chuabuuchau.com.vn,chuabuuchau, chua buu chau, chùa bửu châu, chua buu chau cu chi

Chương 10. Giải thích một số bài Kinh

KINH PHÁP MÔN CĂN BẢN
(Mūlapariyāya Sutta)

Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn trú tại (tụ lạc) Ukkattha, trong rừng Subhaga (rừng Hạnh phúc), dưới gốc cây Sa-la vương. Tại chỗ ấy, Thế Tôn gọi các Tỷ Kheo: "Này các Tỷ Kheo!". "Bạch Thế Tôn", những Tỷ Kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói: "Này các Tỷ Kheo. Ta sẽ giảng cho các Người "Pháp môn căn bản tất cả pháp". Hãy nghe và khéo tác ý, Ta sẽ nói". - "Thưa vâng, bạch Thế Tôn", những Tỷ Kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:

- Này các Tỷ Kheo , ở đây, có kẻ phàm phu ít nghe, không được thấy các bậc Thánh, không thuần thục pháp các bậc Thánh, không tu tập pháp các bậc Thánh, không được thấy các bậc Chơn nhân, không thuần thục pháp các bậc Chơn nhân, không tu tập pháp các bậc Chơn nhân, tưởng tri địa đại là địa đại. Vì tưởng tri địa đại là địa đại, người ấy nghĩ đến địa đại, nghĩ đến (tự ngã) đối chiếu với địa đại, nghĩ đến (tự ngã) như là địa đại, người ấy nghĩ: "Ðịa đại là của ta" - dục hỷ địa đại. Vì sao vậy? Ta nói người ấy không liễu tri địa đại.

Người ấy tưởng tri thủy đại là thủy đại. Vì tưởng tri thủy đại là thủy đại, người ấy nghĩ đến thủy đại, nghĩ đến (tự ngã) đối chiếu với thủy đại, nghĩ đến (tự ngã) như là thủy đại, người ấy nghĩ: "Thủy đại là của ta" - dục hỷ thủy đại. Vì sao vậy? Ta nói người ấy không liễu tri thủy đại.

Người ấy tưởng tri hỏa đại là hỏa đại. Vì tưởng tri hỏa đại là hỏa đại, người ấy nghĩ đến hỏa đại, nghĩ đến (tự ngã) đối chiếu với hỏa đại, nghĩ đến (tự ngã) như là hỏa đại, người ấy nghĩ: "Hỏa đại là của ta"- dục hỷ hỏa đại. Vì sao vậy? Ta nói người ấy không liễu tri hỏa đại.

Người ấy tưởng tri phong đại là phong đại. Vì tưởng tri phong đại là phong đại, người ấy nghĩ đến (tự ngã) đối chiếu với phong đại, nghĩ đến (tự ngã) như là phong đại, người ấy nghĩ: "Phong đại là của ta"- dục hỷ phong đại. Vì sao vậy? Ta nói người ấy không liễu tri phong đại.

Người ấy tưởng tri Sanh vật là Sanh vật... Người ấy tưởng tri chư Thiên là chư Thiên... Người ấy tưởng tri Sanh chủ là Sanh chủ... Người ấy tưởng tri Phạm thiên là Phạm thiên... Người ấy tưởng tri Quang âm thiên là Quang âm thiên... Người ấy tưởng tri Biến tịnh thiên là Biến tịnh thiên... Người ấy tưởng tri Quảng quả thiên là Quảng quả thiên... Người ấy tưởng tri Abhibhū (Thắng Giả) là Abhibhū...

Người ấy tưởng tri Không vô biên xứ là Không vô biên xứ... Người ấy tưởng tri Thức vô biên xứ là Thức vô biên xứ... Người ấy tưởng tri Vô sở hữu xứ là Vô sở hữu xứ... Người ấy tưởng tri Phi tưởng phi phi tưởng xứ là Phi tưởng phi phi tưởng xứ...

Người ấy tưởng tri sở kiến là sở kiến... Người ấy tưởng tri sở văn là sở văn... Người ấy tưởng tri sở tư niệm là sở tư niệm... Người ấy tưởng tri sở tri là sở tri...

Người ấy tưởng tri đồng nhất là đồng nhất... Người ấy tưởng tri sai biệt là sai biệt... Người ấy tưởng tri tất cả là tất cả...

Người ấy tưởng tri Niết-bàn là Niết-bàn. Vì tưởng tri Niết-bàn là Niết-bàn, người ấy nghĩ đến Niết-bàn, nghĩ đến (tự ngã) đối chiếu với Niết-bàn. Nghĩ đến (tự ngã) như là Niết-bàn, người ấy nghĩ: "Niết-bàn là của ta" - dục hỷ Niết-bàn. Vì sao vậy? Ta nói: Người ấy không liễu tri Niết-bàn.

Này các Tỷ Kheo, có Tỷ Kheo, hữu học tâm chưa thành tựu, đang sống cần cầu sự vô thượng an ổn khỏi khổ ách. Vị ấy thắng tri địa đại là địa đại. Vì thắng tri địa đại là địa đại, vị ấy đã không nghĩ đến địa đại, đã không nghĩ (tự ngã) đối chiếu với địa đại, đã không nghĩ (tự ngã) như là địa đại, đã không nghĩ: "Ðịa đại là của ta", - không dục hỷ địa đại. Vì sao vậy? Ta nói vị ấy có thể liễu tri địa đại.

Vị ấy thắng tri thủy đại... hỏa đại... phong đại...  Sanh vật... chư Thiên... Sanh chủ... Phạm thiên... Quang âm thiên... Biến tịnh thiên... Quảng quả thiên... Abhibhù (Thắng Giả)... Không vô biên xứ... Thức vô biên xứ... Vô sở hữu xứ... Phi tưởng phi phi tưởng xứ... sở kiến... sở văn... sở tư niệm... sở tri... đồng nhất... sai biệt... tất cả...

Vị ấy thắng tri Niết-bàn là Niết-bàn; vì thắng tri Niết-bàn là Niết-bàn, vị ấy đã không nghĩ đến Niết-bàn, đã không nghĩ (tự ngã) đối chiếu với Niết-bàn, đã không nghĩ (tự ngã) như là Niết-bàn, đã không nghĩ: "Niết-bàn là của ta" - không dục hỷ Niết-bàn. Vì sao vậy? Ta nói vị ấy có thể liễu tri Niết-bàn.

Lại nữa, này các Tỷ Kheo, có Tỷ Kheo là bậc A la hán, các lậu hoặc đã tận, tu hành thành mãn, các việc nên làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã thành đạt lý tưởng, đã tận trừ hữu kiết sử, chánh trí giải thoát. Vị ấy thắng tri địa đại là địa đại. Vì thắng tri địa đại là địa đại, vị ấy không nghĩ đến địa đại, không nghĩ (tự ngã) đối chiếu với địa đại, không nghĩ đến (tự ngã) như là địa đại, không nghĩ: "Ðịa đại là của ta" - không dục hỷ địa đại. Vì sao vậy? Ta nói vị ấy đã liễu tri địa đại.

Vị ấy thắng tri thủy đại... hỏa đại... phong đại... sanh vật... chư Thiên... Sanh chủ... Phạm thiên... Quang âm thiên... Biến tịnh thiên... Quảng quả thiên... Abhibhù (Thắng Giả)... Không vô biên xứ... Thức vô biên xứ... Vô sở hữu xứ... Phi tưởng phi phi tưởng xứ... sở kiến... sở văn... sở tư niệm... sở tri... đồng nhất... sai biệt... tất cả... Vị ấy thắng tri Niết-bàn là Niết-bàn. Vì thắng tri Niết-bàn là Niết-bàn, vị ấy không nghĩ đến Niết-bàn, vị ấy không nghĩ đến (tự ngã) đối chiếu với Niết-bàn, không nghĩ đến (tự ngã) như là Niết-bàn, không nghĩ: "Niết-bàn là của ta" - không dục hỷ Niết-bàn. Vì sao vậy? Ta nói vị ấy đã liễu tri Niết-bàn".

Lại nữa, này các Tỷ Kheo , có Tỷ Kheo là bậc A la hán, các lậu hoặc đã tận, tu hành thành mãn, các việc nên làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã thành đạt lý tưởng, đã tận trừ hữu kiết sử, chánh trí giải thoát. Vị ấy thắng tri địa đại là địa đại. Vì thắng trí địa đại là địa đại, vị ấy không nghĩ đến địa đại, không nghĩ đến (tự ngã) đối chiếu với địa đại, không nghĩ đến (tự ngã) như là địa đại, không nghĩ: "Ðịa đại là của ta" - không dục hỷ địa đại. Vì sao vậy? Vì vị ấy không có tham dục, nhờ tham dục đã được đoạn trừ.

Vị ấy thắng tri thủy đại... hỏa đại... Vị ấy thắng tri Niết-bàn là Niết-bàn. Vì thắng tri Niết-bàn là Niết-bàn, vị ấy không nghĩ đến Niết-bàn, không nghĩ đến (tự ngã) đối chiếu với Niết-bàn, không nghĩ đến (tự ngã) như là Niết-bàn, không nghĩ: "Niết-bàn là của ta" - không dục hỷ Niết-bàn. Vì sao vậy? Vì vị ấy không có tham dục, nhờ tham dục đã được đoạn trừ.

Lại nữa, này các Tỷ Kheo , có Tỷ Kheo là bậc A la hán, các lậu hoặc đã tận, tu hành thành mãn, các việc nên làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã thành đạt lý tưởng, đã tận trừ hữu kiết sử, chánh trí giải thoát. Vị ấy thắng tri địa đại là địa đại. Vì thắng tri địa đại là địa đại, vị ấy không nghĩ đến địa đại, không nghĩ đến (tự ngã) đối chiếu với địa đại, không nghĩ đến (tự ngã) như là địa đại, không nghĩ: "Ðịa đại là của ta" - không dục hỷ địa đại. Vì sao vậy? Vì vị ấy không có sân hận, nhờ sân hận đã được đoạn trừ.

Vị ấy thắng tri thủy đại... hỏa đại... Vị ấy thắng tri Niết-bàn là Niết-bàn. Vì thắng tri Niết-bàn là Niết-bàn, vị ấy không nghĩ đến Niết-bàn, không nghĩ đến (tự ngã) đối chiếu với Niết-bàn, không nghĩ đến (tự ngã) như là Niết-bàn, không nghĩ: "Niết-bàn là của ta" - không dục hỷ Niết-bàn. Vì sao vậy? Vì vị ấy không có sân hận, nhờ sân hận đã được đoạn trừ.

Lại nữa, này các Tỷ Kheo , có Tỷ Kheo là bậc A la hán, các lậu hoặc đã tận, tu hành thành mãn, các việc nên làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã thành đạt lý tưởng, đã tận trừ hữu kiết sử, chánh trí giải thoát. Vị ấy thắng tri địa đại là địa đại. Vì thắng trí địa đại là địa đại, vị ấy không nghĩ đến địa đại, không nghĩ đến (tự ngã) đối chiếu với địa đại, không nghĩ đến (tự ngã) như là địa đại, không nghĩ: "Ðịa đại là của ta" - không dục hỷ địa đại. Vì sao vậy? Vì vị ấy không có si mê, nhờ si mê đã được đoạn trừ.

Vị ấy thắng tri thủy đại... hỏa đại... Vị ấy thắng tri Niết-bàn là Niết-bàn. Vì thắng tri Niết-bàn là Niết-bàn, vị ấy không nghĩ đến Niết-bàn, không nghĩ đến (tự ngã) đối chiếu với Niết-bàn, không nghĩ đến (tự ngã) như là Niết-bàn, không nghĩ: "Niết-bàn là của ta" - không dục hỷ Niết-bàn. Vì sao vậy? Vì vị ấy không có si mê, nhờ si mê đã được đoạn trừ.

Này các Tỷ Kheo, Như Lai là bậc A la hán, Chánh Ðẳng Giác, thắng tri địa đại là địa đại. Vì thắng tri địa đại là địa đại, Ngài không nghĩ đến địa đại, không nghĩ đến (tự ngã) đối chiếu với địa đại, không nghĩ đến (tự ngã) như là địa đại, không nghĩ: "Ðịa đại là của ta" - không dục hỷ địa đại. Vì sao vậy? Ta nói vì Như Lai đã liễu tri địa đại.

Như Lai thắng tri thủy đại... hỏa đại... Như Lai thắng tri Niết-bàn là Niết-bàn. Vì thắng tri Niết-bàn là Niết-bàn, Như Lai không nghĩ đến Niết-bàn, không nghĩ đến (tự ngã) đối chiếu với Niết-bàn, không nghĩ đến (tự ngã) như là Niết-bàn, không nghĩ đến (tự ngã) như là Niết-bàn, không nghĩ: "Niết-bàn là của ta" - không dục hỷ Niết-bàn. Vì sao vậy? Ta nói vì Như Lai đã liễu tri Niết-bàn.

Này các Tỷ Kheo , Như Lai là bậc A la hán, Chánh Ðẳng Giác, thắng tri địa đại là địa đại. Vì thắng tri địa đại là địa đại, Như Lai không nghĩ đến địa đại, không nghĩ đến (tự ngã) đối chiếu với địa đại, không nghĩ đến (tự ngã) như là địa đại, không nghĩ: "Ðịa đại là của ta" - không dục hỷ địa đại. Vì sao vậy? Vì Như Lai biết rằng: "Dục hỷ là căn bản của đau khổ, từ hữu, sanh khởi lên, và già và chết đến với loài sinh vật". Do vậy, này các Tỷ Kheo , Ta nói vì Như Lai, với sự diệt trừ hoàn toàn các ái, sự ly tham, sự đoạn diệt, sự xả ly, sự từ bỏ hoàn toàn các ái, đã chơn chánh giác ngộ vô thượng chánh đẳng chánh giác.

Như Lai thắng tri thủy đại... hỏa đại... Như Lai thắng tri Niết-bàn là Niết-bàn. Vì thắng tri Niết-bàn là Niết-bàn, Như Lai không nghĩ đến Niết-bàn, không nghĩ đến (tự ngã) đối chiếu với Niết-bàn, không nghĩ đến (tự ngã) như là Niết-bàn, không nghĩ: "Niết-bàn là của Ta" - không dục hỷ Niết-bàn. Vì sao vậy? Vì Như Lai biết rằng: "Dục hỷ là căn bản của đau khổ, từ hữu, sanh khởi lên, và già chết đến với loài sinh vật". Do vậy, này các Tỷ Kheo , Ta nói vì Như Lai, với sự diệt trừ hoàn toàn các ái, sự ly tham, sự đoạn diệt, sự xả ly, sự trừ bỏ hoàn toàn các ái, đã chơn chánh giác ngộ vô thượng chánh đẳng chánh giác."

Như vậy, Thế Tôn thuyết giảng. Các Tỷ Kheo ấy hoan hỷ tín thọ lời dạy của Thế Tôn.

GIẢI THÍCH:

Đây là bài kinh đầu tiên trong 152 bài kinh thuộc Trung Bộ Kinh (Majjhima Nikāya) có nghĩa là Pháp môn nền tảng của tất cả Pháp. Theo ý kiến của Hòa Thượng Minh Châu, người phiên dịch và am hiểu sâu sắc kinh điển hệ phái Nguyên Thủy thì Trường Bộ Kinh (Dῑgha Nikāya) bao gồm các bản kinh dài, nặng phần lịch sử có tính cách đối ngoại với Bà la môn, du sĩ ngoại đạo, Kỳ na giáo v.v… Trung Bộ Kinh bao gồm các bài kinh giảng về chánh tri kiến, các phương pháp tu hành nhất là tiến trình tu chứng, giới, định, tuệ, giải thoát, giải thoát tri kiến v.v…

Bài kinh này được sắp xếp đầu tiên trong Trung Bộ Kinh với tên gọi là Pháp Môn Căn Bản (Mūlapariyāya Sutta), có nghĩa là căn bản, là cốt tủy của tất cả giáo lý (Pháp) mà Đức Phật đã thuyết giảng. Căn bản cốt tủy của đạo Phật là chấm dứt lộ trình Bát Tà Đạo làm sinh khởi cái biết vô minh (vọng tưởng), từ vô minh phát sinh Dục Hỷ là căn bản của Khổ, bằng cách làm khởi lên lộ trình Bát Chánh Đạo sinh khởi cái biết Minh (trí tuệ), không có Dục Hỷ thì không có Khổ.

Trong kinh đề cập đến bốn hạng người: Phàm phu, bậc hữu học, A la hán và Phật với các lộ trình khởi lên thấy biết khác nhau.

1. Đối với phàm phu: Tuy đề cập tới tất cả đối tượng nhưng công thức chung diễn tả là “..Người ấy tưởng tri địa đại là địa đại. Vì tưởng tri địa đại là địa đại, người ấy nghĩ đến địa đại, nghĩ đến (tự ngã) đối chiếu với địa đại, nghĩ đến (tự ngã) như là địa đại, người ấy nghĩ: "Ðịa đại là của ta" - dục hỷ địa đại. Vì sao vậy? Ta nói người ấy không liễu tri địa đại.”

Với ngôn từ và cách diễn tả thời xưa, sự truyền miệng thời đó và cách phiên dịch ngày nay có một chút khó hiểu, nhưng nếu xuyên qua ngôn ngữ và cách quán sát nơi sự thật thì Đức Phật mô tả lộ trình tâm Bát Tà Đạo - lộ trình tâm của kẻ phàm phu:

Xúc → Cảm giác (Thọ) → Tưởng → Tà Niệm → Tà tư duy → Tà Tri kiến → Tham, Sân, Si v.v…

Tưởng tri là cái biết tưởng tức cái biết trực tiếp, có tưởng tri sẽ xuất hiện tư duy (vì tưởng tri địa đại người ấy nghĩ đến địa đại). Do có tư duy mà phát sinh cái biết ý thức nhị nguyên, nội dung cái biết nhị nguyên này có:

- Chủ thể và đối tượng: Được diễn tả là đối chiếu tự ngã với địa đại (tự ngã là chủ thể biết, địa đại là đối tượng bị biết.)

- Chấp thủ: Ta là địa đại, địa đại là của ta.

Trong rất nhiều bài kinh, Đức Phật đã diễn tả cái biết này là cái biết “Ngã kiến, ngã sở kiến, ngã mạn tùy miên”. Nghĩa là cái biết có ta, có của ta, có ta hơn, ta kém, ta bằng. Đức Phật khẳng định cái biết này là không “liễu tri” địa đại, tức không biết như thật địa đại, đây là cái biết vô minh hay vọng tưởng, với cái biết này sẽ phát sinh tham sân si, phát sinh dục hỷ (muốn có niềm vui, hỷ lạc).

Đối với kẻ phàm phu khởi lên cái biết ý thức nhị nguyên về Niết bàn: Ta là người biết - niết bàn là đối tượng được biết, ta phải nỗ lực để hòa nhập vào niết bàn, niết bàn là ta, niết bàn là của ta - dục hỷ niết bàn: Mong muốn đạt đến niềm phúc lạc của niết bàn, vì niết bàn theo phàm phu là muốn gì được nấy (phúc lạc tuyệt đối).

Lộ trình này có thể lấy ví dụ như sau: Một người thấy chiếc xe ô tô đẹp của mình, mắt tiếp xúc với xe ô tô phát sinh cảm giác hình ảnh và nhãn thức thấy cảm giác hình ảnh đó (gọi là tưởng tri ô tô là ô tô), tiếp đến tà niệm khởi lên với nội dung: Cái này là gì, đẹp, xấu hay trung tính? Do tà niệm phát sinh tà tư duy: Phân tích, so sánh hình ảnh được tưởng tri với các thông tin hình ảnh trong “kho chứa” (do tưởng tri ô tô mà nó nghĩ đến ô tô), do tà tư duy làm phát sinh cái biết nhị nguyên: Ta là người thấy và ô tô là đối tượng được thấy, ô tô là của ta, ô tô này đẹp, tốt, sang trọng (đây là đối chiếu ta với ô tô, nó nghĩ ta là ô tô, ô tô là của ta), và với cái biết ý thức nhị nguyên này muốn thích thú và lạc thú do ô tô này mang lại được tồn tại mãi (dục hỷ ô tô).

2. Đối với hữu học đạo: Đức Phật mô tả lộ trình như sau:

“Này các Tỷ Kheo, có Tỷ Kheo, hữu học tâm chưa thành tựu, đang sống cần cầu vô thượng an ổn khỏi khổ ách. Vị ấy thắng tri địa đại là địa đại. Vì thắng tri địa đại là địa đại, vị ấy đã không nghĩ đến địa đại, đã không nghĩ (tự ngã) đối chiếu với địa đại, đã không nghĩ (tự ngã) như là địa đại, đã không nghĩ: "Ðịa đại là của ta", - không dục hỷ địa đại. Vì sao vậy? Ta nói vị ấy có thể liễu tri địa đại.”

