới Bồ Tát quả”, tức là lúc đó thành Bồ Tát rồi mới khai. Trong Kinh Bảo Tích nói về Bồ Tát Chúng Trung Tôn. Ngài tu trên núi mười hai năm, thân tướng rất là đẹp. Một hôm Ngài đi xuống núi khất thực thì gặp một cô gái. Nhìn thấy Ngài, cô gái này khởi niệm: “Nếu thầy Tỳ kheo này chỉ cần đến nắm tay mình một chút thôi thì mình sẽ phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác liền”. Ngài thấy được tâm niệm đó của cô gái nên đến nắm tay cô một cách thân mật, lúc đó tình cờ Ngài A Nan đi ngang qua trông thấy bắt gặp nên về thưa với Đức Phật. Đức Phật triệu tập đại chúng để hỏi thì Bồ Tát Chúng Trung Tôn thưa: “Bạch Thế Tôn, Ngài đã từng dạy các vị Tỳ kheo đã chứng lục thông mà phạm giới thì thần túc thông sẽ không còn nữa”. Nói xong Ngài bay lên hư không và trụ trên đó. Lúc này Đức Phật mới dạy: “Các hàng tiểu Thanh Văn không bao giờ thấy được tâm lượng của Bồ Tát”. Đó là vì Ngài tu hành Nhiếp thiện pháp giới và Nhiêu ích hữu tình giới nên dù có nắm tay mà không có khởi niệm nên giới vẫn đầy đủ.

“Vì Bồ Tát quả đối với dâm dục không còn tác ý”. Trong thời Đức Phật có vị Tỳ kheo ni đi vào rừng lấy củi, bị bọn cướp hãm hiếp, có một số người thưa với Đức Phật là cô này phạm giới. Khi Đức Phật hỏi thì cô thưa rằng khi đó cô tưởng như có một cái dùi lửa lớn đâm vào mình nên không có một chút nào cảm thọ hết. Cho nên Đức Phật nói cô không có phạm. Nếu thời điểm đó mà tác ý rung động, có cảm thọ thì tức là phạm.

Vì chứng quả A-la-hán thì ái dục không còn. Vì tư hoặc trong ba cõi đã hết nên ái dục không còn. Vì khi chứng sơ quả thì tà dâm không còn, chứng tam quả thì chánh dâm không còn. Chánh dâm không còn thì bước lên quả A-la-hán, ái trước dâm dục cũng không còn”.

Bây giờ qua đến phần kế tiếp trong đại nguyện thứ năm, đây là phần quan trọng nhất: “Giả sử khi chúng hữu tình nào hủy phạm giới pháp, khi nghe danh hiệu của ta thì trở lại được thanh tịnh, không còn sa đọa trong ba đường ác”.

Trong cuộc sống tu hành, để giữ được giới trọn vẹn, đầy đủ từ giới khinh cho đến giới trọng, hoàn toàn trong trắng giống như Ngài Ưu Ba Ly thì rất là hiếm. Ở đây Đức Phật nói như vậy không có nghĩa là khi mình phạm giới thì nghe hoặc tụng danh hiệu Ngài là hết, mà phải hiểu là khi nghe danh hiệu Đức Phật Dược Sư Lưu Ly Quang Vương tức là  trở về tri kiến Phật của mình, thì khi đó thì toàn bộ nghiệp lực không còn. Nhưng trở về bằng cách nào?

Như trường hợp của Ngài Ương Quật Ma La, trước khi gặp Đức Phật và xuất gia thì phạm tội sát sanh rất là nhiều. Nhưng từ khi xuất gia theo Phật thì Ngài thành tâm sám hối. Sau một thời gian, trên đường đi khất thực, Ngài bị một số người là thân nhân của những người đã bị Ngài giết ngày trước đánh đập. Trở về, Ngài thưa với Đức Phật thì Đức Phật nói: “Nếu ông không gặp ta và xuất gia thì khi chết, ông sẽ đọa xuống địa ngục, nhưng nhờ gặp ta nên ông chỉ bị đánh đập thôi”. Ngay cả Tôn giả A Nan cũng thắc mắc một người đã giết người rất nhiều mà sau khi xuất gia ba tháng chứng quả A-la-hán thì Đức Phật nói bài kệ:

Ai sống trước buông lung
Sau sống không phóng dật
Chói sáng rực đời này
Như trăng thoát mây che.


Nghĩa là ai trước đây mà sống buông lung phóng dật, nhưng sau này tỉnh ra, chuyên tâm tu tập chuyển hóa thì “Chói sáng rực đời này, như trăng thoát mây che”, cuộc đời sẽ an ổn và sáng sủa hơn. Cho nên trong Kinh, Đức Phật nói: “Trên đời có hai hạng người có sức mạnh bậc nhất. Đó là người chưa bao giờ phạm giới và người đã phạm giới mà biết sám hối, sửa đổi”.

Lại tiếp:

Ai dùng các hạnh lành
Xóa mờ các nghiệp ác
Chói sáng rực đời này
Như trăng thoát mây che.


Do đó, trong Kinh Diệu Thắng Định, Phật dạy: “Nếu có người đã phạm trọng tội, phải sanh tâm lo sợ, muốn cầu được trừ diệt. Nếu ngoài thiền định ra, không có pháp nào trừ được. Người này nên ở chỗ vắng vẻ, thường ngồi nhiếp tâm và tụng đọc kinh điển Đại thừa thì trọng tội thảy đều tiêu diệt, các thiền tam muội được hiện tiền”.

Phạm trọng tội là phạm vào các giới sát, đạo, dâm, vọng. Ngay lúc đó phải liền sanh tâm lo sợ chứ đừng ỷ lại là phạm giới này không sao cả. Phạm vào các giới này ví như cây dừa bị chặt đứt, không còn mọc được nữa. Khi lỡ phạm phải trọng tội thì ngoài thiền định ra, không có một pháp nào có thể trừ được. Vì sao? Vì trong lúc thiền định thì những giới mà quý vị đã phạm hiện ra. Nó hiện ra tới đâu thì mình nhìn lại thật tướng của nó, thấy được tánh, tội không ở trong, không ở ngoài, không ở giữa, tức là dùng tuệ để quán chiếu thật tướng của các pháp là vô tướng. Sau khi quán chiếu rồi thì phải siêng năng tụng đọc kinh điển Đại thừa như kinh Pháp Hoa, kinh Dược Sư.... Người phạm giới rồi ngồi thiền không được tam muội, tam muội là chánh định. Mình phạm giới rồi thì niệm lăng xăng suốt, thân, miệng, ý đều bị trạo cử cho nên không được chánh định, cho nên phải nhờ vào lực sám hối. 

Đại Sư Trí Khải dạy: “Nếu người không từng làm các điều ác thì không có tội để sám hối. Nếu người tu hành không quyết tâm trì giới hoặc gặp duyên ác liền phá hủy giới, hoặc nhẹ hoặc nặng cũng đều là phá giới. Do giới luật không thanh tịnh nên tam muội không phát sinh. Ví như y phục nhơ bẩn không thể nhuộm màu được cho nên cần phải sám hối. Do sám hối, giới phẩm được thanh tịnh, tam muội mới có thể phát sinh. Ví như y phục dơ bẩn nếu được giặt tẩy sạch, nhuộm vải mới thấm màu được”.

Những giới Đức Phật đưa ra, mình muốn giữ được phải phát nguyện lực, nếu không có nguyện lực giữ giới thì khi gặp duyên ác mình giữ không được. Duyên ác chẳng hạn như bị người ta rủ rê, khi người ta rủ mình đi uống rượu mình cũng đi, rủ đi ăn mặn mình cũng đi… Giới căn bản của nhà Phật mà mình giữ không được thì chạy lung tung hết. Phạm giới thì hoặc nặng hoặc nhẹ cũng đều là phạm, chẳng hạn như giới không uống rượu mà chỉ cần một giọt vô miệng thôi cũng là phạm. Do phạm giới, giới luật không thanh tịnh nên không vào chánh định được, giống như cái áo dơ không nhuộm được màu, mà phải nhờ thành tâm sám hối giống như tẩy sạch cái áo bị dơ thì mới có thể nhuộm lại màu được.