Một vị hữu học, một đệ tử của bậc Thánh, thực hành Bát Chánh Đạo, lộ trình tâm của vị ấy như sau:

Xúc → Thọ → Tưởng → Chánh Niệm → Chánh Tinh tấn → Chánh Định → Tỉnh giác → Chánh Tư duy → Chánh Kiến …

Do lộ trình Bát Chánh Đạo khởi lên nên lộ trình Bát Tà Đạo bị diệt, tà tư duy, tà tri kiến … dục hỷ diệt (đã không nghĩ đến địa đại “Tà tư duy diệt”, không nghĩ tự ngã đối chiếu với địa đại, không nghĩ địa đại là của ta “Tà tri kiến diệt” và dục hỷ diệt).

- Trong lộ trình Bát Chánh Đạo cái biết trực tiếp không phải là tưởng tri mà do có chánh niệm → chánh tinh tấn → chánh định, nên cái biết trực tiếp này an trú và gọi là tỉnh giác hay thắng tri.

- Trong lộ trình này tư duy sử dụng các thông tin trong “kho chứa” bao gồm: Minh, tri thức, kinh nghiệm, thói quen, vô minh, ta, của ta. Nhưng Minh được kích hoạt nên chánh tư duy chỉ sử dụng minh mà không sử dụng vô minh, tuy vậy; vô minh, ta, của ta vẫn còn lưu trong ADN chưa được xóa bỏ. Chánh tư duy sẽ phát sinh chánh kiến là cái biết ý thức như thật, gọi là liễu tri hay minh, trí tuệ.

Đối với vị hữu học, chưa xảy ra đột chuyển, chưa xóa được vô minh, ta, của ta nên chánh kiến chưa toàn triệt do vậy Đức Phật nói: Vị ấy có thể liễu tri.

3. Đối với vị A la hán: Lộ trình của vị A la hán vẫn là Bát Chánh Đạo như vị hữu học nhưng đã xảy ra đột chuyển, vô minh, ta, của ta được xóa sạch và minh được cài đặt vĩnh viễn, vì vậy cái biết ý thức như thật là chánh kiến đã toàn triệt, do vậy Đức Phật nói: Vị ấy đã liễu tri.

Do nhân làm phát sinh lộ trình Bát Tà Đạo là thông tin về ta, của ta được lưu trong ADN đã được hoàn toàn xóa bỏ nên lộ trình Bát Tà Đạo đoạn diệt hoàn toàn nên tham sân si diệt tận không có dư tàn, không còn tái sinh trong tương lai.

4. Đối với Như Lai: Lộ trình tâm của Như lai là lộ trình tâm của vị A la hán, nhưng Như Lai là vị tự Ngài tìm ra, tự chứng ngộ rồi tự tuyên thuyết nên Như Lai là bậc chánh đẳng giác. Như Lai đã chỉ rõ: Dục hỷ là căn bản của khổ. Sự thật đó đang hiện hữu nơi thế gian này, không kẻ phàm phu nào không khát khao, mong mỏi, tìm cầu “niềm vui, hạnh phúc, lạc thú” (dục hỷ) và kết quả chỉ vòng quanh khổ mà thôi.

KINH MẬT HOÀN
(Madhupindika Sutta)

Tôi nghe như vầy:

Một thời, Thế Tôn sống giữa các vị dòng họ Sakka (Thích-ca), tại Kapilavatthu (Ca-tỳ-la-vệ), ở vườn Nigrodharama.

Rồi Thế Tôn vào buổi sáng, đắp y, cầm y bát vào thành Kapilavatthu để khất thực. Sau khi khất thực ở Kapilavatthu, khi ăn xong, trên đường khất thực trở về, Thế Tôn đi đến Ðại Lâm để nghỉ trưa. Sau khi vào rừng Ðại Lâm, Ngài ngồi nghỉ trưa dưới gốc cây Beluvalatthika.

Có vị Gậy cầm tay (Dandapani) Sakka (Thích-ca), kéo bộ khắp nơi, ngao du thiên hạ, đến tại rừng Ðại Lâm, đi sâu vào ngôi rừng, đến tại Beluvalatthika chỗ Thế Tôn ở, khi đến xong nói lên những lời hỏi thăm xã giao thân hữu, rồi đứng một bên, dựa trên cây gậy, đứng một bên. Gậy cầm tay Sakka nói với Thế Tôn: "Sa-môn có quan điểm thế nào, giảng thuyết những gì?"

-"Này Hiền giả, theo lời dạy của Ta, trong thế giới với chư Thiên, Mara và Phạm thiên, với các chúng Samôn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người, không có tranh luận một ai ở đời; các tưởng sẽ không ám ảnh vị Bà-la-môn; sống không bị dục triền phược, không có nghi ngờ do dự, với mọi hối quá đoạn diệt, không có tham ái đối với hữu và phi hữu. Này Hiền giả, như vậy là quan điểm của Ta, như vậy là lời Ta giảng dạy".

Khi nghe nói vậy, Gậy cầm tay Sakka lắc đầu, liếm lưỡi, với trán nổi lên ba đường nhăn, chống gậy rồi đi.

Rồi Thế Tôn vào buổi chiều từ Thiền tịnh độc cư đứng dậy, đi đến vườn Nigrodha, khi đến xong, ngồi trên chỗ đã soạn sẵn. Sau khi ngồi, Thế Tôn gọi các Tỷ Kheo:

- Chư Tỷ Kheo, ở đây, Ta vào buổi sáng, đắp y, cầm y bát vào thành Kapilavatthu để khất thực. Sau khi khất thực ở Kapilavatthu, ăn xong, trên đường khất thực trở về, Ta đi đến Ðại Lâm để nghỉ trưa. Sau khi vào rừng Ðại Lâm, Ta ngồi nghỉ trưa dưới gốc cây Beluvalatthika.

Có vị Gậy cầm tay Sakka kéo bộ khắp nơi, ngao du thiên hạ, đến tại rừng Ðại Lâm, đi sâu vào ngôi rừng, đến tại Beluvalatthika chỗ Ta ở, khi đến xong, nói lên những lời hỏi thăm xã giao thân hữu, rồi đứng một bên, dựa trên cây gậy. Ðứng một bên, Gậy cầm tay Sakka nói với Ta như sau: "Sa-môn có quan điểm thế nào, giảng thuyết những gì?" Chư Tỷ Kheo, được nói vậy, Ta trả lời Gậy cầm tay Sakka: "Này Hiền giả, theo lời Ta dạy trong thế giới với chư Thiên, Mara, và Phạm thiên, với các chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người, không có tranh luận một ai ở đời. Các tưởng sẽ không ám ảnh vị Bà-la-môn sống không bị dục triền phược, không có nghi ngờ do dự, với mọi hối quá đoạn diệt, không có tham ái đối với hữu và phi hữu. Này Hiền giả, như vậy là quan điểm của Ta, như vậy là lời Ta giảng dạy". Khi nghe nói vậy, Gậy cầm tay Sakka lắc đầu, liếm lưỡi, với trán nổi lên ba đường nhăn, chống gậy rồi đi.

Khi nghe nói vậy, một Tỷ Kheo bạch Thế Tôn:

- Nhưng bạch Thế Tôn, lời dạy ấy là gì mà Thế Tôn, trong thế giới với chư Thiên, Mara và Phạm thiên, với các chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người, không có tranh luận một ai ở đời? Các tưởng sẽ không ám ảnh Thế Tôn, vị đã sống không bị dục triền phược, không có nghi ngờ do dự, với mọi hối quá đoạn diệt, không có tham ái đối với hữu và phi hữu?

- Này Tỷ Kheo , do bất cứ nhân duyên gì, một số hý luận vọng tưởng ám ảnh một người. Nếu ở đây không có gì đáng tùy hỷ, đáng đón mừng, đáng chấp thủ, thời như vậy là sự đoạn tận tham tùy miên, sự đoạn tận sân tùy miên, sự đoạn tận kiến tùy miên, sự đoạn tận nghi tùy miên, sự đoạn tận mạn tùy miên, sự đoạn tận hữu tham tùy miên, sự đoạn tận vô minh tùy miên, sự đoạn tận chấp trượng, chấp kiếm, đấu tranh, tránh tranh, luận tranh, kháng tranh, ly gián ngữ, vọng ngữ. Chính ở đây, những ác, bất thiện pháp này đều được tiêu diệt, không còn dư tàn.

Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Sau khi nói vậy, Thiện Thệ từ chỗ ngồi đứng dậy bước vào tịnh xá.

Sau khi Thế Tôn đi chẳng bao lâu, các Tỷ Kheo ấy suy nghĩ: "Chư Hiền, Thế Tôn sau khi nói lên lời dạy tóm tắt này cho chúng ta, không giải thích rộng rãi ý nghĩa, từ chỗ ngồi đứng dậy và đã đi vào tịnh xá: "Này Tỷ Kheo , do bất cứ nhân duyên gì... không còn dư tàn".

Nay ai có thể giải thích rộng rãi ý nghĩa lời giảng được Thế Tôn nói lên một cách vắn tắt, và không giải thích rõ ràng ý nghĩa". Rồi những Tỷ Kheo ấy suy nghĩ: "Nay có Tôn giả Mahakaccana (Ðại Ca-chiên-diên) là vị được Thế Tôn tán dương và được các vị đồng phạm hạnh có trí kính trọng. Tôn giả Mahakaccana có thể giải thích rộng rãi ý nghĩa lời giảng dạy này được Thế Tôn nói lên một cách vắn tắt, và không giải thích rõ ràng ý nghĩa.

Vậy chúng ta hãy đi đến chỗ Tôn giả Mahakaccana ở, sau khi đến, sẽ hỏi Tôn giả Mahakaccana ý nghĩa này".

Rồi những Tỷ Kheo ấy đến chỗ Tôn giả Mahakaccana ở, sau khi đến, nói lên những lời chúc tụng, hỏi thăm xã giao với Tôn giả Mahakaccana rồi ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, những Tỷ Kheo ấy thưa với Tôn giả Mahakaccana:

- "Này Hiền giả, Thế Tôn sau khi nói lên lời dạy tóm tắt này và không giải thích rõ ràng ý nghĩa, từ chỗ ngồi đứng dậy và đã đi vào tịnh xá: "Này Tỷ Kheo, do bất cứ nhân duyên gì... không còn dư tàn".

Này Hiền giả Mahakaccana, khi Thế Tôn đi chưa bao lâu, chúng tôi suy nghĩ: "Chư Hiền, Thế Tôn sau khi nói lên lời dạy vắn tắt này cho chúng ta... đã đi vào tịnh xá:" Do bất cứ nhân duyên gì... không còn dư tàn". Ai có thể giải thích rộng rãi ý nghĩa lời giảng dạy mà Thế Tôn nói lên một cách vắn tắt... không giải thích rõ ràng ý nghĩa?" Này Hiền giả Mahakaccana, rồi chúng tôi suy nghĩ: "Nay Tôn giả Mahakaccana được Thế Tôn tán thán và được các vị đồng phạm hạnh có trí kính trọng, Tôn giả Mahakaccana có thể giải thích rộng rãi ý nghĩa lời giảng dạy được Thế Tôn nói lên một cách vắn tắt và không giải thích rõ ràng ý nghĩa. Vậy chúng ta hãy đi đến chỗ Tôn giả Mahakaccana ở, sau khi đến, chúng ta hỏi Tôn giả Mahakaccana ý nghĩa này. Tôn giả Mahakaccana sẽ giải thích cho".

- Chư Hiền, cũng như một người ưa thích lõi cây, tìm tòi lõi cây, đi khắp mọi nơi tìm lõi cây, đến một cây to lớn, đứng thẳng và có lõi cây. Người này bỏ qua rễ, bỏ qua thân cây, nghĩ rằng phải tìm lõi cây ở nơi cành lá.

Cũng vậy là hành động của chư Tôn giả, đứng trước mặt Thế Tôn, quý vị bỏ qua Thế Tôn, nghĩ rằng phải hỏi tôi về ý nghĩa này. Chư Hiền, Thế Tôn biết những gì cần phải biết, thấy những gì cần phải thấy, Ngài đã trở thành vị có mắt, trở thành vị có trí, trở thành Chánh pháp, trở thành Brahma, vị thuyết giả, vị diễn giả, vị đem lại mục tiêu, vị trao cho bất tử, vị Pháp Chủ, Như Lai. Quý vị phải tùy thời hỏi Thế Tôn ý nghĩa này. Những gì Thế Tôn giải thích cho quý vị, quý vị hãy như vậy thọ trì.

- Hiền giả Mahakaccana, chắc chắn Thế Tôn biết những gì cần phải biết, thấy những gì cần phải thấy, Ngài đã trở thành vị có mắt, trở thành vị có trí, trở thành Chánh pháp, trở thành Brahma, vị thuyết giả, vị diễn giả, vị đem lại mục tiêu, vị trao cho bất tử, vị Pháp Chủ, Như Lai. Chúng tôi phải tùy thời hỏi Thế Tôn ý nghĩa này.

Những gì Thế Tôn giải thích cho chúng tôi, chúng tôi sẽ như vậy thọ trì. Nhưng Tôn giả Mahakaccana được Thế Tôn tán thán, được các vị đồng phạm hạnh có trí kính trọng. Tôn giả Mahakaccana có thể giải thích rộng rãi ý nghĩa lời giảng dạy được Thế Tôn nói lên một cách vắn tắt và không giải thích rõ ràng ý nghĩa. Mong Tôn giả Mahakaccana hãy giải thích không có sự gì bất kính.

- Vậy chư Hiền hãy nghe và khéo tác ý, tôi sẽ giảng.

- Thưa vâng, Hiền giả.

Các Tỷ Kheo ấy vâng đáp Tôn giả Mahakaccana.

Tôn giả Mahakaccana giảng như sau:

- Chư Hiền, Thế Tôn nói lên một cách vắn tắt lời dạy này... và đã đi vào tịnh xá: "Này Tỷ Kheo bất cứ vì nhân duyên gì... không còn dư tàn". Chư Hiền, với lời dạy được Thế Tôn nói lên một cách vắn tắt, và không giải thích rõ ràng ý nghĩa. Tôi hiểu ý nghĩa một cách đầy đủ như sau:

Chư Hiền, do nhơn con mắt và các sắc pháp, nhãn thức khởi lên. Sự gặp gỡ của ba pháp này là xúc. Do duyên xúc nên có cảm thọ. Những gì có cảm thọ thời có tưởng, những gì có tưởng thời có suy tầm, những gì có suy tầm thì có hý luận. Do hý luận ấy làm nhơn, một số hý luận vọng tưởng ám ảnh một người, đối với các sắc pháp do con mắt nhận thức, quá khứ, tương lai và hiện tại.

Chư Hiền, do nhơn lỗ tai và các tiếng, nhĩ thức khởi lên, do nhơn lỗ mũi và các hương, tỷ thức khởi lên, do nhơn lưỡi và các vị, thiệt thức khởi lên, do nhơn thân và xúc, thân thức khởi lên; do nhơn ý và các pháp, ý thức khởi lên. Sự gặp gỡ của ba pháp này là xúc. Do duyên xúc nên có các cảm thọ. Những gì có cảm thọ thời có tưởng. Những gì có tưởng thời có suy tầm. Những gì có suy tầm thời có hý luận. Do hý luận ấy làm nhơn, một số hý luận vọng tưởng ám ảnh một người, đối với các pháp do ý thức nhận thức, quá khứ, tương lai và hiện tại.

Chư Hiền, sự kiện này xảy ra: Khi nào có mắt, khi nào có sắc pháp, khi nào có nhãn thức, thời sự thi thiết của xúc được hiển lộ. Sự kiện này xảy ra: Khi nào có sự thi thiết của xúc thời sự thi thiết của thọ được hiển lộ. Sự kiện này xảy ra: Khi nào có thi thiết của thọ thời sự thi thiết của tưởng được hiển lộ. Sự kiện này xảy ra: Khi nào có sự thi thiết của tưởng, thời sự thi thiết của suy tầm được hiển lộ. Sự kiện này xảy ra: Khi nào có sự thi thiết của suy tầm thời sự thi thiết của sự ám ảnh một số hý luận vọng tưởng được hiển lộ.

Sự kiện này xảy ra: Khi nào có tai, khi nào có các tiếng, khi nào có nhĩ thức... Sự kiện này xảy ra: Khi nào có lỗ mũi, khi nào có các hương, khi nào có tỷ thức... Sự kiện này xảy ra, khi nào có lưỡi, khi nào có các vị, khi nào có thiệt thức... Sự kiện này xảy ra: Khi nào có thân, khi nào có các xúc, khi nào có thân thức... Sự kiện này xảy ra: Khi nào có ý, khi nào có các pháp, khi nào có ý thức thời sự thi thiết của xúc được hiển lộ.

Chư Hiền, sự kiện này không xảy ra: Khi nào không có mắt, khi nào không có các sắc, khi nào không có nhãn thức, sự thi thiết của xúc được hiển lộ. Sự kiện này không xảy ra: Khi nào không có sự thi thiết của xúc, sự thi thiết của thọ được hiển lộ. Sự kiện này không xảy ra: Khi nào không có sự thi thiết của thọ, sự thi thiết của tưởng được hiển lộ. Sự kiện này không xảy ra: Khi nào không có sự thi thiết của tưởng, sự thi thiết của suy tầm được hiển lộ. Sự kiện này không xảy ra: Khi nào không có sự thi thiết của suy tầm, thời sự thi thiết của sự ám ảnh một số hý luận vọng tưởng được hiển lộ.

Chư Hiền, sự kiện này không xảy ra: Khi nào không có tai, khi nào không có các tiếng... khi nào không có mũi, khi nào không có các hương... khi nào không có lưỡi, khi nào không có các vị... khi nào không có thân, khi nào không có các xúc ... Sự kiện này không xảy ra: Khi nào không có ý, khi nào không có các pháp, khi nào không có ý thức, sự thi thiết của xúc được hiển lộ...

Chư Hiền, Thế Tôn, sau khi nói lên lời dạy một cách vắn tắt... đã đi vào tịnh xá: "Này Tỷ Kheo , do bất cứ nhân duyên gì... không dư tàn". Chư Hiền, đối với lời dạy Thế Tôn nói lên một cách vắn tắt này, và nghĩa lý không được giải thích một cách rộng rãi, tôi đã hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi như vậy. Nếu quý vị muốn, hãy đi đến chỗ Thế Tôn ở, sau khi đến, hãy hỏi ý nghĩa này.

Thế Tôn giải đáp như thế nào, hãy như vậy thọ trì.

Rồi những Tỷ Kheo ấy, hoan hỷ, tùy hỷ lời Tôn giả Mahakaccana nói, từ chỗ ngồi đứng dậy, đi đến chỗ Thế Tôn ở, sau khi đến đảnh lễ Ngài và ngồi xuống một bên.

Sau khi ngồi xuống một bên, các Tỷ Kheo ấy bạch Thế Tôn:

- Bạch Thế Tôn, Thế Tôn nói lên lời dạy này một cách vắn tắt cho chúng con... đã vào tịnh xá. "Này Tỷ Kheo , do bất cứ nhân duyên gì... không còn dư tàn".

Khi Thế Tôn đi chẳng bao lâu, chúng con suy nghĩ như sau: "Chư Hiền, Thế Tôn sau khi nói cho chúng ta lời dạy tóm tắt này, không giải thích ý nghĩa một cách rộng rãi, từ chỗ ngồi đứng dậy và đã đi vào tịnh xá: "Này Tỷ Kheo, do bất cứ nhân duyên gì, một số hý luận vọng tưởng ám ảnh một người, nếu ở đây không có gì đáng tùy hỷ, đáng đón mừng, đáng chấp thủ, thời như vậy là sự đoạn tận tham tùy miên, sự đoạn tận sân tùy miên, sự đoạn tận kiến tùy miên, sự đoạn tận nghi tùy miên, sự đoạn tận mạn tùy miên, sự đoạn tận hữu tham tùy miên, sự đoạn tận vô minh tùy miên, sự đoạn tận chấp trượng, chấp kiếm, đấu tranh, tránh tranh, luận tranh, kháng tranh, ly gián ngữ, vọng ngữ. Chính ở đây, những ác, bất thiện pháp này đều được tiêu diệt, không còn dư tàn".