Trong Kinh Bách Dụ có kể câu chuyện, một anh chăn bò lùa đàn bò một trăm con đi ngang qua cái vực thẳm, vô tình một con bò bị rớt xuống vực nên chỉ còn chín mươi chín con. Anh nghĩ: Cả đàn bò một trăm con mà bây giờ mất một con thì chín mươi chín con cũng chẳng để làm gì, nghĩ xong anh lùa hết chín mươi chín con bò còn lại xuống vực. Đức Phật nói giống mình giống như người chăn bò, lỡ phạm một giới rồi, nghĩ rằng đằng nào cũng phạm giới nên phạm luôn những giới còn lại. Vì vậy, khi đã lỡ phạm một giới thì phải thành tâm sám hối. Trong giới luật nói, người giữ giới mà phạm thì nhẹ hơn người không giữ giới. Vì sao? Vì người không giữ giới có thể sát sanh, trộm cướp, tà dâm, nói dối uống rượu, còn người giữ giới khi phạm giới thì giật mình, thức tỉnh và không tiếp tục phạm nữa, dừng lại các ác nghiệp, cho nên nói nhẹ hơn là ở chỗ đó. Cũng giống như y phục nếu bẩn thì phải giặt sạch chứ không phải là vứt luôn. Cho nên khi giữ giới rồi mà mình phạm thì phải dùng phương pháp sám hối để dừng nghiệp lại.

“Sám” là ngoài không che đậy, “Hối” là trách và khắc chế nội tâm. Nếu mình phạm lỗi thì phải đi đến một vị thầy có năng lực lớn, trình bày hết tất cả không được giấu diếm điều gì để các Ngài chứng minh cho mình. Hối là tự trách và khắc chế nội tâm, tự hỏi bản thân sao mình lại mắc phải những tội như vậy, đó cũng là cách để mình tự hổ thẹn, đến ngày cuối cùng lúc ra đi thì các pháp này hiện khởi. Nhờ phương pháp sám hối khắc chế lại cái tâm đó, không trạo cử và hối hận thì tức khắc mình được giải thoát. Nhưng đặc biệt một điều, sau khi sám hối rồi thì không được nhớ lại cái điều đã phạm trong qua khứ ngày xưa của mình nữa, vì nhớ lại thì chướng đạo. Từ xưa đến nay trên cõi đời này không có ai là trong sạch hết, nên bây giờ biết tu mà vẫn suốt ngày than vãn ngày xưa mình làm thế này, ngày trước mình làm thế kia thì đó là không phải.

Sám là biết những lỗi đã phạm là xấu ác, từ trước có những nghiệp ác ngu mê, kiêu cuống, tật đố… thảy đều sám hết, hằng không bao giờ khởi lại. Hối là lo sợ quả báo, từ nay về sau có những nghiệp ác như ngu mê, kiêu cuống, tật đố, tất cả các tội ác đó nay đã giác ngộ, thảy đều hằng đoạn, lại không tạo nữa.

Có ba cách sám hối là tác pháp sám hối, quán tướng sám hối và vô sanh sám hối.

+ Tác pháp sám hối: Tức là mình đến thầy Trụ trì hoặc ra trước đại chúng thành tâm sám hối tội lỗi của mình đã phạm phải, hứa từ nay sẽ trừ bỏ. Nhưng có những giới điều chúng ta lỡ phạm mà mình sợ quá, không thể nào nói trước đại chúng hoặc không thể nào nói trước Thầy được, mà giấu thì cũng không xong, thì lúc đó phải Quán tướng sám hối.

+ Quán tướng sám hối: Có nghĩa là mình đến trước Phật, ngoài mình ra không có ai, chỉ có mình với Phật thôi, mình thành tâm trút hết, tha thiết sám hối những tội lỗi mà mình đã gây ra. Đặc biệt nếu mình sám hối mà không thấy tướng hảo thì tội không dứt, phải thành tâm sám hối tiếp. Tướng hảo tức là khi nằm mộng, mình thấy Đức Phật đến xoa đầu mình, hoặc thấy Phật phóng hào quang đến mình, hoặc thấy hoa sen nở hoặc là thấy đến pháp hội toàn chư tăng thì biết là nghiệp của mình dứt. Trong bộ luật này có nêu, có những vị phải sám hối liên tục trong hai mươi năm thì tướng hảo mới hiện ra, tướng hảo hiện ra thì tội dứt, còn nếu chưa thấy tướng hảo hiện ra thì tuy có sám hối nhưng cũng vô ích. Trong Kinh Đại Thông Phương Quảng Sám Hối Diệt Tội Trang Nghiêm Thành Phật, người nào thành tâm sám hối thì sẽ cảm được ít nhất là một hoặc hai và nhiều nhất là năm giấc mộng: Thấy mình đi ngang qua sông, qua cầu, hoặc thấy có quả ăn... thì biết là tội dứt. Cho nên những người vào thất mà bị bệnh nặng thì dùng những phương tiện sám hối như vậy, nếu đến đêm mà cảm được các điềm mộng thì mồ hôi xuất ra, bệnh khỏi và nghiệp cũng tự tiêu luôn. Nhưng nhớ kỹ, sám hối rồi thì không được tái phạm lại.

+ Quán vô sanh sám hối: Phương pháp này rất là khó, đòi hỏi khi ngồi thiền phải nhiếp định. Mình tụng lên một bài kệ trong Kinh Quán Phổ Hiền:

Tất cả biển nghiệp chướng
Đều từ vọng tưởng sanh
Nếu người muốn sám hối
Ngồi thẳng niệm thật tướng.
Tội lỗi như sương móc
Trí tuệ chiếu tiêu tan
Thế nên phải thành tâm
Sám hối tội sáu căn.


Tất cả những nghiệp chướng của mình từ xưa đến giờ đều do vọng tưởng sanh. Nghiệp từ đâu mà có? Từ nơi tâm mê lầm. Do mê lầm chúng ta tạo nghiệp, từ đó mình bị chiêu cảm các quả khổ. Thế nên Đức Phật dạy phải thành tâm sám hối tội sáu căn.

Bây giờ qua phần lý, chúng tôi nêu lên để quý vị biết tại sao khi nghe danh hiệu Đức Phật Dược Sư Lưu Ly Quang Vương thì dứt nghiệp đi trong ba đường ác. Trong Kinh Duy Ma Cật, Phẩm Đệ tử, Đức Phật bảo Ngài Ưu Ba Ly đi đến thăm bệnh ông Duy Ma Cật. Lúc bấy giờ Tôn giả Ưu Ba Ly thưa:

- Bạch Đức Thế Tôn, con không kham lãnh đến thăm bệnh ông ấy. Vì cớ sao? Vì nhớ lúc xưa, có hai vị Tỳ kheo phạm luật hạnh, một vị phạm giới dâm, một vị phạm giới sát, lấy làm hổ thẹn, không dám đến gặp Phật. Những vị này đến hỏi con: “Thưa Ngài Ưu Ba Ly, chúng con phạm luật, thật lấy làm hổ thẹn không dám đến gặp Phật. Mong nhờ Ngài giải rõ chỗ ăn năn, nghi ngại cho chúng con được khỏi tội ấy”. Con liền vì đó mà nói và y theo pháp mà giải thích cho hai vị. Lúc ấy, ông Duy Ma Cật lại nói với con: “Thưa Ngài Ưu Ba Ly, chớ làm nặng thêm tội cho hai vị Tỳ kheo này, phải trừ dứt ngay chỗ làm nhiễu loạn tâm họ. Vì sao? Vì tội tánh kia chẳng ở trong, chẳng ở ngoài, cũng chẳng ở giữa, như Phật nói:“Tâm nhỏ nên chúng sanh nhỏ, tâm sạch nên chúng sanh sạch”. Ngay đó hai vị Tỳ kheo đắc nhãn căn thanh tịnh, thấu suốt được thật tướng vốn không. Khi ấy, hai vị Tỳ kheo tán thán Ngài Duy Ma Cật. 

Vậy nên:

Tánh tội vốn không do tâm tạo
Tâm nếu diệt rồi tội tự tiêu
Tội không tâm diệt thảy đều không
Thế ấy mới là chân sám hối.


Tức là nếu niệm ngay thật tướng thì tội dứt. Như Lục Tổ dạy về phương pháp sám hối: “Đệ tử chúng con từ niệm trước, niệm hiện nay và niệm mai sau, mỗi niệm không bị ngu mê làm nhiễm; từ trước có những nghiệp ác, nghiệp ngu mê, các tội thảy đều sám hối, nguyện một lúc tiêu diệt, hằng không khởi lại. Thế nào gọi là sám? Thế nào gọi là hối? Sám là sám những lỗi về trước, từ trước có những nghiệp ác, ngu mê, kiêu cuống, tật đố…, các tội thảy đều sám hết, hằng không khởi lại. Đó gọi là sám. Hối là hối những lỗi về sau, từ nay về sau, có những nghiệp ác, ngu mê, kiêu cuống, tật đố …, các tội nay đã giác ngộ, thảy đều hằng đoạn, lại không tạo lại. Ấy gọi là hối. Nên gọi là sám hối. Người ngu si không biết, chỉ biết sám lỗi trước, chẳng biết hối lỗi về sau, do vì không hối nên tội trước chẳng diệt, lỗi sau tiếp tục lại sanh”. Ví dụ như mình vừa sám hối tội trộm cắp mà nhìn thấy tiền lại nhặt bỏ vào túi thì có nghĩa là lỗi trước chưa dứt mà tội sau lại tiếp tục sanh.