Nay ai có thể giải thích rộng rãi ý nghĩa lời giảng dạy này được Thế Tôn nói lên một cách vắn tắt và không giải thích rõ ràng ý nghĩa?" Bạch Thế Tôn, và chúng con suy nghĩ: "Nay có Tôn giả Mahakaccana là vị được Thế Tôn tán dương và được các vị đồng phạm hạnh có trí kính trọng. Tôn giả Mahakaccana có thể giải thích rộng rãi ý nghĩa lời giảng dạy này được Thế Tôn nói lên một cách vắn tắt và không giải thích rõ ràng ý nghĩa. Vậy chúng ta hãy đi đến chỗ Tôn giả Mahakaccana ở, sau khi đến sẽ hỏi Tôn giả Mahakaccana ý nghĩa này". Bạch Thế Tôn, rồi chúng con đi đến chỗ Tôn giả Mahakaccana ở, sau khi đến, chúng con hỏi Tôn giả Mahakaccana ý nghĩa này. Bạch Thế Tôn, Tôn giả Mahakaccana đã giải thích ý nghĩa ấy cho chúng con với những phương pháp này, với những văn cú này, với những văn tự này.

- Chư Tỷ Kheo, Tôn giả Mahakaccana là bậc Hiền trí. Chư Tỷ Kheo , Tôn giả Mahakaccana là bậc Ðại tuệ.

Chư Tỷ Kheo, nếu các Người hỏi Ta ý nghĩa này, Ta cũng trả lời như Mahakaccana đã trả lời. Như vậy là chính nghĩa lời dạy ấy, hãy như vậy thọ trì.

Khi nghe nói vậy, Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:

- Bạch Thế Tôn, như một người bị đói lả và mệt mỏi, tìm được một bánh mật, cứ mỗi miếng vị ấy được nếm, cứ mỗi miếng vị ấy được thưởng thức vị ngọt thuần nhất. Bạch Thế Tôn, cũng vậy, Tỷ Kheo có tri thức biệt tài, cứ mỗi phần suy tư đến ý nghĩa pháp môn này với trí tuệ, cứ mỗi phần vị ấy được thưởng thức sự hoan hỷ, được thưởng thức sự thoải mái tâm trí. Bạch Thế Tôn, pháp môn này tên gọi là gì?

- Do vậy, này Ananda, pháp môn này được gọi là pháp môn bánh mật (Mật hoàn). Hãy như vậy thọ trì!

Thế Tôn thuyết giảng như vậy.Tôn giả Ananda hoan hỷ, tín thọ lời dạy của Thế Tôn.

GIẢI THÍCH:

Vấn đề của kinh này là giải thích lời dạy của Đức Thế Tôn, khi một tỷ kheo hỏi Thế Tôn: “Nhưng bạch Thế Tôn, lời dạy ấy là gì mà Thế Tôn, trong thế giới với chư Thiên, Mara và Phạm thiên, với các chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người, không có tranh luận một ai ở đời? Các tưởng sẽ không ám ảnh Thế Tôn, vị đã sống không bị dục triền phược, không có nghi ngờ do dự, với mọi hối quá đoạn diệt, không có tham ái đối với hữu và phi hữu”

Đức Phật đã trả lời: “Này Tỷ Kheo , do bất cứ nhân duyên gì, một số hý luận vọng tưởng ám ảnh một người. Nếu ở đây không có gì đáng tùy hỷ, đáng đón mừng, đáng chấp thủ, thời như vậy là sự đoạn tận tham tùy miên, sự đoạn tận sân tùy miên, sự đoạn tận kiến tùy miên, sự đoạn tận nghi tùy miên, sự đoạn tận mạn tùy miên, sự đoạn tận hữu tham tùy miên, sự đoạn tận vô minh tùy miên, sự đoạn tận chấp trượng, chấp kiếm, đấu tranh, tránh tranh, luận tranh, kháng tranh, ly gián ngữ, vọng ngữ. Chính ở đây, những ác, bất thiện pháp này đều được tiêu diệt, không còn dư tàn.”

Nội dung của kinh này chủ yếu nêu lên lời giải thích của Tôn giả Đại Ca Chiên Diên, lời giảng của Ngài Ca Chiên Diên cũng chỉ mới giải quyết được câu đầu trong câu trả lời của Đức Phật: “Do bất cứ nhân duyên gì, một số hý luận vọng tưởng ám ảnh một người.

Ca Chiên Diên đã giải thích: “Do duyên xúc nên có cảm thọ. Những gì có cảm thọ thời có tưởng, những gì có tưởng thời có suy tầm, những gì có suy tầm thì có hý luận. Do hý luận ấy làm nhơn, một số hý luận vọng tưởng ám ảnh một người,

Có thể thấy ngay rằng Ngài Ca Chiên Diên mô tả lộ trình khởi lên cái biết ý thức nhị nguyên, lộ trình Bát Tà Đạo. Xúc → Thọ → Tưởng → (Tà Niệm) → Tà Tư Duy → Tà Tri Kiến…, chữ suy tầm còn có nghĩa là suy tư, tìm hiểu tức tư duy. Hý luận vọng tưởng là cái biết không như thực, không đúng với sự thật, đây chính là cái biết ý thức nhị nguyên (tà tri kiến). Hiểu biết của con người (ngoại trừ các bậc Thánh) chính là tà tri kiến này, bao gồm cả thường kiến và đoạn kiến, không có tiêu chuẩn sự thật đang xảy ra, không y cứ trên sự thật đang xảy ra. Chính cái hý luận vọng tưởng này đang ám ảnh con người. Thí dụ: Con người bị ám ảnh bởi ngày tốt, ngày xấu, ngày tốt giờ tốt quyết định sẽ thành công, công việc hanh thông, ngày xấu, giờ xấu đưa đến thất bại, xui rủi. Tuy nhiên, khi ngày giờ tốt mà bị thất bại, ngày giờ xấu mà vẫn thành công thì họ không để ý, con người bị ám ảnh là như vậy, họ không y cứ vào sự thật, nghĩa là không bao giờ làm thống kê trong một vài tháng về ngày tốt, giờ tốt xem bao nhiêu phần trăm thành công và bao nhiêu phần trăm thất bại để đối chứng với sự tin tưởng của họ.

Con người đang bị ám ảnh bởi ma quỷ, bởi một thế giới tâm linh, bởi một thế giới thuần túy tinh thần, bởi cái biết vô minh vọng tưởng, không đúng sự thật về khổ, về sự chấm dứt khổ nơi thế giới bên ngoài, nơi hoàn cảnh sống và bị ám ảnh bởi cách thức chấm dứt khổ là thay đổi hoàn cảnh sống…

Một câu nữa cần được giải thích: “Này Tỷ Kheo , do bất cứ nhân duyên gì, một số hý luận vọng tưởng ám ảnh một người, nếu ở đây không có gì đáng tùy hỷ, đáng đón mừng, đáng chấp thủ, thời như vậy là sự đoạn tận tham tùy miên, sự đoạn tận sân tùy miên, sự đoạn tận kiến tùy miên, sự đoạn tận nghi tùy miên, sự đoạn tận mạn tùy miên, sự đoạn tận hữu tham tùy miên, sự đoạn tận vô minh tùy miên, sự đoạn tận chấp trượng, chấp kiếm, đấu tranh, tránh tranh, luận tranh, kháng tranh, ly gián ngữ, vọng ngữ. Chính ở đây, những ác, bất thiện pháp này đều được tiêu diệt, không còn dư tàn”.

Nếu ở đây không có gì đáng tùy hỷ, đáng đón mừng, đáng chấp thủ,
câu này được giải thích như sau: Do nhân duyên căn, trần tiếp xúc phát sinh cảm thọ, nếu biết như thật (tuệ tri) về thọ sẽ thấy những gì được thấy biết chính là sáu thọ (các cảm giác về hình ảnh, âm thanh,…pháp trần), tuệ tri sự sinh khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm, sự xuất ly của thọ, sự vô thường, vô ngã của thọ (các thọ sinh và diệt theo định luật duyên khởi, không thể chấp giữ hay loại bỏ được thọ). Với hiểu biết như vậy sẽ không có gì đáng đón mừng, đáng chấp thủ, đáng tùy hỷ. Hiểu biết này là Chánh kiến do Chánh Tư duy phát sinh trên lộ trình Bát Chánh Đạo.

Với lộ trình tâm Bát Chánh Đạo, với cái biết Chánh kiến này “Thời như vậy là sự đoạn tận tham tùy miên, sự đoạn tận sân tùy miên, sự đoạn tận kiến tùy miên, sự đoạn tận nghi tùy miên, sự đoạn tận mạn tùy miên, sự đoạn tận hữu tham tùy miên, sự đoạn tận vô minh tùy miên, sự đoạn tận chấp trượng, chấp kiếm, đấu tranh, tránh tranh, luận tranh, kháng tranh, ly gián ngữ, vọng ngữ. Chính ở đây, những ác, bất thiện pháp này đều được tiêu diệt, không còn dư tàn.”

Tâm của Đức Phật là lộ trình Bát Chánh Đạo, nên “Các tưởng sẽ không còn ám ảnh Thế Tôn, vị đã sống không bị dục triền phược, không có nghi ngờ do dự, mọi hối quá được đoạn diệt, không có tham ái đối với hữu và phi hữu (thế gian và niết bàn)”.

Một câu nữa cần được giải thích: “Pháp mà Đức Thế Tôn thuyết giảng không tranh luận một ai ở đời.” Đó là cái thấy biết như thật, y cứ nơi sự thật, được gọi là chánh kiến hay minh hoặc trí tuệ. Sự thật trần trụi được Thế Tôn thuyết giảng cho đệ tử tự thấy, tự biết nên không có tranh luận với nhau, không tranh luận với một ai ở đời.

Còn cái biết thế gian là cái biết của ý thức nhị nguyên, là vô minh vọng tưởng, không có thật, chỉ là ngôn từ và khái niệm, nên phát sinh sự luận tranh, đấu tranh, chấp trượng, chấp kiếm, phát sinh các ác bất thiện pháp. Có thể lấy vài thí dụ để so sánh hai cái biết này:

- Một nhóm người cùng thấy con chó đi qua trước mặt, mỗi người đều tự thấy, tự biết đó là con chó; tự thấy tự biết con chó ăn gì để sống, không nghi ngờ; do dự; phân vân về điều tự thấy; tự biết đó nên giữa mọi người đương nhiên không có tranh luận, cãi cọ, đấu tranh về cái biết đó. Nhưng cũng nhóm người đó khi bàn về con rồng thì mỗi người trình bày mỗi kiểu: con rồng là như thế này, như thế kia, nó ăn cái này hay cái kia để sống v.v… và như vậy giữa họ có tranh luận; cãi vã; đấu tranh; cạnh tranh và thậm chí là chiến tranh, vì sao? Vì cái biết về con rồng chỉ là ngôn từ, khái niệm chứ không y cứ vào sự thật…

Đức Phật thuyết giảng cũng dùng ngôn từ và khái niệm, nếu không tìm cách thông qua ngôn từ khái niệm để thấy sự thật thì sẽ không thấy được Pháp mà Đức Phật đã khéo léo thuyết giảng. Sự ra đời của các tông phái Phật giáo, sự tranh luận, tranh cãi của các bộ phái Phật giáo đã và đang xảy ra là biểu hiện của việc không thấy biết sự thật mà Đức Phật đã chỉ bày, mà chỉ là sự suy diễn dựa trên ngôn từ và khái niệm. Ví dụ như bài kệ sau trong kinh Pháp Cú (bài 238):

Đốn rừng không đốn cây
Từ rừng sinh sợ hãi
Đốn rừng đốn ái dục
Tỳ kheo được tịch tịnh

Khi đọc hai câu đầu, cái biết ý thức nhị nguyên không y cứ nơi sự thật, không so sánh với sự thật mà chỉ so sánh ý nghĩa hai câu này với những hiểu biết vô minh lưu trong “kho chứa” nên có hai trường hợp:

- Một là không hiểu được câu này vì thông tin trong “kho chứa” rừng tức là cây, đốn rừng có nghĩa là đốn cây, không hiểu nhưng vì "đức tin" nên bỏ qua câu này không thắc mắc.

- Hai là thấy nó trái với hiểu biết bình thường, cho là sai vì lý do nào đó nên thậm chí một số người sửa chữa lại cho phù hợp với hiểu biết vô minh của họ.

Nếu quán sát một khu rừng thật sẽ thấy có rất nhiều cây mọc và giữa những cây này là các lùm, bụi rậm, những dây leo chằng chịt làm bít lối, âm u, mờ tối, không một lối đi v.v… Đứng trước khu rừng như vậy người ta sẽ sợ hãi vì thú dữ, rắn rít, ma quỷ v.v… ẩn náu. Nếu chặt hết dây leo, lùm bụi, khai quang làm sạch mặt đất và vẫn giữ nguyên cây cối thì đây sẽ biến thành công viên không còn nỗi sợ hãi. Ý nghĩa của hai câu đầu của bài kệ là như vậy.

Câu hỏi: Trong kinh có định nghĩa, do nhân con mắt và các sắc pháp, nhãn thức khởi lên, ba pháp này gặp nhau gọi là xúc, do xúc mà có thọ, điều này trái với bài giảng.

Trả lời: Như đã trình bày trước đây, có sự nhầm lẫn có thể là do truyền miệng, do phiên dịch, hoặc hiểu sai lời dạy của Đức Phật. Đức Phật có dạy: “Hãy khoan vội chấp nhận hay bác bỏ bất kỳ lời dạy nào mà phải quán sát với trí tuệ tức là so sánh với sự thật rồi mới chấp nhận hay bác bỏ.”

- Nếu nói do nhân con mắt và các sắc pháp, nhãn thức khởi lên là không đúng sự thật, vì có mắt có sắc pháp mà không tiếp xúc với nhau thì không bao giờ nhãn thức khởi lên được. Ví dụ, các sắc pháp ở sau lưng một người, mắt lại ở phía trước, do không có tiếp xúc nên thức chẳng thể khởi lên, các căn khác cũng vậy.

- Nếu nói do nhân con mắt tiếp xúc với những sắc pháp mà phát sinh nhãn thức, ba pháp này gặp gỡ nhau (căn, trần, thức) gọi là xúc. Ở đây cũng hoàn toàn không phải sự thật, vì con mắt tiếp xúc với sắc pháp là nhân, nhãn thức phát sinh là quả - nhân và quả thuộc hai thời khác nhau, nhân diệt quả mới sinh nên nhân và quả không thể gặp nhau được. Mắt tiếp xúc với sắc pháp rồi phát sinh nhãn thức, nhãn thức gặp lại con mắt và sắc pháp ấy, sự kiện ấy không thể xảy ra vì nhãn thức sinh thì con mắt và sắc pháp ấy đã diệt, và phát sinh con mắt mới và sắc pháp mới.

- Một sự kiện có thật là không phải hễ có căn trần tiếp xúc thì thức khởi lên, vì có rất nhiều trường hợp căn và trần tiếp xúc nhưng thức không khởi lên nên không gọi là xúc. Thí dụ: Khi một người đang nói chuyện với người khác, lỗ mũi là thân căn vẫn tiếp xúc với hơi thở (xúc trần) nhưng thân thức không khởi lên, cũng không có cảm giác hơi thở vô, ra như khi ngồi thiền; trường hợp này không gọi là xúc. Trong một thời điểm, sáu căn vẫn tiếp xúc với sáu trần nhưng chỉ một thức khởi lên chứ không phải sáu thức đồng thời phát sinh, nên chỉ có một trường hợp có thức khởi lên mới gọi là xúc, năm trường hợp còn lại không được gọi là xúc vì không có thức.

Tóm lại: Đây là lời dạy của Đức Phật để định nghĩa xúc nhưng có thể do truyền miệng, phiên dịch hoặc hiểu sai lời dạy này ở thời điểm xa xưa nào đó.

TIỂU KINH ĐOẠN TẬN ÁI
(Cūlatanhāsankhaya Sutta)

Như vầy tôi nghe.

Một thời, Thế Tôn ở tại Savatthi (Xá-vệ), Ðông Viên (Pubbarama), giảng đường Lộc Mẫu (Migaramatu).

Rồi Thiên chủ Sakka đến tại chỗ Thế Tôn ở, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn và đứng một bên. Thiên chủ Sakka đứng một bên, bạch Thế Tôn:

- Bạch Thế Tôn, nói một cách tóm tắt, đến mức độ nào, một Tỷ Kheo ái tận giải thoát, cứu cánh thành tựu, cứu cánh an ổn khỏi các khổ ách, cứu cánh phạm hạnh, cứu cánh viên mãn, bậc tối thắng giữa chư Thiên và loài Người?

- Ở đây, này Thiên chủ, Tỷ Kheo được nghe như sau: "Thật không xứng đáng, nếu có thiên vị đối với tất cả pháp". Này Thiên chủ, nếu Tỷ Kheo được nghe như sau: "Thật không xứng đáng, nếu có thiên vị đối với tất cả pháp", vị ấy biết rõ tất cả pháp. Sau khi biết rõ tất cả pháp, vị ấy biết một cách rốt ráo tất cả pháp. Do biết một cách rốt ráo tất cả pháp, nếu có một cảm thọ nào, lạc thọ, khổ thọ hay bất khổ bất lạc thọ, vị ấy sống quán tánh vô thường, sống quán tánh ly tham, sống quán tánh đoạn diệt, sống quán tánh xả ly trong các cảm thọ ấy. Vị ấy nhờ sống quán tánh vô thường, sống quán tánh ly tham, sống quán tánh đoạn diệt, sống quán tánh xả ly trong các cảm thọ ấy, nên không chấp trước một vật gì ở đời; do không chấp trước nên không phiền não, do không phiền não, vị ấy chứng đạt Niết-bàn. Vị ấy tuệ tri: "Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, những việc cần làm đã làm, không còn trở lại đời này nữa". Này Thiên chủ, một cách tóm tắt, đến mức độ như vậy, một Tỷ Kheo ái tận giải thoát, cứu cánh thành tựu, cứu cánh an ổn khỏi các khổ ách, cứu cánh phạm hạnh, cứu cánh viên mãn, bậc tối thắng giữa chư Thiên và loài Người.

Rồi Thiên chủ Sakka, sau khi hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn thuyết giảng, đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về Ngài rồi biến mất tại chỗ. Lúc bấy giờ, Tôn giả Maha Moggallana (Ðại Mục Kiền Liên) ngồi cách Thế Tôn không xa. Rồi Tôn giả Maha Moggallana suy nghĩ:

"Không hiểu Dạ-xoa (Yakkha) kia, sau khi hoan hỷ lời Thế Tôn dạy, có tín thọ hay không? Ta hãy tìm biết Dạ-xoa kia, sau khi hoan hỷ lời Thế Tôn dạy, có tín thọ hay không?"

Rồi Tôn giả Maha Moggallana, như người lực sĩ duỗi cánh tay đang co lại, hay co lại cánh tay đang duỗi ra, biến mất ở Ðông Viên Lộc Mẫu giảng đường và hiện ra ở giữa chư thiên cõi trời Ba mươi ba.

Lúc bấy giờ Thiên chủ Sakka, với đầy đủ năm trăm nhạc khí chư thiên, đang vui chơi tại vườn Nhất bạch liên. Thiên chủ Sakka thấy Tôn giả Maha Moggallana từ xa đến, bảo năm trăm nhạc khí chư thiên dừng nghỉ, đi đến Tôn giả Maha Moggallana, sau khi đến, thưa với Tôn giả Maha Moggallana: "Hãy đến đây, Thiện hữu Moggallana; thiện lai, Thiện hữu Moggallana! Này Thiện hữu Moggallana, lâu lắm Thiện hữu mới có dịp đến đây. Hãy ngồi, Thiện hữu Moggallana, trên chỗ đã soạn sẵn".

Tôn giả Maha Moggallana, ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Còn Thiên chủ Sakka lấy một ghế thấp khác và ngồi xuống một bên. Rồi Tôn giả Maha Moggallana nói với Thiên chủ Sakka đang ngồi xuống một bên:

- Này Kosiya, về lời thuyết giảng mà Thế Tôn đã nói cho Ông một cách tóm tắt, thật tốt lành cho chúng tôi, nếu được nghe chỉ một phần lời thuyết giảng ấy.

- Thiện hữu Moggallana, chúng tôi bận nhiều công việc, chúng tôi có nhiều việc phải làm, việc làm cho chúng tôi và việc làm cho chư thiên ở cõi trời Ba mươi ba. Lại nữa, này Thiện hữu Moggallana, lời thuyết giảng ấy được khéo nghe, khéo nắm vững, khéo suy tư, khéo thẩm lự nên không thể mau quên được. Này Thiện hữu Moggallana, xưa kia phát khởi chiến tranh giữa chư Thiên và chúng Asura (A-tu-la). Này Thiện hữu Moggallana, trong trận chiến này, chư Thiên thắng, chúng Asura bại. Này thiện hữu Moggallana, sau khi thắng trận chiến ấy và nhân dịp thắng trận, chúng tôi, sau khi trở về, cho xây dựng một lâu đài tên là Vejayanta (Tối Thắng Ðiện). Này Thiện hữu Moggallana, lâu đài Vejayanta có đến một trăm vọng tháp, trong mỗi vọng tháp có bảy ngôi nhà có hình tam giác, trong mỗi nhà tam giác có bảy tiên nữ, và mỗi tiên nữ có đến bảy thị nữ. Này Thiện hữu Moggallana, Thiện hữu có muốn xem những điều khả ái của lâu đài Vejayanta không?

Tôn giả Maha Moggallana im lặng nhận lời. Rồi Thiên chủ Sakka cùng với đại vương Vessavana để Tôn giả Maha Moggallana đi trước và đi đến lâu đài Vejayanta. Các thị nữ của Thiên chủ Sakka thấy Tôn giả Maha Moggallana đi từ xa đến, sau khi thấy, liền hổ thẹn, bẽn lẽn, rồi bước vào phòng của mình. Ví như cô dâu khi thấy cha chồng liền hổ thẹn, bẽn lẽn; cũng như vậy, các thị nữ của Thiên chủ Sakka, khi thấy Tôn giả Maha Moggallana liền hổ thẹn, bẽn lẽn, vào phòng riêng của mình.

Rồi Thiên chủ Sakka và đại vương Vessavana đưa Tôn giả Maha Moggallana đi thăm và xem khắp lâu đài Vejayanta: "Này Thiện hữu Moggallana, xem điều khả ái này của lâu đài Vejayanta; xem điều khả ái này của lâu đài Vejayanta. Cái này chói sáng nhờ các công đức do Tôn giả Kosiya đã làm thời xưa; và loài Người, khi thấy cái gì khả ái liền nói: 'Thật sự, cái này chói sáng từ chư thiên cõi trời Ba mươi ba. Cái này chói sáng nhờ các công đức do Tôn giả Kosiya đã làm thời xưa'".

Rồi Tôn giả Maha Moggallana suy nghĩ: "Dạ-xoa này sống phóng dật một cách quá đáng. Ta hãy làm cho vị này hoảng sợ". Tôn giả Maha Moggallana liền thị hiện thần thông lực, dùng ngón chân cái làm cho lầu Vejayanta rung động, chuyển động, chấn động mạnh.

Thiên chủ Sakka, đại vương Vessavana và chư thiên ở cõi trời Ba mươi ba, tâm cảm thấy kỳ diệu, hy hữu:

"Thật kỳ diệu thay, thật hy hữu thay đại thần thông lực, đại oai lực của Tôn giả Sa-môn! Với ngón chân cái, vị này làm cho thiên cung này rung động, chuyển động, chấn động mạnh!"

Tôn giả Maha Moggallana sau khi biết Thiên chủ Sakka đã hoảng sợ, lông tóc dựng ngược liền nói với Thiên chủ Sakka:

- Này Kosiya, về lời thuyết giảng mà Thế Tôn đã nói cho Ông một cách tóm tắt, thật tốt lành cho chúng tôi, nếu được nghe chỉ một phần lời thuyết giảng ấy.

- Ở đây, này Thiện hữu Moggallana, tôi đến chỗ Thế Tôn ở, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn và đứng một bên. Này Thiện hữu Moggallana, sau khi đứng một bên, tôi bạch với Thế Tôn như sau:

"- Bạch Thế Tôn, một cách tóm tắt, đến mức độ nào, một Tỷ Kheo là ái tận giải thoát, cứu cánh thành tựu, cứu cánh an ổn khỏi các khổ ách, cứu cánh phạm hạnh, cứu cánh viên mãn, bậc tối thắng giữa chư Thiên và loài Người?

Khi nghe nói vậy, này Thiện hữu Moggallana, Thế Tôn nói với tôi như sau:

"- Ở đây, này Thiên chủ, nếu Tỷ Kheo được nghe như sau: "Thật không xứng đáng, nếu có thiên vị đối với tất cả pháp". Vị ấy biết rõ tất cả pháp. Sau khi biết rõ tất cả pháp, vị ấy biết một cách rốt ráo tất cả pháp". Do biết một cách rốt ráo tất cả pháp, nếu có cảm thọ nào, lạc thọ, khổ thọ hay bất khổ bất lạc thọ, vị ấy sống quán tánh vô thường, sống quán tánh ly tham, sống quán tánh đoạn diệt, sống quán tánh xả ly trong các cảm thọ ấy. Vị ấy nhờ sống quán tánh vô thường, sống quán tánh ly tham, sống quán tánh đoạn diệt, sống quán tánh xả ly trong các cảm thọ ấy nên không chấp trước một vật gì ở đời; do không chấp trước nên không phiền não; do không phiền não, vị ấy chứng đạt Niết-bàn. Vị ấy tuệ tri: "Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, những việc cần làm đã làm, không còn trở lại đời này nữa". "Này Thiên chủ, một cách tóm tắt, đến mức độ như vậy, một Tỷ Kheo ái tận giải thoát, cứu cánh thành tựu, cứu cánh an ổn khỏi các khổ ách, cứu cánh phạm hạnh, cứu cánh viên mãn, bậc tối thắng giữa chư Thiên và loài Người".

Như vậy, này Thiện hữu Moggallana, Thế Tôn nói một cách tóm tắt cho tôi về ái tận giải thoát. "

Rồi Tôn giả Maha Moggallana, sau khi hoan hỷ, tín cho lời Thiên chủ Sakka nói, như một nhà lực sĩ duỗi ra cánh tay đang co lại, hay co lại cánh tay đang duỗi ra, biến mất giữa chư thiên ở cõi trời Ba mươi ba, và hiện ra tại Ðông Viên Lộc Mẫu giảng đường.

Sau khi Tôn giả Maha Moggallana đi chẳng bao lâu, các thị nữ của Thiên chủ Sakka nói với Thiên chủ Sakka như sau:

- Thưa Thiên chủ, có phải vị ấy là Thế Tôn, bậc Ðạo sư của Thiên chủ?

- Không, vị ấy không phải là Thế Tôn, bậc Ðạo Sư của ta. Vị ấy là đồng phạm hạnh với ta, Tôn giả Maha Moggallana.

- Thưa Thiên chủ, thật là điều tốt lành cho Thiên chủ, có một vị đồng phạm hạnh có đại thần thông, có đại oai lực như vậy. Chắc chắn vị ấy là Thế Tôn, bậc Ðạo Sư của Thiên chủ.

Rồi Tôn giả Maha Moggallana đến tại chỗ Thế Tôn ở, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn và ngồi xuống một bên.

Sau khi ngồi xuống một bên, Tôn giả Maha Moggallana bạch Thế Tôn:

- Bạch Thế Tôn, Thế Tôn có biết chăng, Thế Tôn vừa mới nói về ái tận giải thoát một cách tóm tắt cho một Dạ-xoa có đại oai lực?

- Này Moggallana, Ta biết. Ở đây, Thiên chủ Sakka đến tại chỗ Ta ở, sau khi đến, đảnh lễ Ta rồi đứng một bên. Sau khi đứng một bên, này Moggallana, Thiên chủ Sakka bạch với Ta:

"- Bạch Thế Tôn, nói một cách tóm tắt, đến mức độ nào, một Tỷ Kheo ái tận giải thoát, cứu cánh thành tựu, cứu cánh an ổn khỏi các khổ ách, cứu cánh phạm hạnh, cứu cánh viên mãn, bậc tối thắng giữa chư Thiên và loài Người?

Khi nghe nói vậy, này Maha Moggallana, Ta nói với Thiên chủ Sakka:

"- Ở đây, này Thiên chủ, Tỷ Kheo được nghe như sau: "Thật không xứng đáng, nếu có thiên vị đối với tất cả pháp". Này Thiên chủ, nếu Tỷ Kheo được nghe như sau: "Thật không xứng đáng nếu có thiên vị đối với tất cả pháp". Vị ấy biết rõ tất cả pháp. Sau khi biết rõ tất cả pháp, vị ấy biết một cách rốt ráo tất cả pháp. Do biết một cách rốt ráo tất cả pháp, nếu có một cảm thọ nào, lạc thọ, khổ thọ, hay bất khổ bất lạc thọ, vị ấy sống quán tánh vô thường, sống quán tánh ly tham, sống quán tánh đoạn diệt, sống quán tánh xả ly trong các cảm thọ ấy. Vị ấy nhờ sống quán tánh vô thường, sống quán tánh ly tham, sống quán tánh đoạn diệt, sống quán tánh xả ly trong các cảm thọ ấy nên không chấp trước một vật gì ở đời. Do không chấp trước nên không phiền não, do không phiền não, vị ấy chứng đạt Niết-bàn. Vị ấy tuệ tri: "Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, những việc cần làm đã làm, không còn trở lại đời này nữa". Này Thiên chủ, một cách tóm tắt, đến mức độ như vậy, một Tỷ Kheo ái tận giải thoát, cứu cánh thành tựu, cứu cánh an ổn, khỏi các khổ ách, cứu cánh phạm hạnh, cứu cánh viên mãn, bậc tối thắng giữa chư Thiên và loài Người".

Như vậy, này Moggallana, Ta biết Ta vừa nói một cách tóm tắt về ái tận giải thoát cho Thiên chủ Sakka."

Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Tôn giả Maha Moggallana hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy.

GIẢI THÍCH:

1. Câu chuyện được mô tả trong kinh có ý nghĩa gì?

Trước khi tìm hiểu ý nghĩa của câu chuyện này, có một chủ đề rất quan trọng cần phải thấu suốt, đó là lời dạy của Đức Thế Tôn một cách tóm tắt về ái tận giải thoát.

Toàn bộ Giáo Pháp của Đức Thế Tôn mà Ngài đã thuyết giảng trong 45 năm chỉ tóm tắt trong năm câu:

A. Nếu Tỷ Kheo được nghe như sau: "Thật không xứng đáng, nếu có thiên vị đối với tất cả pháp".

B. “Vị ấy biết rõ tất cả pháp”.

C. “Sau khi biết rõ tất cả pháp, vị ấy biết một cách rốt ráo tất cả pháp.

D. Do biết một cách rốt ráo tất cả pháp, nếu có một cảm thọ nào, lạc thọ, khổ thọ hay bất khổ bất lạc thọ, vị ấy sống quán tánh vô thường, sống quán tánh ly tham, sống quán tánh đoạn diệt, sống quán tánh xả ly trong các cảm thọ ấy”.

E. “Vị ấy nhờ sống quán tánh vô thường, sống quán tánh ly tham, sống quán tánh đoạn diệt, sống quán tánh xả ly trong các cảm thọ ấy, nên không chấp trước một vật gì ở đời; do không chấp trước nên không phiền não, do không phiền não, vị ấy chứng đạt Niết-bàn”.


Đã là đệ tử của Đức Thế Tôn đều phải thuộc lòng và thấu triệt năm câu này, ý nghĩa như sau:

* Thật không xứng đáng nếu thiên vị tất cả pháp, để chỉ cho lộ trình tâm Bát Tà Đạo của kẻ phàm phu, lộ trình tâm này sẽ phát sinh cái biết ý thức nhị nguyên gọi là tà tri kiến hay vô minh. Do cái biết ý thức nhị nguyên này làm phát sinh thái độ tham, sân, si hay yêu thích pháp này, ghét bỏ pháp kia. Đó là thiên vị đối với tất cả pháp.

* Vị ấy biết rõ tất cả pháp. Sau khi biết rõ tất cả pháp vị ấy biết rốt ráo tất cả pháp. Đây chính là pháp học, vị ấy phải nghe Đức Thế Tôn thuyết giảng để biết được tất cả pháp phát sinh do duyên sáu căn tiếp xúc với sáu trần.

Tất cả pháp bao gồm năm uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành, thức). Sau khi biết tất cả pháp vị ấy biết rốt ráo tất cả pháp, có nghĩa nhờ nghe giảng (văn) và tư duy (tư) đối chiếu với sự thật, vị ấy biết như thật gọi là tuệ tri sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Vị ấy tuệ tri các pháp này do duyên xúc mà khởi lên nên vô thường nghĩa là sự sinh, diệt; trước khi sinh không ở đâu, sau khi diệt cũng không về đâu, không có một nơi chốn để thường trú, thường hằng, là vô ngã nghĩa là độc lập, không phụ thuộc, không bị sở hữu cũng không sở hữu bất cứ pháp nào. Vị ấy tuệ tri lộ trình sinh diệt Bát Tà Đạo, tuệ tri khổ, nguyên nhân của khổ, vị ấy cũng tuệ tri lộ trình Bát Chánh Đạo, tuệ tri khổ diệt (niết bàn) và con đường đưa đến khổ diệt.

* Do biết một cách rốt ráo tất cả pháp, nếu có một cảm thọ nào, lạc thọ, khổ thọ hay bất khổ bất lạc thọ, vị ấy sống quán tánh vô thường, sống quán tánh ly tham, sống quán tánh đoạn diệt, sống quán tánh xả ly trong các cảm thọ ấy.

Quán là cách nói tóm tắt của từ quán sát là lộ trình tâm Bát Chánh Đạo. Vị ấy phải thực hành chánh niệm đối với tất cả cảm thọ cho dù là dễ chịu, khó chịu hay trung tính (lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ) để khởi lên lộ trình Bát Chánh Đạo. Lúc đó chánh tư duy được chánh niệm kích hoạt các thông tin về minh (biết rốt ráo như trên) khiến phát sinh cái biết như thật gọi là chánh kiến.

Trong nội dung của chánh kiến có đầy đủ nội dung của cái biết rốt ráo trên.

a. Sống quán tánh vô thường nghĩa là lộ trình Bát Chánh Đạo khởi lên chánh kiến có nội dung vô thường, nghĩa là biết như thật các cảm thọ này là vô thường, nó sinh rồi diệt, không bền vững, không thường còn, không ai có thể làm nó tồn tại mãi được, không thể chấp giữ cũng không thể loại bỏ nó (vô ngã).

b. Sống quán tánh ly tham: Chánh kiến khởi lên cũng biết như thật là không có yêu thích các lạc thọ (tham), không chán ghét các khổ thọ (sân), không tìm kiếm một lạc thọ khác để thay thế trạng thái bất khổ bất lạc thọ (si).

c. Sống quán tánh đoạn diệt: Chánh kiến khởi lên biết như thật: Không có sầu, bi, khổ, ưu, não khởi lên (sự vắng mặt khổ, khổ diệt)

d. Sống quán tánh xả ly: Chánh kiến khởi lên cũng biết như thật: Không nắm giữ, không loại bỏ các cảm thọ, nó đến rồi đi, không dính mắc, không ràng buộc.

* “Do không chấp trước nên không phiền não, do không phiền não, vị ấy chứng đạt Niết-bàn”.

2. Nội dung chính mô tả ở đây là Ngài Đại Mục Kiền Liên muốn nghe lời dạy về ái tận giải thoát từ miệng Thiên chủ Sakka, nhưng do Sakka từ chối vì đang phóng dật, hưởng thụ các dục lạc cõi Thiên nên Đại Mục Kiền Liên đã dùng thần thông lực làm cho cõi trời 33 chấn động mạnh khiến Thiên chủ Sakka hoảng sợ, lông tóc dựng ngược, lúc đó Sakka mới chịu nói ra lời dạy của Đức Phật về ái tận giải thoát.

Nếu câu chuyện này hiểu theo nghĩa đen thì không có ý nghĩa nào, vì không liên quan đến mục đích (Giáo Pháp của Đức Thế Tôn chỉ nói đến khổ và chấm dứt khổ). Vả lại, một vị A la hán đã giác ngộ, đã giải thoát như Ngài Đại Mục Kiền Liên thì không thể sử dụng lời nói, hành động hay bất kỳ một phương tiện nào làm người khác phải hoảng sợ, lông tóc dựng ngược như đã làm rung chuyển cõi trời 33 của Thiên chủ Sakka. Sự kiện này không thể xảy ra. Do vậy, không nên hiểu sự việc này theo nghĩa đen (có thật) mà phải hiểu theo nghĩa bóng (ẩn dụ), và ý nghĩa của ẩn dụ này như sau:

* Nếu một người đang say mê tận hưởng các dục lạc thì người đó không thể học, hiểu và tu tập Tứ Thánh Đế, chỉ khi nào người đó đối diện với khổ não, sợ hãi, lông tóc dựng ngược, lúc đó mới có mong muốn học, tìm hiểu và tu tập Tứ Thánh Đế.

* Trong bốn Chân Lý mà bậc Thánh đã giác ngộ, người tu học không thấy biết được Khổ Đế, không thấy biết như thật về sự thật thứ nhất này thì không thể giác ngộ được Tứ Thánh Đế, cho dù mục đích của sự tu học là Diệt Đế (Niết Bàn). Nếu không bắt đầu từ Khổ Đế thì cũng như việc xây nhà bốn lầu mà không bắt đầu xây từng thứ nhất, không có nền móng mà xây lên thì điều đó không thể xảy ra.

* Một người, cho dù nghèo khổ, bệnh hoạn, đau khổ cùng cực nhưng không thấy được sự thật về các Dục (niềm vui, hạnh phúc, lạc thú) ở đời là vui ít, khổ nhiều, não nhiều, mà nguy hiểm càng nhiều hơn, thì tâm cũng chỉ hướng theo các dục, tìm cầu các dục nên cũng chỉ quanh quẩn trong khổ mà thôi.

* Một người cho dù giàu có, sang trọng, thành đạt, có đầy đủ mọi lạc thú ở đời, nhưng nếu thấy sự thật về khổ phát sinh do lộ trình tâm Bát Tà Đạo khởi lên thì họ có khả năng thoát khổ. Nếu họ nhận thức được trong 18 trường hợp của sáu lộ trình tâm (sáu căn tiếp xúc với sáu trần) đều phát sinh hoại khổ, khổ khổ, và hành khổ, thì tuy tất cả mọi người đều khác nhau về vẻ bên ngoài nhưng ba loại khổ đều như nhau. Sự thật là những người giàu có, sang trọng, thành đạt thì ba loại khổ trên còn ghê gớm hơn những người nghèo khó có hoàn cảnh khó khăn.

Mười tám trường hợp khổ đều phát sinh khổ tâm, chỉ có một trường hợp phát sinh khổ thân là phần rất nhỏ so với khổ tâm. Các loại khổ thân do hoàn cảnh phát sinh có thể cải thiện do thay đổi hoàn cảnh, nhưng hoại khổ, khổ khổ, hành khổ không thể chấm dứt do thay đổi hoàn cảnh. Do vậy sự giàu có, thành đạt, danh tiếng cũng không thể chấm dứt khổ. Thấy biết như thật về Khổ Đế là nền tảng để có thể đạt được ba sự thật còn lại.

* Nếu một người có nghe giảng (văn), có tư duy (tư) về Tứ Thánh Đế mà không thực hành chánh niệm (tu) thì cũng giống như Thiên Chủ Sakka có nói: “Lời thuyết giảng ấy được khéo nghe, khéo nắm vững, khéo suy tư, khéo thẩm lự nên không thể mau quên được.” Nhưng nó chỉ được lưu giữ trong “kho chứa” nơi ADN mà không trở thành cái biết chánh kiến. Khi không thực hành chánh niệm thì tà niệm khởi lên kích hoat vô minh, ta của ta trong „kho chứa” khiến phát sinh cái biết ý thức nhị nguyên là tà tri kiến và tâm phóng dật chạy theo các dục.

Vì thế, người có trí sẽ tinh tấn thực hành ba giai đoạn: Văn, tư, và tu (nghe giảng, xem giáo Pháp - tư duy về điều đã học, và tu hành Bát Chánh Đạo).

KINH NHẤT DẠ HIỀN GIẢ
(Bhaddekaratta sutta)

Như vầy tôi nghe.

Một thời, Thế Tôn ở Savatthi (Xá-vệ), Jetavana (Kỳ-đà lâm), tại tịnh xá ông Anathapindika (Cấp Cô Ðộc). Ở đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ Kheo: "Này các Tỷ Kheo ". -"Thưa vâng, bạch Thế Tôn". Các vị Tỷ Kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:

- Này các Tỷ Kheo, Ta sẽ thuyết giảng cho các Ông: 'Nhứt Dạ Hiền Giả' (Bhaddekaratta), tổng thuyết và biệt thuyết. Hãy nghe và suy nghiệm kỹ, Ta sẽ thuyết giảng.

- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Các Tỷ Kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn giảng như sau:
 
Quá khứ không truy tìm
Tương lai không ước vọng.
Quá khứ đã đoạn tận,
Tương lai lại chưa đến,
Chỉ có pháp hiện tại
Tuệ quán chính ở đây.
Không động, không rung chuyển
Biết vậy, nên tu tập,
Hôm nay nhiệt tâm làm,
Ai biết chết ngày mai?
Không ai điều đình được,
Với đại quân thần chết,
Trú như vậy nhiệt tâm,
Ðêm ngày không mệt mỏi,
Xứng gọi Nhứt dạ Hiền,
Bậc an tịnh, trầm lặng.