Lúc này, Ngài Duy Ma Cật nói với Tôn giả Ưu Ba Ly:

- Thưa Ngài Ưu Ba Ly, vọng tưởng là nhơ, không vọng tưởng là sạch, điên đảo là nhơ, không điên đảo là sạch, chấp ngã là nhơ, không chấp ngã là sạch. Ngài Ưu Ba Ly! Tất cả các pháp sanh diệt không ngừng, như huyễn, như chớp. Các pháp không đợi nhau, cho đến một niệm cũng chẳng ngừng. Các pháp đều là vọng thấy, như chiêm bao, như ánh lửa, như trăng dưới nước, như bóng trong gương, đều do vọng tưởng sanh. Ai biết như vậy gọi là giữ luật đệ nhất. Ai biết như vậy gọi là khéo hiểu về thánh pháp.

“Vọng tưởng là nhơ, không vọng tưởng là sạch”: Phương pháp tu về tâm này, mình phải thực hành hàng ngày để đến ngày cuối cùng ra đi được giải thoát. Nếu quý vị nghiệm kĩ thì sẽ thấy, ngày trước nếu mình có gây ra bao nhiêu nghiệp ác đều là do vọng tưởng, đến thời điểm cận tử nghiệp, mình chiếu kiến vọng tưởng, quán tội tánh vốn không thì tức khắc dứt vọng tưởng, cho nên được giải thoát.

Vào thời nhà Tống có một dũng sĩ bắn cung rất giỏi, trăm phát trăm trúng và được rất nhiều người ca ngợi. Một lần ông dũng sĩ này đang biểu diễn và được mọi người tung hô thì tình cờ có một ông bán dầu đi qua nói:

- Quen tay chứ hay gì mà hay.

Dũng sĩ kia tức giận nói:

- Ông nói như vậy mà không làm được thì ta sẽ giết ông đó.

Ông bán dầu nói sẽ biểu diễn cho tất cả mọi người xem. Ngày trước bên Trung Quốc, đồng tiền xu thường có một cái lỗ bé ở giữa. Ông cầm một can dầu đổ từ trên qua cái lỗ đồng tiền vào can dầu bên dưới. Đến khi can dưới đầy thì không có một giọt dầu nào rơi ra ngoài và đồng tiền cũng không dính một chút dầu nào cả. Lúc này ai cũng vỗ tay khen ngợi ông. Ông nói:

- Ngày nào tôi chẳng đổ như vậy nên thành quen chứ hay ho gì. Cũng như ông ngày nào cũng tập bắn nên bắn trăm phát trăm trúng là chuyện bình thường thôi.

Qua câu chuyện trên để quý vị thấy, nếu mình muốn đến lúc mình ra đi mà được giải thoát an ổn thì hàng ngày phải ngồi thiền, tụng kinh, sám hối. Chín mươi chín phát thì cần nhất là phát cuối cùng, tuy rằng chín mươi chín phát trật nhưng nhờ đó mà phát cuối cùng lại thành.

Cho nên tinh thần Duy Ma Cật bên Nam Tông không chấp nhận vì cho rằng đây là kinh của Bà la môn. Nhưng quý vị nghiệm lại, nếu không có tuệ giác vô thượng của Đức Phật, tuệ giác của Ngài Duy Ma Cật thì không thể nói ra được chỗ này. Ngài Duy Ma Cật là một vị cổ Phật ở phương Đông, hiệu là Kim Túc Như Lai, trợ giáo Đức Phật Thích Ca Mâu Ni để xiển dương pháp môn đốn giáo bất nhị. Có câu: “Nhất Phật xuất thế, ngàn Phật hộ trì”, có nghĩa là nếu một vị Phật xuất hiện thì có hàng ngàn vị cổ Phật cũng theo cùng để hộ trì chánh pháp. Cho nên những người xiển dương pháp môn đốn giáo Đại thừa thì mình phải biết đó là những bậc long tượng, bậc thượng căn hóa thân vào cuộc đời này chứ không phải thường.