Và này các Tỷ Kheo, thế nào là truy tìm quá khứ?

Vị ấy nghĩ: "Như vậy là sắc của tôi trong quá khứ", và truy tìm sự hân hoan trong ấy; "Như vậy là thọ của tôi trong quá khứ", và truy tìm sự hân hoan trong ấy; "Như vậy là tưởng của tôi trong quá khứ", và truy tìm sự hân hoan trong ấy; "Như vậy là hành của tôi trong quá khứ", và truy tìm sự hân hoan trong ấy, "Như vậy, là thức của tôi trong quá khứ", và truy tìm sự hân hoan trong ấy.

Như vậy, này các Tỷ Kheo, là truy tìm quá khứ.

Và này các Tỷ Kheo, thế nào là không truy tìm quá khứ? Vị ấy nghĩ: "Như vậy là sắc của tôi trong quá khứ", và không truy tìm sự hân hoan trong ấy; "Như vậy là thọ của tôi trong quá khứ", và không truy tìm sự hân hoan trong ấy; "Như vậy là tưởng của tôi... Như vậy là hành của tôi... Như vậy là thức của tôi trong quá khứ"; và không truy tìm sự hân hoan trong ấy. Như vậy, này các Tỷ Kheo, là không truy tìm quá khứ.

Và này các Tỷ Kheo, thế nào ước vọng trong tương lai? Vị ấy nghĩ: "Mong rằng như vậy sẽ là sắc của tôi trong tương lai", và truy tìm sự hân hoan trong ấy; "Mong rằng như vậy sẽ là thọ của tôi trong tương lai", và truy tìm sự hân hoan trong ấy; "Mong rằng như vậy là tưởng của tôi... là hành của tôi... là thức của tôi trong tương lai", và truy tìm sự hân hoan trong ấy. Như vậy, này các Tỷ Kheo, là ước vọng trong tương lai.

Và này các Tỷ Kheo, thế nào là không ước vọng trong tương lai? Vị ấy nghĩ: "Mong rằng như vậy sẽ là sắc của tôi trong tương lai", và không truy tìm sự hân hoan trong ấy; "Mong rằng như vậy sẽ là thọ của tôi trong tương lai", và không truy tìm sự hân hoan trong ấy; "Mong rằng như vậy sẽ là tưởng... sẽ là hành... sẽ là thức của tôi trong tương lai", và không truy tìm sự hân hoan trong ấy. Như vậy, này các Tỷ Kheo , là không ước vọng trong tương lai.

Và này các Tỷ Kheo, như thế nào là bị lôi cuốn trong các pháp hiện tại? Ở đây, này các Tỷ Kheo , có kẻ vô văn phàm phu không đi đến các bậc Thánh, không thuần thục pháp các bậc Thánh, không tu tập pháp các bậc Thánh; không đi đến các bậc Chân nhân, không thuần thục pháp các bậc Chân nhân, không tu tập pháp các bậc Chân nhân; quán sắc là tự ngã, hay quán tự ngã là có sắc, hay quán sắc là trong tự ngã, hay quán tự ngã là trong sắc; hay vị ấy quán thọ là tự ngã, hay quán tự ngã là có thọ, hay quán thọ là trong tự ngã, hay quán tự ngã là trong thọ; hay vị ấy quán tưởng là tự ngã, hay quán tự ngã là có tưởng, hay vị ấy quán tưởng là trong tự ngã, hay quán tự ngã là trong tưởng; hay vị ấy quán hành là tự ngã, hay vị ấy quán tự ngã là có hành, hay vị ấy quán hành là trong tự ngã, hay vị ấy quán tự ngã là trong hành; hay vị ấy quán thức là tự ngã, hay quán tự ngã là có thức, hay quán thức là trong tự ngã, hay quán tự ngã là trong thức. Như vậy, này các Tỷ Kheo, là bị lôi cuốn trong các pháp hiện tại.

Và này các Tỷ Kheo, thế nào là không bị lôi cuốn trong các pháp hiện tại? Ở đây, này các Tỷ Kheo, có vị Ða văn Thánh đệ tử đi đến các bậc Thánh, thuần thục pháp các bậc Thánh, tu tập pháp các bậc Thánh, đi đến các bậc Chân nhân, thuần thục pháp các bậc Chân nhân, tu tập pháp các bậc Chân nhân. Vị này không quán sắc là tự ngã, không quán tự ngã là có sắc, không quán sắc là trong tự ngã, không quán tự ngã trong sắc; không quán thọ... không quán tưởng... không quán hành... không quán thức là tự ngã, không quán tự ngã là có thức, không quán thức trong tự ngã, không quán tự ngã trong thức.

Như vậy, này các Tỷ Kheo, là không bị lôi cuốn trong các pháp hiện tại.

Quá khứ không truy tìm
Tương lai không ước vọng.
Quá khứ đã đoạn tận,
Tương lai lại chưa đến,
Chỉ có pháp hiện tại
Tuệ quán chính ở đây.
Không động, không rung chuyển
Biết vậy, nên tu tập,
Hôm nay nhiệt tâm làm,
Ai biết chết ngày mai?
Không ai điều đình được,
Với đại quân thần chết,
Trú như vậy nhiệt tâm,
Ðêm ngày không mệt mỏi,
Xứng gọi Nhứt dạ Hiền,
Bậc an tịnh, trầm lặng.

Khi ta nói: "Này các Tỷ Kheo, Ta sẽ giảng cho các Ông: 'Nhứt Dạ Hiền Giả', tổng thuyết và biệt thuyết", chính duyên ở đây mà nói vậy.

Thế Tôn thuyết giảng như vậy.Các Tỷ Kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời dạy của Thế Tôn.

GIẢI THÍCH:

Bài Kinh này nhằm trả lời và giải thích: Thế nào là truy tìm quá khứ, hướng tới tương lai, và đắm chìm trong hiện tại.

a. Truy tìm quá khứ, hướng tới tương lai, đắm chìm trong hiện tại là tâm phàm phu, là lộ trình tâm Bát Tà Đạo:

* Truy tìm quá khứ và hướng đến tương lai để chỉ cho hành vi tìm kiếm đối tượng dễ chịu trong quá khứ hoặc tương lai để thay thế cho một đối tượng trung tính, hành vi này gọi là si. Trong đời sống hàng ngày con người luôn hồi tưởng về các sự kiện của quá khứ và vui buồn với nó, đây gọi là truy tìm quá khứ, con người cũng luôn sống với những dự định cho tương lai và vui buồn với những dự định này, đây gọi là hướng tới tương lai.

* Đối với hiện tại, khi có một đối tượng dễ chịu thì tham khởi lên và ràng buộc với đối tượng đó, khi có đối tượng khó chịu thì sân khởi lên và cũng bị ràng buộc, điều này gọi là đắm chìm trong hiện tại.

b. Không truy tìm quá khứ, không tưởng đến tương lai, không đắm chìm trong hiện tại là tâm của bậc Thánh đã thành tựu hoặc đang thực hành Bát Chánh Đạo. Khi ở trong bốn bậc thiền, lộ trình tâm là Bát Chánh Đạo.

- Bất kỳ một tư tưởng nào về quá khứ khởi lên, không vui buồn với nó nên gọi là không truy tìm quá khứ.

- Bất kỳ một dự định về tương lai khởi lên, không vui buồn với nó nên gọi là không tưởng đến tương lai.

- Bất cứ một cảm giác nào đang khởi lên, không yêu thích, không chán ghét, độc lập không ràng buộc, giải thoát không hệ lụy, nên gọi là không đắm chìm trong hiện tại.

Chủ nghĩa hiện sinh chủ trương sống trong hiện tại, sống với những gì đang xảy ra (đang là), chấm dứt suy nghĩ về quá khứ và tương lai, có vẻ đúng như bài kinh này mô tả, nhưng nếu quán sát kỹ thì đó là đắm chìm trong hiện tại (thích thú hiện tại).

Cũng tương tự như bài Kinh Nhất Dạ Hiền Giả, trong Tương Ưng Bộ Kinh (Samyutta Nikāya), chương 1 - Tương Ưng Chư Thiên, phẩm Cây Lau, Đức Phật trả lời câu hỏi:

- Thưa Tôn giả, làm sao Ngài vượt khỏi bộc lưu?

- Này Hiền giả, không đứng lại, không bước tới, Ta vượt khỏi bộc lưu.

- Thưa Tôn giả, làm sao không đứng lại, không bước tới, Ngài vượt khỏi bộc lưu?

- Này Hiền giả, khi Ta đứng lại, thời Ta chìm xuống.

Này Hiền giả, khi Ta bước tới, thời Ta trôi giạt; do vậy, này Hiền giả, không đứng lại, không bước tới, Ta vượt khỏi bộc lưu.


Đứng lại thời chìm xuống tức đắm chìm trong hiện tại, chỉ cho tham và sân.

Bước tới lại bị cuốn trôi tức truy tìm quá khứ, tưởng đến tương lai, chỉ cho tâm si.

Không đứng lại, không bước tới chỉ cho sự đoạn tận tham, sân, si, đây gọi là vượt qua bộc lưu.

KINH NIỆM XỨ
(Satipatthāna sutta)

Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn ở xứ Kuru (Câu-lâu), Kammassadhamma (kiềm-ma sắt đàm) là đô thị của xứ Kuru. Rồi Thế Tôn gọi các Tỷ Kheo:

- Này các Tỷ Kheo.

Các Tỷ Kheo vâng đáp Thế Tôn:

- Bạch Thế Tôn.

Thế Tôn thuyết như sau:

- Này các Tỷ Kheo, đây là con đường độc nhất đưa đến thanh tịnh cho chúng sanh, vượt khỏi sầu não, diệt trừ khổ ưu, thành tựu chánh trí, chứng ngộ Niết-bàn. Ðó là Bốn Niệm xứ.

Thế nào là bốn? Này các Tỷ Kheo, ở đây Tỷ Kheo sống quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời; sống quán thọ trên các thọ, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời; sống quán tâm trên tâm, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời; sống quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời.

Quán thân

Và này các Tỷ Kheo , thế nào là Tỷ Kheo sống quán thân trên thân? Này các Tỷ Kheo, ở đây, Tỷ Kheo đi đến khu rừng, đi đến gốc cây, hay đi đến ngôi nhà trống, và ngồi kiết già, lưng thẳng và an trú chánh niệm trước mặt. Tỉnh giác, vị ấy thở vô; tỉnh giác, vị ấy thở ra.

Thở vô dài, vị ấy tuệ tri: "Tôi thở vô dài"; hay thở ra dài, vị ấy tuệ tri: "Tôi thở ra dài"; hay thở vô ngắn, vị ấy tuệ tri: "Tôi thở vô ngắn"; hay thở ra ngắn, vị ấy tuệ tri: "Tôi thở ra ngắn". "Cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập; "Cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập; "An tịnh toàn thân, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập; "An tịnh toàn thân, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập. Này các Tỷ Kheo, như người thợ quay hay học trò người thợ quay thiện xảo khi quay dài, tuệ tri: "Tôi quay dài" hay khi quay ngắn, tuệ tri: "Tôi quay ngắn". Cũng vậy, này các Tỷ Kheo, Tỷ Kheo thở vô dài, tuệ tri: "Tôi thở vô dài"; hay thở ra dài, tuệ tri: "Tôi thở ra dài"; hay thở vô ngắn, tuệ tri: "Tôi thở vô ngắn"; hay thở ra ngắn, tuệ tri: "Tôi thở ra ngắn".

"Cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập; "Cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập; "An tịnh toàn thân, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập; "An tịnh toàn thân, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập.

Như vậy, vị ấy sống quán thân trên nội thân hay sống quán thân trên ngoại thân; hay sống quán thân trên cả nội thân, ngoại thân; hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên thân; hay sống quán tánh diệt tận trên thân; hay sống quán tánh sanh diệt trên thân. "Có thân đây", vị ấy an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy không nương tựa, không chấp trước vật gì trên đời. Này các Tỷ Kheo, như vậy là Tỷ Kheo sống quán thân trên thân.

Lại nữa, này các Tỷ Kheo, Tỷ Kheo đi, tuệ tri: "Tôi đi", hay đứng, tuệ tri: "Tôi đứng", hay ngồi, tuệ tri: "Tôi ngồi", hay nằm, tuệ tri: "Tôi nằm". Thân thể được sử dụng như thế nào, vị ấy tuệ tri thân như thế ấy.

Vị ấy sống quán thân trên nội thân; hay vị ấy sống quán thân trên ngoại thân; hay vị ấy sống quán thân trên nội thân, ngoại thân; hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên thân; hay vị ấy sống quán tánh diệt tận trên thân; hay vị ấy sống quán tánh sanh diệt trên thân. "Có thân đây", vị ấy an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời. Này các Tỷ Kheo, như vậy là Tỷ Kheo sống quán thân trên thân.

Lại nữa, này các Tỷ Kheo, Tỷ Kheo, khi bước tới bước lui, biết rõ việc mình đang làm; khi ngó tới ngó lui, biết rõ việc mình đang làm; khi co tay, khi duỗi tay, biết rõ việc mình đang làm; khi mang áo Sanghati (Tăng già lê), mang bát, mang y, biết rõ việc mình đang làm; khi ăn, uống, nhai, nếm, biết rõ việc mình đang làm; khi đại tiện, tiểu tiện, biết rõ việc mình đang làm; khi đi, đứng, ngồi, ngủ, thức, nói, im lặng, biết rõ việc mình đang làm.

Như vậy, vị ấy sống quán thân trên nội thân; hay sống quán thân trên ngoại thân; hay sống quán thân trên cả nội thân, ngoại thân. Hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên thân; hay sống quán tánh diệt tận trên thân; hay sống quán tánh sanh diệt trên thân. "Có thân đây", vị ấy an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời. Này các Tỷ Kheo, như vậy là Tỷ Kheo sống quán thân trên thân.

Lại nữa, này các Tỷ Kheo, Tỷ Kheo quán sát thân này, dưới từ bàn chân trở lên, trên cho đến đảnh tóc, bao bọc bởi da và chứa đầy những vật bất tịnh sai biệt. Trong thân này: "Ðây là tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, thận, tủy, tim, gan, hoành cách mô, lá lách, phổi, ruột, màng ruột, bụng, phân, mật, đàm mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, mỡ da, nước miếng, niêm dịch, nước ở khớp xương, nước tiểu". Này các Tỷ Kheo, cũng như một bao đồ, hai đầu trống đựng đầy các loại hột như gạo, lúa, đậu xanh, đậu lớn, mè, gạo đã xay rồi. Một người có mắt, đổ các hột ấy ra và quán sát: "Ðây là hột gạo, đây là hột lúa, đây là đậu xanh, đây là đậu lớn, đây là mè, đây là hột lúa đã xay rồi". Cũng vậy, này các Tỷ Kheo, một Tỷ Kheo quán sát thân này dưới từ bàn chân trở lên trên cho đến đảnh tóc, bao bọc bởi da và chứa đầy những vật bất tịnh sai biệt. Trong thân này: "Ðây là tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, tủy, thận, tim, gan, hoành cách mô, lá lách, phổi, ruột, màng ruột, bụng, phân, mật, đàm, mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, mỡ da, nước miếng, niêm dịch, nước ở khớp xương, nước tiểu".

Như vậy, vị ấy sống quán thân trên nội thân; hay sống quán thân trên ngoại thân, hay sống quán thân trên nội thân, ngoại thân. Hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên thân; hay sống quán tánh diệt tận trên thân; hay sống quán tánh sanh diệt trên thân. "Có thân đây", vị ấy an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời. Này các Tỷ Kheo, như vậy là Tỷ Kheo sống quán thân trên thân.

Lại nữa, này các Tỷ Kheo , Tỷ Kheo quán sát thân này về các vị trí các giới và sự sắp đặt các giới: "Trong thân này có địa đại, thủy đại, hỏa đại và phong đại". Này các Tỷ Kheo , như một người đồ tể thiện xảo, hay đệ tử của một người đổ tể giết một con bò, ngồi cắt chia từng thân phần tại ngã tư đường. Cũng vậy, này các Tỷ Kheo, Tỷ Kheo quán sát thân này về vị trí các giới và về sự sắp đặt các giới: "Trong thân này có địa đại, thủy đại, hỏa đại và phong đại".

Như vậy, vị ấy sống quán thân trên nội thân; hay sống quán thân trên ngoại thân; hay sống quán thân trên nội thân, ngoại thân. Hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên thân; hay sống quán tánh diệt tận trên thân; hay sống quán tánh sanh diệt trên thân. "Có thân đây", vị ấy an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời. Này các Tỷ Kheo, như vậy là Tỷ Kheo sống quán thân trên thân.

Lại nữa, này các Tỷ Kheo, Tỷ Kheo như thấy một thi thể bị quăng bỏ trong nghĩa địa một ngày, hai ngày, ba ngày, thi thể ấy trương phồng lên, xanh đen lại, nát thối ra. Tỷ Kheo quán thân ấy như sau: "Thân này tánh chất là như vậy, bản tánh là như vậy, không vượt khỏi tánh chất ấy".

Như vậy vị ấy sống quán thân trên nội thân; hay sống quán thân trên ngoại thân; hay sống quán thân trên nội thân, ngoại thân. Hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên thân; hay sống quán tánh diệt tận trên thân; hay sống quán tánh sanh diệt trên thân. "Có thân đây", vị ấy an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời. Này các Tỷ Kheo, như vậy là Tỷ Kheo sống quán thân trên thân.

Lại nữa, này các Tỷ Kheo, Tỷ Kheo như thấy một thi thể bị quăng bỏ trong nghĩa địa, bị các loài quạ ăn, hay bị các loài diều hâu ăn, hay bị các chim kên ăn, hay bị các loài chó ăn, hay bị các loài giả can ăn, hay bị các loài côn trùng ăn. Tỷ Kheo quán thân ấy như sau: "Thân này tánh chất là như vậy, bản chất là như vậy, không vượt khỏi tánh chất ấy".

Như vậy vị ấy sống quán thân trên nội thân; hay sống quán thân trên ngoại thân; hay sống quán thân trên nội thân, ngoại thân. Hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên thân; hay sống quán tánh diệt tận trên thân; hay sống quán tánh sanh diệt trên thân. "Có thân đây", vị ấy an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời. Này các Tỷ Kheo, như vậy là Tỷ Kheo sống quán thân trên thân.

Này các Tỷ Kheo, lại nữa, Tỷ Kheo như thấy một thi thể bị quăng bỏ trong nghĩa địa, với các bộ xương còn liên kết với nhau, còn dính thịt và máu, còn được các đường gân cột lại... với các bộ xương còn liên kết với nhau, không còn dính thịt nhưng còn dính máu, còn được các đường gân cột lại... với các bộ xương không còn dính thịt, dính máu, còn được các đường gân cột lại, chỉ còn có xương không dính lại với nhau, rải rác chỗ này chỗ kia. Ở đây là xương tay, ở đây là xương chân, ở đây là xương ống, ở đây là xương bắp vế, ở đây là xương mông, ở đây là xương sống, ở đây là xương đầu.

Tỷ Kheo quán thân ấy như sau: "Thân này tánh chất là như vậy, bản tánh là như vậy, không vượt khỏi tánh chất ấy".

Như vậy, vị ấy sống quán thân trên nội thân; hay sống quán thân trên ngoại thân; hay sống quán thân trên nội thân, ngoại thân. Hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên thân; hay vị ấy sống quán tánh diệt tận trên thân; hay vị ấy sống quán tánh sanh diệt trên thân. "Có thân đây", vị ấy sống an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì ở trên đời. Này các Tỷ Kheo , như vậy là Tỷ Kheo sống quán thân trên thân.

Lại nữa này các Tỷ Kheo , Tỷ Kheo như thấy một thi thể bị quăng bỏ trong nghĩa địa, chỉ còn toàn xương trắng màu vỏ ốc... chỉ còn một đống xương lâu hơn ba năm... chỉ còn là xương thối trở thành bột. Tỷ Kheo quán thân ấy như sau: "Thân này tánh chất là như vậy, bản tánh là như vậy, không vượt khỏi tánh chất ấy".

Như vậy vị ấy sống quán thân trên nội thân; hay sống quán thân trên ngoại thân; hay sống quán thân trên nội thân, ngoại thân. Hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên thân; hay sống quán tánh diệt tận trên thân; hay sống quán tánh sanh diệt trên thân. "Có thân đây", vị ấy sống an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời.Này các Tỷ Kheo, như vậy là Tỷ Kheo sống quán thân trên thân.

Quán thọ

Này các Tỷ Kheo , như thế nào là Tỷ Kheo sống quán thọ trên các thọ? Này các Tỷ Kheo , ở đây Tỷ Kheo khi cảm giác lạc thọ, tuệ tri: "Tôi cảm giác lạc thọ"; khi cảm giác khổ thọ, tuệ tri: "Tôi cảm giác khổ thọ"; khi cảm giác bất khổ bất lạc thọ, tuệ tri: "Tôi cảm giác bất khổ bất lạc thọ". Hay khi cảm giác lạc thọ thuộc vật chất, tuệ tri: "Tôi cảm giác lạc thọ thuộc vật chất"; hay khi cảm giác lạc thọ không thuộc vật chất, tuệ tri: "Tôi cảm giác lạc thọ không thuộc vật chất". Hay khi cảm giác khổ thọ thuộc vật chất, tuệ tri: "Tôi cảm giác khổ thọ thuộc vật chất"; hay khi cảm giác khổ thọ không thuộc vật chất, tuệ tri: "Tôi cảm giác khổ thọ không thuộc vật chất". Hay khi cảm giác bất khổ bất lạc thọ thuộc vật chất, tuệ tri: "Tôi cảm giác bất khổ bất lạc thọ thuộc vật chất"; hay khi cảm giác bất khổ bất lạc thọ không thuộc vật chất, tuệ tri: "Tôi cảm giác bất khổ bất lạc thọ không thuộc vật chất".

Như vậy, vị ấy sống quán thọ trên các nội thọ; hay sống quán thọ trên các ngoại thọ; hay sống quán thọ trên các nội thọ, ngoại thọ. Hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên các thọ, hay sống quán tánh diệt tận trên các thọ; hay sống quán tánh sanh diệt trên các thọ. "Có thọ đây", vị ấy sống an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời. Này các Tỷ Kheo , như vậy Tỷ Kheo sống quán thọ trên các thọ.

Quán tâm

Này các Tỷ Kheo, như thế nào là Tỷ Kheo sống quán tâm trên tâm? Này các Tỷ Kheo, ở đây, Tỷ Kheo, với tâm có tham, tuệ tri: "Tâm có tham"; hay với tâm không tham, tuệ tri: "Tâm không tham". Hay với tâm có sân, tuệ tri: "Tâm có sân"; hay với tâm không sân, tuệ tri: "Tâm không sân". Hay với tâm có si, tuệ tri: "Tâm có si"; hay với tâm không si, tuệ tri: "Tâm không si". Hay với tâm thâu nhiếp, tuệ tri: "Tâm được thâu nhiếp". Hay với tâm tán loạn, tuệ tri: "Tâm bị tán loạn". Hay với tâm quảng đại, tuệ tri: "Tâm được quảng đại"; hay với tâm không quảng đại, tuệ tri: "Tâm không được quảng đại".

Hay với tâm hữu hạn, tuệ tri: "Tâm hữu hạn". Hay với tâm vô thượng, tuệ tri: "Tâm vô thượng". Hay với tâm có định, tuệ tri: "Tâm có định"; hay với tâm không định, tuệ tri: "Tâm không định". Hay với tâm giải thoát, tuệ tri: "Tâm có giải thoát"; hay với tâm không giải thoát, tuệ tri: "Tâm không giải thoát".

Như vậy vị ấy sống quán tâm trên nội tâm; hay sống quán tâm trên ngoại tâm; hay sống quán tâm trên nội tâm, ngoại tâm. Hay sống quán tánh sanh khởi trên tâm; hay sống quán tánh diệt tận trên tâm; hay sống quán tánh sanh diệt trên tâm. "Có tâm đây", vị ấy sống an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời. Này các Tỷ Kheo, như vậy là Tỷ Kheo sống quán tâm trên tâm.

Quán pháp

Này các Tỷ Kheo, thế nào là Tỷ Kheo sống quán pháp trên các pháp?Này các Tỷ Kheo, ở đây, Tỷ Kheo sống quán pháp trên các pháp đối với năm triền cái. Và này các Tỷ Kheo , thế nào là Tỷ Kheo sống quán pháp trên các pháp đối với năm triền cái? Này các Tỷ Kheo, ở đây, Tỷ Kheo nội tâm có ái dục, tuệ tri: "Nội tâm tôi có ái dục"; hay nội tâm không có ái dục, tuệ tri: "Nội tâm tôi không có ái dục". Và với ái dục chưa sanh nay sanh khởi, vị ấy tuệ tri như vậy; và với ái dục đã sanh nay được đoạn diệt, vị ấy tuệ tri như vậy; và với ái dục đã được đoạn diệt, tương lai không sanh khởi nữa, vị ấy tuệ tri như vậy.

Hay nội tâm có sân hận, tuệ tri: "Nội tâm tôi có sân hận"; hay nội tâm không có sân hận, tuệ tri: "Nội tâm tôi không có sân hận". Và với sân hận chưa sanh nay sanh khởi, vị ấy tuệ tri như vậy; và với sân hận đã sanh, nay được đoạn diệt, vị ấy tuệ tri như vậy; và với sân hận đã được đoạn diệt, tương lai không sanh khởi nữa, vị ấy tuệ tri như vậy. Hay nội tâm có hôn trầm thụy miên, tuệ tri: "Nội tâm tôi có hôn trầm thụy miên"; hay nội tâm không có hôn trầm thụy miên, tuệ tri: "Nội tâm tôi không có hôn trầm thụy miên". Và với hôn trầm thụy miên chưa sanh nay sanh khởi, vị ấy tuệ tri như vậy; và với hôn trầm thụy miên đã sanh nay được đoạn diệt, vị ấy tuệ tri như vậy; và với hôn trầm thụy miên đã được đoạn diệt, tương lai không sanh khởi nữa, vị ấy tuệ tri như vậy.

Hay nội tâm có trạo hối, tuệ tri: "Nội tâm tôi có trạo hối"; hay nội tâm không có trạo hối, tuệ tri: "Nội tâm tôi không có trạo hối". Và với trạo hối chưa sanh nay sanh khởi, vị ấy tuệ tri như vậy; và với trạo hối đã sanh nay được đoạn diệt, vị ấy tuệ tri như vậy; và với trạo hối đã được đoạn diệt, tương lai không sanh khởi nữa, vị ấy tuệ tri như vậy. Hay nội tâm có nghi, tuệ tri: "Nội tâm tôi có nghi"; hay nội tâm không có nghi, tuệ tri: "Nội tâm tôi không có nghi". Và với nghi chưa sanh nay sanh khởi, vị ấy tuệ tri như vậy; và với nghi đã sanh nay được đoạn diệt, vị ấy tuệ tri như vậy; và với nghi đã được đoạn diệt, tương lai không sanh khởi nữa, vị ấy tuệ tri như vậy.

Như vậy vị ấy sống quán pháp trên các nội pháp; hay sống quán pháp trên các ngoại pháp; hay sống quán pháp trên các nội pháp, ngoại pháp. Hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên các pháp; hay sống quán tánh diệt tận trên các pháp; hay sống quán tánh sanh diệt trên các pháp. "Có những pháp ở đây", vị ấy sống an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời. Này các Tỷ Kheo , như vậy là Tỷ Kheo sống quán pháp trên các pháp đối với năm triền cái.

Lại nữa, này các Tỷ Kheo, Tỷ Kheo sống quán pháp trên các pháp đối với năm thủ uẩn. Này các Tỷ Kheo, thế nào là Tỷ Kheo sống quán pháp trên các pháp đối với năm thủ uẩn? Này các Tỷ Kheo , Tỷ Kheo suy tư: "Ðây là sắc, đây là sắc tập, đây là sắc diệt. Ðây là thọ, đây là thọ tập, đây là thọ diệt. Ðây là tưởng, đây là tưởng tập; đây là tưởng diệt. Ðây là hành, đây là hành tập, đây là hành diệt. Ðây là thức, đây là thức tập, đây là thức diệt". Như vậy, vị ấy sống quán pháp trên các nội pháp; hay sống quán pháp trên các ngoại pháp; hay sống quán pháp trên các nội pháp, ngoại pháp. Hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên các pháp; hay sống quán tánh diệt tận trên các pháp; hay sống quán tánh sanh diệt trên các pháp. "Có những pháp ở đây", vị ấy sống an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời. Này các Tỷ Kheo , như vậy là Tỷ Kheo sống quán pháp trên các pháp đối với năm thủ uẩn.

Lại nữa, này các Tỷ Kheo, Tỷ Kheo sống quán pháp trên các pháp đối với sáu nội ngoại xứ. Này các Tỷ Kheo , thế nào là Tỷ Kheo sống quán pháp trên các pháp đối với sáu nội ngoại xứ? Này các Tỷ Kheo , ở đây Tỷ Kheo tuệ tri con mắt và tuệ tri các sắc, do duyên hai pháp này, kiết sử sanh khởi, vị ấy tuệ tri như vậy; và với kiết sử chưa sanh nay sanh khởi, vị ấy tuệ tri như vậy; và với kiết sử đã sanh nay được đoạn diệt, vị ấy tuệ tri như vậy; và với kiết sử đã được đoạn diệt, tương lai không sanh khởi nữa, vị ấy tuệ tri như vậy.

Tỷ Kheo tuệ tri tai và tuệ tri các tiếng... tuệ tri mũi và tuệ tri các hương... tuệ tri lưỡi... và tuệ tri các vị... tuệ tri thân và tuệ tri các xúc, tuệ tri ý và tuệ tri các pháp; do duyên hai pháp này, kiết sử sanh khởi, vị ấy tuệ tri như vậy; và với kiết sử chưa sanh nay sanh khởi, vị ấy tuệ tri như vậy; và với kiết sử đã sanh nay được đoạn diệt, vị ấy tuệ tri như vậy; và với kiết sử đã được đoạn diệt, tương lai không sanh khởi nữa, vị ấy tuệ tri như vậy.

Như vậy vị ấy sống quán pháp trên các nội pháp; hay sống quán pháp trên các ngoại pháp; hay sống quán pháp trên các nội pháp, ngoại pháp. Hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên các pháp; hay sống quán tánh diệt tận trên các pháp; hay sống quán tánh sanh diệt trên các pháp. "Có những pháp ở đây", vị ấy sống an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời. Này các Tỷ Kheo, như vậy là Tỷ Kheo sống quán pháp trên các pháp đối với sáu nội ngoại xứ.

Lại nữa, này các Tỷ Kheo, Tỷ Kheo sống quán pháp trên các pháp đối với Bảy Giác chi. Này các Tỷ Kheo , thế nào là Tỷ Kheo sống quán pháp trên các pháp đối với Bảy Giác chi? Này các Tỷ Kheo , ở đây Tỷ Kheo nội tâm có niệm giác chi, tuệ tri: "Nội tâm tôi có niệm giác chi"; hay nội tâm không có niệm giác chi, tuệ tri: "Nội tâm tôi không có ý niệm giác chi". Và với niệm giác chi chưa sanh nay sanh khởi, vị ấy tuệ tri như vậy, và với niệm giác chi đã sanh, nay được tu tập viên thành, vị ấy tuệ tri như vậy.

Hay Tỷ Kheo nội tâm có trạch pháp giác chi... (như trên)... hay nội tâm có tinh tấn giác chi... (như trên)... hay nội tâm có hỷ giác chi... (như trên)... hay nội tâm có khinh an giác chi... (như trên)... hay nội tâm có định giác chi... (như trên)... hay nội tâm có xả giác chi, tuệ tri: "Nội tâm tôi có xả giác chi"; hay nội tâm không có xả giác chi, tuệ tri: "Nội tâm tôi không có xả giác chi". Và với xả giác chi chưa sanh nay sanh khởi, vị ấy tuệ tri như vậy, và với xả giác chi đã sanh nay được tu tập viên thành, vị ấy tuệ tri như vậy.

Như vậy vị ấy sống quán pháp trên các nội pháp; hay sống quán pháp trên các ngoại pháp; hay sống quán pháp trên các nội pháp, ngoại pháp. Hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên các pháp; hay sống quán tánh diệt tận trên các pháp; hay sống quán tánh sanh diệt trên các pháp. "Có những pháp ở đây", vị ấy sống an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời. Này các Tỷ Kheo, như vậy là Tỷ Kheo sống quán pháp trên các pháp đối với Bảy Giác chi.

Lại nữa, này các Tỷ Kheo, vị ấy sống quán pháp trên các pháp đối với Bốn Thánh đế. Này các Tỷ Kheo, thế nào là Tỷ Kheo sống quán pháp trên các pháp đối với Bốn Thánh đế? Này các Tỷ Kheo , ở đây, Tỷ Kheo như thật tuệ tri: "Ðây là Khổ"; như thật tuệ tri: "Ðây là Khổ tập"; như thật tuệ tri: "Ðây là Khổ diệt"; như thật tuệ tri: "Ðây là Con đường đưa đến Khổ diệt".

Như vậy, vị ấy sống quán pháp trên các nội pháp; hay sống quán pháp trên các ngoại pháp; hay sống quán pháp trên các nội pháp, ngoại pháp. Hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên các pháp; hay sống quán tánh diệt tận trên các pháp; hay sống quán tánh sanh diệt trên các pháp. "Có những pháp ở đây", vị ấy sống an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời. Này các Tỷ Kheo, như vậy là Tỷ Kheo sống quán pháp trên các pháp đối với Bốn Thánh đế.

Kết luận

Này các Tỷ Kheo, vị nào tu tập Bốn Niệm xứ này như vậy trong bảy năm, vị ấy có thể chứng một trong hai quả sau đây: Một là chứng Chánh trí ngay trong hiện tại, hay nếu còn hữu dư y, thì chứng quả Bất hoàn.

Này các Tỷ Kheo, không cần gì đến bảy năm, một vị nào tu tập Bốn Niệm xứ này như vậy trong sáu năm, trong năm năm, trong bốn năm, trong ba năm, trong hai năm, trong một năm, vị ấy có thể chứng một trong hai quả sau đây: Một là chứng Chánh trí ngay trong hiện tại, hay nếu còn hữu dư y, thì chứng quả Bất hoàn.

Này các Tỷ Kheo , không cần gì đến một năm, một vị nào tu tập Bốn Niệm xứ này trong bảy tháng, vị ấy có thể chứng một trong hai quả sau đây: Một là chứng Chánh trí ngay trong hiện tại, hay nếu còn hữu dư y, thì chứng quả Bất hoàn. Này các Tỷ Kheo , không cần gì bảy tháng, một vị nào tu tập Bốn Niệm xứ này trong sáu tháng, trong năm tháng, trong bốn tháng, trong ba tháng, trong hai tháng, trong một tháng, trong nửa tháng, vị ấy có thể chứng một trong hai quả sau đây: Một là chứng Chánh trí ngay trong hiện tại, hay nếu còn hữu dư y, thì chứng quả Bất hoàn.

Này các Tỷ Kheo, không cần gì nửa tháng, một vị nào tu tập Bốn Niệm xứ này trong bảy ngày, vị ấy có thể chứng một trong hai quả sau đây: Một là chứng Chánh trí ngay trong hiện tại, hai là nếu còn hữu dư y, thì chứng quả Bất hoàn. Này các Tỷ Kheo, đây là con đường độc nhất đưa đến thanh tịnh cho chúng sanh, vượt khỏi sầu não, diệt trừ khổ ưu, thành tựu Chánh trí, chứng ngộ Niết-bàn. Ðó là Bốn Niệm xứ.

Thế Tôn thuyết giảng như vậy.Các Tỷ Kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời dạy của Thế Tôn.

GIẢI THÍCH:

Trong Trung bộ Kinh có ba bài kinh Đức Phật dạy thực hành về Bát Chánh Đạo: Kinh Niệm Xứ, Kinh Thân Hành Niệm và Kinh Nhập Tức Xuất Tức Niệm. Riêng bài kinh Niệm Xứ có tính chất tổng quát, Đức Phật đã hướng dẫn cả hai phương diện Định và Tuệ

Tứ niệm xứ là bốn hay bốn lãnh vực nhớ nghĩ đến việc thực hành Bát Chánh Đạo, bốn lãnh vực đó là: Thân, Thọ, Tâm, và Pháp.

1. Mục đích của việc thực hành Tứ Niệm Xứ: Đức Phật dạy như sau:

“Này các Tỷ Kheo, ở đây Tỷ Kheo sống quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời; sống quán thọ trên các thọ, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời; sống quán tâm trên tâm, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời; sống quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời.”

Quán ở đây phải hiểu là nói tóm tắt của từ quán sát, là lộ trình Bát Chánh Đạo phát sinh cái biết như thật (tuệ tri), phân biệt với từ quan sát là lộ trình Bát Tà Đạo phát sinh cái biết ý thức nhị nguyên (vô minh).

Việc quán thân, thọ, tâm, pháp ám chỉ sự quán sát trực tiếp những pháp đang xảy ra trong hiện tại chứ không phải quán sát các pháp ấy đã từng xảy ra trong quá khứ hoặc sẽ xảy ra trong tương lai. Ví dụ nếu sau một ngày, tối đến hồi tưởng lại có bao nhiêu lần thích thú (tham) bao nhiêu lần buồn giận (sân) xảy ra trong ngày, làm như vậy không phải là quán tâm nơi tâm trong pháp thiền này. Quán thân, thọ, tâm, pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác chánh niệm cũng ám chỉ lộ trình quán sát này đưa đến cái biết trực tiếp: Tỉnh giác.

Mục đích của sự quán sát là nhiếp phục tham, ưu ở đời. 

Chữ tham ở đây là nói gọn của tham ái bao gồm tham sân si, và ưu bao gồm phiền não, khổ đau. Nhiếp phục tham, ưu ở đây chính là kinh nghiệm được tâm khi trên lộ trình Bát Chánh Đạo, khổ được nhiếp phục, hành giả kinh nghiệm “khổ diệt” của hữu học đạo.

Xin lưu ý mục đích của sự thực hành tứ niệm xứ là trực tiếp chứng ngộ được khổ diệt (diệt đế) và con đường đưa đến khổ diệt (đạo đế), không phải là chứng ngộ vô thường, khổ, vô ngã.

Mục đích này Đức Phật cũng đã nhắc đi nhắc lại nhiều lần: “Hướng đến chánh trí, chánh niệm”. Chánh trí là “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc cần làm đã làm xong, không còn trở lại đời này nữa”, điều này chỉ xảy ra khi đột chuyển trong ADN xóa bỏ toàn bộ thông tin “vô minh, ta và của ta”, cũng là quả vị A la hán, sự diệt tận khổ, không còn tái sinh trong tương lai.

Hướng đến chánh niệm nghĩa là khi đột chuyển xảy ra “vô minh, ta và của ta” bị diệt tận, tà niệm bị đoạn diệt lúc này chỉ cón Minh là nhân cho chánh niệm liên tục khởi lên và lộ trình Bát Chánh Đạo con đường vắng mặt khổ phát sinh liên tục.

2. Sự thực hành thiền định: Là sự chú tâm để chuyển từ lộ trình tâm Bát Tà Đạo sang lộ trình tâm Bát Chánh Đạo phát sinh tỉnh giác và chánh kiến.

Xúc → Thọ (cảm giác) → Tưởng → Chánh Niệm → Chánh Tinh tấn → Chánh Định (chú tâm) → Tỉnh Giác → Chánh Tư duy → Chánh Kiến.

Sự chú tâm là để thay đổi lộ trình tâm nên không thể chú tâm vào một đối tượng duy nhất mà phải chú tâm mọi đối tượng đang xảy ra. Trong bài kinh này Đức Phật đã đề cập đến tất cả các đối tượng bao gồm trong bốn lãnh vực: Thân, Thọ, Tâm, Pháp. Sự chú tâm phải được thực hành cụ thể là tất cả cảm giác do sáu căn tiếp xúc với sáu trần phát sinh theo trình tự thời gian. Tất cả những cảm giác đó đều đang phát sinh đan xen với cảm giác hơi thở vô ra, vì vậy sự chú tâm phải được thực hành trên mọi cảm giác đan xen với hơi thở. Đặc biệt trong Kinh Niệm Hơi Thở Vô, Hơi Thở ra, Đức Phật đã đề cập:

"Cảm giác cả toàn thân, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập.
"Cảm giác cả toàn thân, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập.
"An tịnh thân hành, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập.
"An tịnh thân hành, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập.
"Cảm giác lạc thọ, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập.
"Cảm giác lạc thọ, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập.
"Với tâm hân hoan, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập.
"Với tâm hân hoan, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập.
"Với tâm định tĩnh, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập.
"Với tâm định tĩnh, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập.
"Quán vô thường, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập.
"Quán vô thường, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập.

Vị ấy tập có nghĩa vị ấy tập quán sát, tập chú tâm chứ không phải tập thở. Chữ “sẽ” nối giữa hai phần “cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở vô,” nói lên trình tự của sự thực hành chú tâm. Đầu tiên là cảm giác toàn thân, sau đó mới đến hơi thở vô, do vậy không nên hiểu cảm giác toàn thân là toàn bộ hơi thở.