Tất cả các pháp sanh diệt không ngừng như huyễn, như chớp”, nhờ các pháp vô thường như huyễn, như hóa nên mình mới sám hối được, chứ nếu nó đứng im một chỗ thì mình tu cả đời cũng không được, rớt xuống địa ngục rồi thì ở suốt dưới đó không có ngày lên. Cho nên chúng sanh chấp thường thì các Ngài nói vô thường, như có một vị Tăng đến hỏi Lục tổ: “Phật tánh là gì?”. Ngài nói: “Phật tánh là vô thường”. Nói vậy để phá cái chấp về pháp.

Các pháp chẳng đợi nhau, cho đến một niệm cũng chẳng ngừng. Các pháp đều là vọng thấy, như chiêm bao, như ánh lửa, như trăng dưới nước, như bóng trong gương, đều do vọng tưởng sanh”. Tất cả các pháp đều do vọng tưởng sanh ra nên mình phải tu tập cho hết vọng tưởng thì ngay lập tức được an ổn.

Ai biết như vậy gọi là giữ luật đệ nhất. Ai biết như vậy gọi là khéo hiểu về thánh pháp”.

Do đó, Thiền sư Huyền Giác làm bài kệ trong Chứng Đạo Ca:

Có hai Tỳ kheo phạm dâm sát
Đóm huỳnh Ba Ly thêm buộc siết
Bồ Tát Duy Ma chốc giải ngờ
Như vầng dương hực tiêu sương tuyết.
Thiền trong biển dục rõ kiến lực
Sen trong lửa đỏ muôn đời rực
Dõng Thi phạm giới chứng vô sanh
Sớm vẫn viên thành trong cõi tục.


Trong thời quá khứ có thầy Tỳ kheo tên là Dõng Thi phạm vào hai giới là trộm và sát. Vì thầy có thân tướng rất đẹp nên có một bà vợ của một ông quan khởi niệm thương, và vì thấy bà này cũng đẹp nên ông cũng thương lại luôn, phạm vào giới dâm. Một hôm, ông quan này nghe thấy nhiều người đồn đại về quan hệ của vợ mình và ông thầy Tỳ kheo nên quyết định đi đến bắt quả tang. Nhìn thấy ông quan thì ông thầy sợ quá nên giết luôn ông quan để thủ tiêu, phạm vào giới sát. Sau khi phạm hai giới dâm và sát thì ông rất hối hận. Vì muốn làm thanh tịnh cho mình nên ông lấy ba y treo lên cây tích trượng  rồi xướng to lên: “Tôi đã phạm vào trọng giới, ai vì tôi mà sám hối giùm”. Ông đi khắp các chùa xin sám hối giùm nhưng không ở đâu đồng ý mà còn nói những điều làm cho ông càng nhiễu loạn. Một hôm ông đi đến một tự viện nọ, tình cờ gặp Tôn giả Tỳ Cúc Đa La. Sau khi trình bày hết sự việc thì Tôn giả bảo sẽ sám hối giùm cho ông. Khi ông quỳ xuống thì Tôn giả nói: “Suy tìm tánh tội trọn không thể được”. Tỳ kheo Dõng Thi nghe xong liền ngộ được lý vô sanh, liền qua thế giới phương Đông thành bậc Chánh đẳng chánh giác, hiệu là Bảo Nguyệt Như Lai.

Rõ ràng ngay đó suy tìm tánh tội thì không tìm được, mới biết chỗ này tánh tội vốn không. Cái này chúng ta phải thể nhập và chứng nghiệm thì mới thấy sự kì diệu của nó, sống trong vô sanh thì nghiệp không có đến được, như một vị A-la-hán ngồi thiền thì không có một cung tên nào có thể xuyên qua được vì bên ngoài bao quanh là sức thiền định. Trong cái vô sanh pháp nhẫn, dù trăm ngàn nghiệp chướng cũng không làm gì được mình, mình trả nghiệp là trả bằng cái tâm vọng tưởng của mình thôi.