Với sự thực hành chú tâm tất cả cảm giác đang xảy ra đan xen với cảm giác hơi thở vô, ra hành giả kinh nghiệm, tự thấy, tự biết được:

- Chú tâm có tầm có tứ (chú tâm có hướng đến và giữ tâm trên đối tượng).

- Chú tâm không tầm, không tứ (chú tâm không hướng đến đối tượng).

Sự chú tâm trên tất cả cảm giác đan xen với hơi thở vô ra mới có được chú tâm không tầm, không tứ, còn nếu chỉ chú tâm vào hơi thở thì sự chú tâm phải hướng đến và giữ tâm trên hơi thở (có tầm, có tứ) chứ không thể xảy ra chú tâm không tầm, không tứ, nên không thể nào an trú được trạng thái nhị thiền.

3. Sự phát sinh trí tuệ: Nếu không đọc kỹ bài kinh sẽ có sự nhầm lẫn lời dạy của Đức Phật về „cái biết‟. Nếu hiểu: “Tỷ Kheo thở vô dài, biết: "Tôi thở vô dài"; hay thở ra dài, biết: "Tôi thở ra dài"; Tỷ Kheo đi, biết: "Tôi đi", hay đứng, biết: "Tôi đứng", khi bước tới bước lui, biết việc mình đang làm; khi ngó tới ngó lui, biết việc mình đang làm; khi co tay, khi duỗi tay, biết việc mình đang làm; với tâm có tham, biết: "Tâm có tham"; hay với tâm không tham, biết: "Tâm không tham". Hay với tâm có sân, biết: "Tâm có sân", v.v…Cái biết này sẵn có nơi kẻ phàm phu, là cái biết của ý thức nhị nguyên, là vô minh, chấp thủ. Trong bài kinh này Đức Phật dùng chữ tuệ tri để chỉ cho cái biết của Minh hay trí tuệ do quán mà phát sinh, ví dụ: Thở vô tuệ tri thở vô, thở ra tuệ tri thở ra, co tay tỉnh giác, duỗi tay tỉnh giác, khi tâm có tham tuệ tri tâm có tham, khi tâm có sân tuệ tri tâm có sân .v.v…Cái biết trí tuệ hay tuệ tri bao gồm:

- Tỉnh giác là cái biết trực tiếp được chánh niệm, chánh tinh tấn và chánh định làm cho an trú.

- Chánh kiến là cái biết ý thức như thật do chánh tư duy phát sinh.

* Quán thân trên thân gồm hai phần: Quán sát những cảm giác xảy ra do thân căn tiếp xúc với các xúc trần (bao gồm nội và ngoại xúc trần) như cảm giác hơi thở vô ra, nóng lạnh, đau nhức, các chuyển động của cơ thể theo những tư thế khác nhau v.v…, sự chú tâm liên tục (chánh định) sẽ làm cho lộ trình tâm dừng lại nơi cái biết trực tiếp (thân thức).

Xúc → Thọ (cảm giác) → Tưởng → Chánh Niệm → Chánh Tinh Tấn → Chánh Định → Tỉnh Giác

Hành giả an trú cái biết trực tiếp (tưởng), cụ thể ở đây là thân thức nhờ chánh niệm - chánh tinh tấn - chánh định.

Giờ đây cái biết trực tiếp này có tên gọi là tỉnh giác hay thắng tri hoặc không tánh. Quán sát chín giai đoạn tan rã của một tử thi là lộ trình phát sinh do ý tiếp xúc với pháp trần, những cảm giác pháp trần này (tức là những cảm giác hình ảnh về các bộ phận v.v… được lưu giữ dưới dạng thông tin trong ADN) được "tưởng" ra. Quán sát tức lộ trình Bát Chánh Đạo nên những cảm giác hình ảnh này cũng được biết với cái biết trực tiếp là tưởng thứ sáu và an trú bởi chánh niệm, chánh tinh tấn, chánh định.

Cần phải lưu ý không phải quán các bộ phận cơ thể tan rã theo chín giai đoạn với mục đích là thấy thân thể bất tịnh mà với mục đích nhiếp phục tham ưu, nghĩa là không cho khởi lên sự yêu thích hay chán ghét, ghê tởm đối với cơ thể.

* Quán thọ trên thọ: Có sáu cảm giác hay sáu thọ, quán thọ trên thọ phát sinh cái biết trực tiếp cụ thể là nhãn, nhĩ, tỉ, thiệt, thân thức và tưởng thứ sáu, được chánh niệm, chánh tinh tấn, chánh định an trú và gọi là tỉnh giác, thắng tri hay không tánh. Tuy nhiên nếu cảm giác  xảy ra nơi thân thì trường hợp này gọi là quán thân trên thân.

* Quán tâm nơi tâm: Các danh pháp do ý tiếp xúc với pháp trần làm phát sinh như niệm, tư duy, tham sân si, chú tâm, dục, tinh tấn, tác ý… chỉ được biết với cái biết ý thức, biết về cái đã xảy ra trong lộ trình tâm trước vừa diệt. Vì vậy lộ trình Bát Chánh Đạo (quán tâm nơi tâm) phát sinh cái biết tuệ tri ở đây là cái biết ý thức như thật do chánh tư duy phát sinh gọi là chánh kiến. Khi có chánh niệm tuệ tri có chánh niệm, khi có tà niệm tuệ tri có tà niệm v.v…

* Thí dụ: Khi tâm có tham thì tâm tham trên lộ trình Bát Tà Đạo này diệt, là nhân phát sinh một lộ trình nội xúc tiếp theo. Nếu lộ trình nội xúc này là Bát Tà Đạo thì khi ý thức nhị nguyên khởi lên, biết là có tham và do ý thức nhị nguyên phán xét đây là đối tượng dễ chịu nên tham lại phát sinh tiếp. Nếu nội xúc này có chánh niệm thì lộ trình này sẽ là Bát Chánh Đạo và khi ý thức khởi lên sẽ là chánh kiến và "biết có tham", nhưng cái biết này là tuệ tri, là chánh kiến nên tham không thể phát sinh tiếp, đây gọi là khi có tham tuệ tri tâm có tham.

* Quán pháp nơi pháp: Cũng là tuệ tri các pháp tức cái biết chánh kiến như quán tâm nơi tâm. Trong cái biết chánh kiến được chánh tư duy làm phát sinh có nội dung là minh, được cài đặt trong „kho chứa”, nội dung đó có tuệ tri vô thường, vô ngã, tuệ tri khổ, tập, diệt, đạo.

Đặc biệt hành giả có thể an trú tứ thiền và hướng đến quán sát lộ trình duyên khởi của Bát Tà Đạo để tuệ tri khổ, nguyên nhân của khổ; quán sát lộ trình Bát Chánh Đạo để tuệ tri khổ diệt, con đường đưa đến khổ diệt.

4. Sự thực hành: Tuy có bốn lãnh vực quán sát và Đức Phật giảng giải thành bốn phần riêng biệt, nhưng khi thực hành thì không thể phân ra bốn lãnh vực thực hành riêng biệt mà sự thực hành xảy ra đan xen với nhau không tách rời được. Thí dụ: Khi ăn cơm tuệ tri các cảm giác nhai, nuốt đây là cái biết tỉnh giác (cái biết thuần túy thân thức), các cảm giác này phát sinh trên thân nên gọi là quán thân nơi thân.

- Tuệ tri các cảm giác vị, đây là cái biết tỉnh giác (cái biết thuần túy thiệt thức), đây gọi là quán thọ trên thọ.

- Tuệ tri được tâm không có yêu thích, không chán ghét, không tìm kiếm thứ gì, tức tuệ tri không có tham, sân, si, đây là cái biết ý thức như thực (chánh kiến), đây gọi là quán tâm nơi tâm.

- Tuệ tri đối với thức ăn không yêu thích, không chán ghét, độc lập không ràng buộc, giải thoát không hệ lụy, đây cũng là cái biết ý thức chánh kiến, gọi là quán pháp nơi pháp.

5. Đức Phật đã khẳng định rằng: Ai thực hành sự quán sát liên tục trên các cảm giác đang xảy ra trong bảy ngày thì sự chờ đợi người đó, một là chánh trí trong hiện tại (quả vị A la hán), hai là nếu có dư sót thì đạt quả bất lai. Trong Tăng Chi Bộ Kinh tập 4 (IX) (49)

BỐ THÍ

1. Một thời, Thế Tôn ở Campà, trên bờ hồ Gaggara.

Bấy giờ có nhiều cư sĩ ở Campā đi đến Tôn giả Sàriputta, sau khi đến, đảnh lễ Tôn giả Sàriputta rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, các nam cư sĩ ấy thưa với Tôn giả Sāriputta:

- Thưa Tôn giả, đã lâu lắm, chúng con không được nghe pháp thoại từ miệng Thế Tôn. Lành thay, thưa Tôn giả, nếu nay chúng con được nghe pháp thoại từ miệng Thế Tôn!

- Vậy này chư Hiền, hãy đến trong ngày lễ Trai giới (uposatha), các Thầy sẽ được nghe pháp thoại từ miệng Thế Tôn.

- Thưa vâng, thưa Tôn giả!

Các nam cư sĩ ở Campā ấy vâng đáp Tôn giả Sāriputta, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Tôn giả Sāriputta, thân bên hữu hướng về Tôn giả rồi ra đi. Rồi các nam cư sĩ ở Campā, đến ngày lễ Trai giới, đi đến Tôn giả Sāriputta, sau khi đến, đảnh lễ Tôn giả Sāriputta rồi đứng một bên. Rồi Tôn giả Sāriputta cùng với các nam cư sĩ ở Campā đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Sāriputta bạch Thế Tôn:

2. - Có thể, bạch Thế Tôn, ở đây có hạng người bố thí như vậy, không được quả lớn, không được lợi ích lớn. Nhưng bạch Thế Tôn, có thể ở đây có hạng người bố thí như vậy, được quả lớn, được lợi ích lớn.

- Này Sāriputta, có thể ở đây có hạng người bố thí như vậy, không được quả lớn, không được lợi ích lớn.

Có thể, này Sāriputta, ở đây có hạng người bố thí như vậy, được quả lớn, được lợi ích lớn.

3. - Bạch Thế Tôn, do nhân gì, do duyên gì, ở đây có hạng người bố thí như vậy, không được quả lớn, không được lợi ích lớn? Bạch Thế Tôn, do nhân gì, do duyên gì, ở đây có hạng người bố thí như vậy, được quả lớn, được lợi ích lớn?

- Ở đây, này Sāriputta, có người bố thí với tâm mong cầu, bố thí với tâm trói buộc (về kết quả), bố thí với tâm mong cầu được chất chứa, bố thí với ý nghĩ:

"Tôi sẽ hưởng thọ cái này trong đời sau". Vị ấy bố thí như vậy cho các Sa-môn, Bà-la-môn, bố thí đồ ăn, đồ uống, vải mặc, xe cộ, vòng hoa, hương thơm, hương liệu, giường nằm, những trú xứ, đèn đuốc. Thầy nghĩ thế nào, này Sāriputta, ở đây có thể có hạng người bố thí như vậy không?

- Thưa có, bạch Thế Tôn.

- Ở đây, này Sāriputta, có hạng người bố thí với tâm mong cầu, bố thí với tâm trói buộc, bố thí với tâm mong cầu được chất chứa, bố thí với ý nghĩ: "Ta sẽ hưởng thọ cái này trong đời sau". Vị ấy bố thí như vậy, khi thân hoại mạng chung, được sanh cộng trú với chư Thiên ở Bốn thiên vương. Và vị ấy, khi nghiệp được đoạn tận, thần lực ấy, danh tiếng ấy, uy quyền ấy được đoạn tận, vị ấy trở thành "vị trở lui lại", trở lui trạng thái này.

4. Ở đây, này Sāriputta, có người bố thí không với tâm cầu mong, bố thí không với tâm trói buộc, bố thí không với mong cầu được chất chứa, bố thí không với ý nghĩ: "Ta sẽ hưởng thọ cái này trong đời sau", bố thí không với ý nghĩ: "Lành thay, sự bố thí", bố thí không với ý nghĩ: "Cái này đã được cho trong đời quá khứ, đã được tổ tiên làm trong quá khứ, ta không nên để truyền thống gia đình này bị bỏ quên", bố thí không với ý nghĩ:

"Ta nấu ăn, các người này không nấu ăn. Ta không xứng đáng là người nấu ăn, lại không bố thí cho người không nấu ăn", bố thí không với ý nghĩ: "Như các vị ẩn sĩ thời xưa có những tế đàn lớn như Atthaka, Vāmaka, Vāmadeva, Vessāmitta, Yamataggi, Angīrasa, Bhāradvāja, Vāsettha, Kassapa, Bhagu; cũng vậy, ta sẽ là người san sẻ các vật bố thí này", bố thí không với ý nghĩ: "Do ta bố thí vật bố thí này, tâm được tịnh tín, hỷ duyệt khởi lên". Nhưng vị ấy bố thí với ý nghĩ để trang nghiêm tâm, để trang bị tâm. Và đối với Sa-môn hay Bà-la-môn, vị ấy bố thí đồ ăn, đồ uống, vải mặc, xe cộ, vòng hoa, hương thơm, hương liệu, giường nằm, trú xứ, đèn đuốc. Thầy nghĩ thế nào, này Sàriputta, ở đây, có hạng người có thể bố thí như vậy không?

- Thưa có, bạch Thế Tôn.

- Này Sāriputta, ở đây, ai bố thí không với tâm cầu mong, bố thí không với tâm trói buộc, bố thí không với mong cầu được chất chứa, bố thí không với ý nghĩ: "Ta sẽ hưởng thọ cái này trong đời sau", bố thí không với ý nghĩ: "Lành thay, sự bố thí", bố thí không với ý nghĩ:

"Cái này đã được cho trong đời quá khứ, đã được tổ tiên làm trong quá khứ, ta không nên để truyền thống gia đình này bị bỏ quên", bố thí không với ý nghĩ: "Ta nấu ăn, các người này không nấu ăn. Ta không xứng đáng là người nấu ăn, lại không bố thí cho người không nấu ăn", bố thí không với ý nghĩ: "Như các vị ẩn sĩ thời xưa có những tế đàn lớn như Atthaka, Vāmaka, Vāmadeva, Vessāmitta, Yamataggi, Angīrasa, Bhāradvāja, Vāsettha, Kassapa, Bhagu; cũng vậy, ta sẽ là người san sẻ các vật bố thí này", bố thí không với ý nghĩ: "Do ta bố thí vật bố thí này, tâm được tịnh tín, hỷ duyệt khởi lên". Nhưng vị ấy bố thí với ý nghĩ để trang nghiêm tâm, để trang bị tâm. Do vị ấy bố thí như vậy, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cộng trú với chư Thiên ở Phạm chúng thiên. Và khi vị ấy, nghiệp được đoạn tận, thần lực ấy, danh tiếng ấy, uy quyền ấy được đoạn tận, vị ấy trở thành vị Bất lai, không trở lui trạng thái này.

Này Sàriputta, đây là nhân, đây là duyên, khiến cho ở đây, một hạng người bố thí như vậy, không được quả lớn, không được lợi ích lớn. Này Sāriputta, nhưng đây cũng là nhân, là duyên khiến cho ở đây, có hạng người bố thí như vậy, được quả lớn, được lợi ích lớn.

Trong Tăng Chi Bộ Kinh tập 2 (24) Kālaka

1. Một thời, Thế Tôn trú ở Sāketa, tại khu vườn Kàlaka. Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ Kheo:

- Này các Tỷ Kheo.

- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Các Tỷ Kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế tôn nói như sau:

- Này các Tỷ Kheo, cái gì trong toàn thế giới với Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, cùng với quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người, được thấy ... được ý tư sát, tất cả Ta đều biết. Này các Tỷ Kheo, cái gì trong toàn thế giới này ... được thấy, được ý tư sát, Ta đã được biết rõ như sau: "Tất cả đều được Như Lai biết đến. Như Lai không có dựng đứng lên". Này các Tỷ Kheo, nếu Ta nói rằng: "Ta biết tất cả, cái gì trong toàn thế giới ... được thấy, được ý tư sát".

Như vậy, là có nói láo trong ta. Nếu Ta nói như sau: "Ta cả hai biết và không biết". Như vậy, là có nói láo trong ta. Nếu Ta nói như sau: "Ta không biết và cũng không phải biết". Như vậy là có nói láo trong Ta. Như vậy có lỗi trong Ta.

Như vậy, này các Tỷ Kheo, Như Lai là vị đã thấy những gì cần thấy, nhưng không có tưởng tượng điều đã được thấy, không có tưởng tượng những cái gì không được thấy, không có tưởng tượng những gì cần phải thấy, không có tưởng tượng đối với người thấy. Ðã nghe những gì cần nghe, nhưng không có tưởng tượng điều đã được nghe, không có tưởng tượng những cái gì không được nghe, không có tưởng tượng những gì cần phải nghe, không có tưởng tượng đối với người nghe. Ðã cảm giác những gì cần cảm giác, nhưng không có tưởng tượng điều đã được cảm giác, không có tưởng tượng những cái gì không được cảm giác, không có tưởng tượng những gì cần phải cảm giác, không có tưởng tượng đối với người cảm giác. Ðã thức tri những gì cần thức tri, nhưng không có tưởng tượng điều đã được thức tri, không có tưởng tượng những cái gì không được thức tri, không có tưởng tượng những cái gì cần phải thức tri, không có tưởng tượng đối với người thức tri. Như vậy, này các Tỷ Kheo, Như Lai đối với các pháp được thấy, được nghe, được cảm giác, được thức tri, đều đã biết rõ, nên vị ấy là như vậy. Lại nữa, hơn người như vậy, không có ai khác tối thượng hơn và thù thắng hơn, Ta tuyên bố như vậy.

Cái gì được thấy, nghe
Ðược cảm giác chấp trước
Ðược nghĩ là chân thực
Bởi các hạng người khác
Giữa những người thấy vậy
Ta không phải như vậy
Những điều chúng tuyên bố
Dầu là thật hay láo
Ta không xem tối hậu
Ta trong thời đã qua
Thấy được mũi tên này
Loài Người bị câu móc
Ta biết và Ta thấy
Các đức Phật Như Lai
Không tham đắm như vậy.

PHỤ LỤC

Câu hỏi: Thế nào là Túc mạng thông?

Trả lời: Đây là khả năng có thể nhớ lại những tiền kiếp.

Các thông tin lưu giữ trong ADN của mỗi người không phải chỉ là thông tin được lưu giữ trong kiếp này, mà là các thông tin được tích tập trong vô số kiếp đã sống. Dĩ nhiên các thông tin này có một số bị diệt đi và cũng có những phần được tích tập thêm trong các kiếp sống.

Trong ADN có hai lượng thông tin, lượng thông tin di truyền như khoa học đã khám phá và lượng thông tin về tâm.Khả năng nhớ lại các tiền kiếp chỉ xảy ra với các thông tin về tâm mà thôi. Với một người mọi thông tin về đời sống của người đó được lưu giữ đầy đủ trong ADN, nhưng khả năng nhớ lại các sự kiện trong đời này thôi cũng rất hạn chế. Thí dụ một người đã sáu mươi tuổi muốn nhớ lại quãng đời lúc mười tuổi thì hầu như rất khó, nhưng nếu gặp lại một người bạn cực kỳ thân thiết sau năm mươi năm xa cách thì lập tức quãng đời lúc mười tuổi được tái hiện rất dễ dàng. Điều này thể hiện các thông tin về những quãng đời đang được lưu giữ „chắc chắn‟ trong ADN. Cũng vậy, những thông tin về các đời trước cũng được lưu giữ trong ADN nhưng người bình thường không có khả năng nhớ lại những sự kiện đó.

Muốn có khả năng nhớ lại những sự kiện trong các tiền kiếp, phải tu tập chú tâm (định) với mức độ cao, sự chú tâm hướng đến việc nhớ lại tiền kiếp, trong kinh điển Phật giáo gọi là “Chánh Ức Niệm”. Nếu sự tu tập đã thành công thì kinh nghiệm này được lưu lại trong ADN như một lập trình hay "một phần mềm điều khiển". Nếu niệm (nhớ nghĩ) hướng đến việc nhớ lại tiền kiếp sẽ kích hoạt các lập trình đó và các sự kiện sẽ được tái hiện (tưởng ra).

Một người đã tu tập thành công túc mạng thông thì lập trình này được lưu trong ADN và sẽ truyền đến những kiếp kế tiếp, nhưng nếu không có tu tập để kích hoạt thì nó sẽ được “nén” lại và người đó không có khả năng túc mạng thông.