Ngày trước lúc tôi tu ở Thiền viện Trúc Lâm được vào thất bốn tháng. Có một lần khi ngồi thiền bỗng nhiên thân tâm rớt vào trong tĩnh lặng. Sau khi xả thiền xong, cảm đến đoạn nhân duyên này, tôi tạm làm bài kệ đọc cho quý Phật tử nghe:

Một thoáng quên mình ngộ sắc không
Bao đời nghiệp chướng thảy hoàn không
Ngộ nhập Như Lai minh kiến tánh
Mới hay không pháp cũng không nhân.


Từ đó chúng ta mới thấy, các vị Thiền sư luôn nhẫn được là vì các Ngài luôn ở trong trạng thái vô sanh pháp nhẫn, như Ngài Xá Lợi Phất khi ngồi thiền bị con quỷ đánh vào đầu. Khi Tôn giả Mục Kiền Liên hỏi thì Ngài nói giống như chiếc lá rớt xuống đầu, mà sức con quỷ này đập nát cả núi Tu Di. Sau khi về trình Phật thì Đức Phật nói kệ:

Như tảng đá kiên cố
Gió thổi không lay động
Trước việc khen và chê
Tâm bậc trí bất động.


Vô sanh là bản tánh sẵn có nơi chúng ta, không có can hệ đến bất kỳ ai, thể nhập vào tánh vô sanh thì tức khắc giải thoát. Nhưng chúng ta chưa nhận được vì còn bị cái nghiệp quá sâu dày của mình che đậy, cho nên cần phải tu một thời gian thì mới chứng nghiệm vào trạng thái vô sanh pháp nhẫn. Nhưng chúng tôi tin chắc rằng nếu công phu tốt thì một ngày nào đấy chúng ta sẽ đi đến con đường này.

Dõng Thi phạm giới chứng vô sanh, sớm vẫn viên thành trong cõi tục”, tức là chứng quả ngay trong cuộc đời này; “Liền qua thế giới phương Đông” tức là phải có một phen chuyển hóa, giống như chuyển một đường gươm thì thành tựu. Chỉ có phương pháp thiền thì mới sám hối được thật tướng các pháp, vì mình chỉ cần nhìn thẳng vào nó thôi thì các pháp sanh diệt tự lên tự xuống, nếu ngay khoảng giữa của các niệm sanh diệt mình nhảy lọt vào thì lập tức thế giới vô sanh hiện ra. Việc này không khó, chỉ là mình có chịu làm hay không thôi. Nếu nói phải dời non lấp bể thì mình không làm được, nhưng đây là ngay nơi tự tâm của mình thì chỉ có mình làm được mà thôi. Mình đã cột thì giờ tự mình phải mở chứ không ai làm thay cho mình cả.

Trong Thiền thoại ghi, một hôm Thiền sư Pháp Nhãn hỏi:

- Có một con cọp rất dữ tợn chuyên ăn thịt người, trên cổ đeo một cái lục lạc. Làm thế nào để tháo cái lục lạc đó ra?

Trong hội chúng không ai trả lời được. Có một ông Tăng đứng dậy thưa:

- Ai cột vào thì người đó mở.

Ngày xưa trước mình tạo các nghiệp ác thì nay từ nơi tự tâm mình sám hối các nghiệp ác đó thì mới dứt. Đó là lý do khi phạm giới mà nghe danh hiệu của Đức Phật Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai thì được thanh tịnh. Thì thanh tịnh là ở chỗ đó chứ không phải chỉ nghe rồi thanh tịnh. Mình phải công phu, phải sám hối, phải chứng nghiệm, mà chứng nghiệm vào chỗ tánh tội vốn không thì ngộ được lý vô sanh, lúc đó mới sám hối được. Hàng ngày mình lên đọc sám hối, đọc suốt mà không biết gì hết, như vậy thì sám hối không có kết quả, mà trong lúc tụng đọc, mình phải theo dõi từng niệm để phá từng niệm ác, như vậy mới thành tựu. Cho nên nếu biết phương pháp tu rồi thì dù tu một ngày có thành tựu của một ngày, hai ngày có thành tựu của hai ngày, còn không biết cách thì tu đến ba mươi năm cũng uổng thôi.

Giảng sư

Kết nối

Tổng số truy cập
Thông tin: 21.069
Pháp Âm: 32.943
Đang truy cập
Hôm qua: 20164
Tổng truy cập: 2.138.951
Số người đang online: 499
hosting gia re , web gia re tron goi , thiet ke web tron goi tai ho chi minh, binh duong, vung tau, ha noi, ca nuoc , thiet ke web tron goi gia re