Trong kinh mô tả lúc Đức Phật thành đạo vào canh một ban đêm; sau khi an trú tứ thiền, với tâm ở tứ thiền được mô tả; Thanh tịnh không cấu nhiễm, bình thản, vững chắc, nhu nhuyễn dễ sử dụng như vậy, Ngài hướng tâm đến Túc mạng minh (túc mạng thông) và nhớ lại được một kiếp, hai kiếp, mười kiếp, hàng trăm ngàn kiếp v.v… Sự kiện này nói rằng không phải với một thời gian ngắn (một canh giờ) Ngài đã tu tập thành công Túc mạng trí, mà với định tứ thiền Ngài hướng tâm đến và kích hoạt lập trình Túc mạng thông đã tu tập trong những kiếp trước được lưu giữ trong “kho chứa”.

Câu hỏi: Thế nào là Tha tâm thông?

Trả lời: Tha tâm thông là khả năng biết được tâm người khác, cụ thể là biết người khác đang nghĩ gì, thấy gì, biết gì, đang muốn nói gì, đang muốn làm gì. Cũng có thể biết được quá khứ của người đó như thế nào, những mối quan hệ và hoàn cảnh của họ.

Cái biết này là biết (đọc được) những thông tin trong “kho chứa” của người đó. Điều này xảy ra tương tự như trong mạng máy tính hiện nay. Mỗi máy tính có “kho chứa”, những thông tin được lưu giữ trong ổ cứng hay thẻ nhớ, và từ một máy tính các "tin tặc" có thể thâm nhập thẻ nhớ của những máy tính khác để ăn cắp thông tin.

Cũng y như vậy, những thông tin về tâm được lưu giữ trong ADN được kích hoạt, có cách thức “nối mạng” riêng, và người có tha tâm thông thâm nhập được “kho chứa” và đọc được những thông tin lưu trong “kho chứa” đó.

Tu tập tha tâm thông cũng là một việc làm gian khổ và lâu dài, khi đã thành công thì khả năng này được lưu giữ trong ADN như một lập trình hay phần mềm trong máy vi tính và được truyền từ đời này sang đời khác. Tuy khả năng này vẫn được lưu giữ nhưng nếu không có tu tập để kích hoạt thì nó bị "nén" lại và người đó không có khả năng tha tâm thông.

Trong đêm thành đạo khi Đức Phật đạt được Sanh tử Trí, Ngài biết rõ “chúng sinh người hạ liệt, kẻ cao sang, người đẹp đẽ, kẻ thô xấu, người giàu sang, kẻ nghèo khổ v.v… tất cả đều do hạnh nghiệp của họ. Người với thân làm ác; lời nói ác; ý nghĩ ác; phỉ báng các bậc Thánh, khi thân hoại mạng chung phải sanh vào đọa xứ; địa ngục; những cõi dữ v.v…, người với thân làm thiện; lời nói thiện; ý nghĩ thiện; không phỉ báng các bậc Thánh, khi thân hoại mạng chung được sanh thiện thú, thiên giới, và cõi đời này”. Sanh tử trí này là cái biết tha tâm thông, Ngài đọc những thông tin trong “kho chứa” của các chúng sanh.

- Tha tâm thông còn có một khả năng khác là có thể điều khiển hành động và lời nói của người bị thâm nhập. Thí dụ như trong mạng máy tính hiện nay, tin tặc không những có khả năng đọc; lấy cắp thông tin từ ổ cứng hay thẻ nhớ của máy tính khác, mà một số tin tặc còn có thể điều khiển được hoạt động của máy tính đó. Cũng giống vậy, một số người có khả năng tha tâm thông, không những đọc được các thông tin trong “kho chứa” người khác mà còn có thể tác ý kích hoạt những lập trình trong “kho chứa” làm phát sinh lời nói và hành động của người bị thâm nhập. Dĩ nhiên không phải người có tha tâm thông có thể tác ý “điều khiển” được bất cứ người nào, sự “điều khiển” chỉ xảy ra khi có một sự “tương hợp” rất cao giữa thông tin trong “kho chứa” người “điều khiển” và thông tin trong “kho chứa” người bị “điều khiển”.

Nguyên lý “tương hợp” này có thể hiểu được nhờ thí dụ sau: Máy điện thoại với số sim A gọi cho máy điện thoại có số sim B trong cùng mạng viễn thông C. Số của sim A và B là các thông tin đã được mã hóa trong mạng viễn thông C, khi được kích hoạt sẽ xảy ra sự “tương hợp” và cuộc gọi chỉ đến máy B trong mạng viễn thông C, chứ không thể đến một máy khác cùng mạng hay khác mạng.

Sự tương hợp được hiểu như một định luật vật lý, hóa học, sinh học trong lãnh vực vật chất.

- Hiện tượng nhập đồng: Trong cuộc sống hiện tại có một số người khi "đồng" nhập có thể nói lên khá chính xác một số sự việc nào đó đã và đang xảy ra. Trong thế giới này có những loại “phi nhân” (không phải người) như chư Thiên hay Ngạ quỷ chẳng hạn, những phi nhân này không phải là dạng linh hồn hay thuần túy tâm thức mà gồm hai phần Danh và Sắc. Danh là các thông tin trong “kho chứa” và Sắc là phần vật chất lưu giữ những thông tin này. Phần vật chất này không phải tồn tại dưới dạng thô như đất, nước, gió, lửa mà tồn tại dưới dạng lượng tử (có hai tính sóng và hạt), hoặc một dạng nào vi tế hơn nữa mà khoa học chưa đủ phương tiện khảo sát.

Phi nhân này có Danh và Sắc như vậy và Danh Sắc này có khả năng tha tâm thông nghĩa là có khả năng đọc được những thông tin trong “kho chứa” của con người.

Ngoài ra có một số trường hợp đặc biệt, có sự “tương hợp” rất cao giữa phi nhân và người bị thâm nhập, phi nhân này có thể điều khiển người này nói hoặc hành động theo tác ý của phi nhân. Khi một người bị “đồng nhập” có nghĩa không phải phi nhân nhập vào mà phi nhân này có khả năng tha tâm thông thâm nhập “kho chứa” thông tin lưu trong ADN, đọc các thông tin và tác ý khởi động những lập trình trong “kho chứa” khiến thân thể người đó cử động hoặc phát ra âm thanh theo ý của phi nhân.

Khi có người đến gọi hồn cho ông bà, cha mẹ hay những người thân đã mất thì “đồng” có thể nói chính xác về những người đã chết. Thực ra không phải những linh hồn của người đã chết trở về nhập vào "con đồng" để nói lên những điều đó mà các thông tin này nằm ngay nơi “kho chứa” của những thân chủ đi gọi hồn. Phi nhân đọc được những thông tin này và tác ý cho con đồng nói ra.

Có thể kiểm tra điều này bằng cách cho một người đi gọi hồn người chết mà người này không hề quen biết, không biết bất kỳ thông tin nào về người chết (trong “kho chứa” của người đi gọi hồn), thì phi nhân cũng phải bó tay. Cách khác là giơ tay bốc “ngẫu nhiên” một nắm hạt đậu và hỏi phi nhân trong nắm tay này có bao nhiêu hạt đậu, phi nhân cũng phải bó tay vì trong tâm người này cũng không biết có bao nhiêu hạt đậu. Các phi nhân này có năng lực tha tâm thông và năng lực “điều khiển” được người khác cũng hoàn toàn khác nhau tùy thuộc vào mức độ “tương hợp” giữa phi nhân và người bị thâm nhập.

Không phải ai cũng bị thâm nhập, số bị xâm nhập rất ít, số bị điều khiển lại càng ít hơn. Những người có tâm tư sầu muộn, trầm cảm, bị khiếm khuyết về tinh thần, bị rượu bia, hương khói kích động v.v… có những sự kiện hay quan hệ đặc biệt tốt hay xấu với phi nhân đó trong kiếp quá khứ mới dễ dàng bị thâm nhập và điều khiển.

Những trường hợp gọi là bị “ma ám” hay “người âm nhập” cũng tương tự như trên.

Câu hỏi: Thức tái sinh là gì? Nó tồn tại như thế nào?

Trả lời: Khi một người hấp hối và chết mà trước đó không có tu tập Tứ Thánh Đế, thì tâm Si (hữu ái) phát sinh: Mong muốn sống, khát khao được sống, bám víu lấy cuộc sống; sợ hãi cái chết. Do tâm si này và sự chết của tế bào não sẽ xảy ra sự đột biến, sự đột biến này sẽ phát sinh một loại vật chất đặc biệt, không tồn tại dưới dạng thô như đất, nước, gió, lửa, mà tồn tại dưới dạng lượng tử (mang hai tính sóng và hạt), hoặc vi tế hơn nữa.

Loại vật chất đặc biệt này là một Sắc pháp có khả năng mang tải (lưu trữ) được lượng thông tin về tâm trong ADN của người chết phát sinh trong thời điểm chết gọi là "thức tái sinh".

Thức tái sinh không phải là một linh hồn hay tâm thức thuần túy, nó bao gồm hai phần; phần vật chất là sắc pháp và phần tinh thần gọi là danh pháp. Nếu nói nôm na, không hoàn toàn chính xác thì đây là một thân hóa sinh (một trong bốn sinh: Trứng, thai, thấp, hóa), Hóa Sanh này có một khoảng thời gian tồn tại trước khi vào thai sanh hoặc trứng sanh.

Phần sắc pháp của Hóa Sanh này khác hoàn toàn sắc pháp của con người. Nó không có năm giác quan nên không thể thấy biết trực tiếp các cảm giác hình ảnh, âm thanh, mùi, vị, xúc chạm được, nhưng sắc pháp của những Hóa Sanh có được tính chất "tương tự" như tế bào thần kinh não bộ nên nó có thể biết theo lộ trình tâm thứ sáu (ý tiếp xúc với pháp trần) tương tự con người. Tuy không thể thấy biết trực tiếp những cảm giác hình ảnh, âm thanh v.v…, nhưng với sắc pháp đặc biệt các Hóa Sanh có khả năng tha tâm thông, nghĩa là có thể đọc được những thông tin trong “kho chứa” của con người, nên khi nó xâm nhập “kho chứa” của một người thì người đó thấy gì (sắc, thanh, hương, v.v…) thì Hóa Sanh cũng thấy y như vậy, chỉ có khác là con người thấy “cảnh thực” còn Hóa Sanh lại thấy “ảnh ảo”. Có thể hình dung những gì mà Hóa Sanh này thấy giống như thấy các cảnh đang diễn ra trên một màn ảnh 3D cực lớn không giới hạn, không phải là cảnh thật mà là cảnh ảo.

Một người đã kể lại rằng: “Cô ta có một cô bạn bị bệnh phải phẫu thuật, sau phẫu thuật lúc tỉnh dậy cô kể lại trong thời gian gây mê cô thấy rõ ràng các bác sĩ đang mổ xác của cô.” Trường hợp đối với cô gái này là khi bị gây mê cô rất sợ hãi, nhất là sợ chết, thuốc gây mê dùng cho cô có thể hơi quá liều nên khi bị mê đi một cách đột ngột ADN có đột biến và phát sinh thức tái sinh, đây cũng là một dạng Hóa Sanh. Hóa Sanh này thấy các bác sĩ đang phẫu thuật xác của cô không phải là cái thấy trực tiếp của nhãn thức mà thấy qua tha tâm thông, có nghĩa thấy qua tâm của bác sĩ đang mổ. Sau đó thì Hóa Sanh này lại nhập vào xác cô khi gần tỉnh lại do sự “tương hợp” của thông tin trong “kho chứa”.

Sự tồn tại của thức tái sinh tức Hóa Sanh này như thế nào? Mỗi người trong đời sống của họ, mọi thân nghiệp (hành động), khẩu nghiệp (lời nói), và ý nghiệp (hành vi của ý) được lưu giữ dưới dạng các thông tin trong ADN.

Các thông tin trong “kho chứa” này chính là thân nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp đã được tạo tác. Thái độ, phản ứng và kết quả mà người đó lãnh thọ tùy thuộc thông tin này. Cũng giống vậy sự tồn tại của Hóa Sanh này tùy thuộc hoàn toàn vào thân, khẩu, ý nghiệp đã tạo tác được lưu giữ trong ADN (tức những thông tin pháp trần) của người đó.

a.- Một người thân làm ác, miệng nói ác, ý nghĩ ác, như một đồ tể chẳng hạn, khi hấp hối đến giai đoạn năm giác quan ngưng hoạt động, người này không còn biết gì về thế giới bên ngoài mà chỉ còn lộ trình tâm thứ sáu do ý tiếp xúc với pháp trần mà phát sinh. Lúc này mọi hình ảnh khủng khiếp, những nghiệp ác được lưu giữ sẽ phát sinh. Điều này tương tự như một giấc mơ kinh hoàng, khủng khiếp đầy kinh sợ cũng do ý tiếp xúc với pháp trần mà phát sinh. (Khi mơ năm giác quan cũng ngưng hoạt động, chỉ có ý tiếp xúc với pháp trần, nhưng thần kinh não bộ không tỉnh táo mà chỉ trong trạng thái lơ mơ). Khi người này chết phát sinh một Hóa Sanh thì Hóa Sanh này lại tiếp tục cái thấy đó, một thế giới khủng khiếp, dữ dội, đầy kinh sợ, chất chồng sợ hãi và đau khổ, do nghiệp ác và tà kiến lưu giữ trong “kho chứa” tạo thành. Trạng thái này liên tục kéo dài không ngưng nghỉ và hành hạ họ cho đến khi các ác nghiệt cạn kiệt, lúc các ác nghiệp cạn kiệt họ mới có thể vào thai sinh hoặc trứng sinh theo định luật “tương hợp” của nghiệp.

b.- Hạng người ít tham dục, ít mê đắm cuộc sống vật chất, xu hướng chính của họ là cuộc sống tinh thần thanh cao hoặc những người ưa thích thiền định, xu hướng chính trong đời là thiền định, khi giai đoạn cuối lúc hấp hối chỉ còn ý tiếp xúc với pháp, họ an trú trong những cảnh giới tốt đẹp, không sợ hãi đối với những gì được thấy mà còn có hỷ lạc. khi Hóa Sanh phát sinh “họ” an trú trong trạng thái này, an hưởng hỷ lạc cho đến khi nghiệp lực cùng tận, lúc đó họ mới tiếp tục vào thai hay trứng sanh theo định luật của nghiệp.

Những người đã trú được sơ thiền, nhị, tam, hoặc tứ thiền trong pháp tu Bát Chánh Đạo và pháp học Tứ Thánh Đế của họ vững chắc, nhưng họ vẫn còn ái luyến đối với hỷ lạc của các bậc thiền ấy, thì khi chết Hóa Sanh của họ an trú trong hỷ lạc ấy cho đến khi nghiệp lực ấy tận. Khi nghiệp lức ấy tận, họ không còn vào trứng sanh hoặc thai sanh mà trở thành bất lai và nhập niết bàn tại đấy.

c.- Đa phần con người với tâm khát khao mong mỏi tìm cầu hạnh phúc, lạc thú ở đời, ràng buộc, chấp giữ hạnh phúc lạc thú vật chất và tinh thần nên khi chết Hóa Sanh của họ tiếp tục chịu sự chi phối của các thông tin (nghiệp lực) này trong “kho chứa”. Cái thấy của các Hóa Sanh này đan xen giữa những cảnh ảo trong chính “kho chứa” của họ, với những cảnh ảo trong „kho chứa” của những người mà tha tâm thông của Hóa Sanh thâm nhập.

Những gì được thấy đều không minh bạch mà lộn xộn, khó hiểu, xuất hiện một cách vô lối như một giấc mơ.

Hóa Sanh như bị lạc vào một mê cung xen lẫn với những cảnh quen và la, không có một nơi chốn cố định. Họ cố sức tìm đường trở về nhà nhưng vô vọng. Hoang mang, tuyệt vọng, đau khổ tột độ, thậm chí họ cũng không biết là mình đã chết. Đôi lúc họ thâm nhập được “kho chứa” một số người đã chết mà họ quen biết. Có những lúc họ thâm nhập được “kho chứa” của những người thân, họ lại trở về nhà của họ. Họ thấy bà con thân quyến đang than khóc trên thân xác của mình. Họ cố gắng an ủi người thân đang đau khổ nhưng không ai trả lời họ. Họ chứng kiến được tất cả mọi chuyện đang xảy ra.Tương tự như trong một giấc mơ cả năm giác quan đều ngưng hoạt động, chỉ còn thần kinh não bộ hoạt động lơ mơ, nhưng con người vẫn khát khao, vẫn thèm muốn những gì được thấy trong mơ. Các Hóa Sanh này vẫn khát khao, thèm muốn hưởng hạnh phúc, lạc thú của họ. Họ vẫn cồn cào khi thấy các món ăn, vẫn thèm khát đối với tình dục, vẫn thích thú những thứ họ đã sử dụng trong đời v.v… Nhưng đối với họ thật là tuyệt vọng, thật là đau khổ. Họ không thể làm được những điều họ muốn vì tất cả chỉ là cảnh ảo. Hãy hình dung ra những nỗi khổ đau tuyệt vọng của một Hóa Sanh nếu sinh thời người này đam mê, đắm say, tận hưởng hạnh phúc, lạc thú ở nhà cửa, xe cộ, tiện nghi sang trọng, thức ăn thượng hạng, người tình lý tưởng, quyền lực vô song v.v… bỗng nhiên tất cả đều mất sạch, đều sang tay người khác sử dụng và họ đang phá nát những thứ đó của mình. Một mặt khả năng tha tâm thông làm cho Hóa Sanh thấy được thế giới này qua cảnh ảo, nhưng nó cũng làm cho Hóa Sanh hết sức đau khổ. Hóa Sanh phát hiện ra rất nhiều sự thật đau lòng mà khi còn sống y không biết.

Nhờ tha tâm thông mà y biết được một người bạn chí cốt đã bao nhiêu năm phản bội, hãm hại mình; người vợ mà mình tin tưởng đã bao lần ngoại tình; một người mình đã hãm hại chỉ vì lúc đó mình hiểu nhầm người đó v.v… Y cũng sẽ điên tiết lên khi thấy người vợ mà y đã đam mê và cũng đã đam mê y trong bấy nhiêu năm, bây giờ đang đam mê và giao cấu với người đàn ông khác.

Khát khao hạnh phúc lạc thú cùng với đau khổ tuyệt vọng, hóa sinh này bị trôi dạt từ cảnh ảo này đến ảo cảnh khác. Một số ít Hóa Sanh có sự “tương hợp” cao đối với một số người họ thâm nhập, nên họ điều khiển được những người này: Nói lên hay hành động theo ý muốn của họ. Các Hóa Sanh này vì đau khổ tuyệt vọng muốn tận hưởng các lạc thú để chấm dứt những đau khổ này nên họ chỉ muốn sử dụng thân xác người khác để tận hưởng những khát khao của họ. Cái chung nhất cho các trường hợp này là khi được hỏi họ đều nói lên những nỗi thống khổ mà họ đang trải qua, ví dụ như đói khát, lạnh, không biết đi về đâu v.v… Họ muốn người ta cúng giỗ cho họ, bởi những gì họ thấy không phải là của họ, họ không chạm tới nó được, vậy nếu người ta cúng nhân danh họ thì họ có thể sở hữu được.Đây là tà kiến của họ, tà kiến này nằm sẵn nơi „kho chứa” từ khi họ còn sống.

Tuy một số ít Hóa Sanh có thể xâm nhập và điều khiển một người với mục đích thỏa mãn khao khát của họ, để họ có thể thoát khỏi nỗi thống khổ, nhưng kết quả không như họ mong muốn. Vì vậy, họ vẫn xuất, nhập nhiều lần bởi không thể tìm được một nơi trú ẩn an toàn, nơi thể xác một con người mà họ thâm nhập.

Thời gian Hóa Sanh này tồn tại là bao nhiêu? Không có một thời gian nào là cố định. Có thể là vài ba ngày, vài ba tháng, vài năm, vài ba trăm năm, vài ngàn năm v.v…

Hóa Sanh sẽ tồn tại như vậy cho đến lúc nào nghiệp lực cạn kiệt. Lúc đó họ mới có thể vào thai sanh hoặc trứng sanh, mới kết thúc được cảnh khổ này. Thí dụ đối với một người bệnh tật nằm liệt giường lâu ngày họ không còn ham muốn hạnh phúc lạc thú ở đời, họ không muốn sống thêm nữa thì khi chết Hóa Sanh của họ sẽ tồn tại trong một thời gian ngắn. Ngược lại một người chết khi còn trẻ, nhiều ham muốn nhất là luyến ái vợ hoặc chồng thì thời gian tồn tại của Hóa Sanh sẽ kéo dài. Một người đang theo đuổi một vụ kiện với sự hận thù, hoặc một người bị người khác hãm hại giết chết, vì tai nạn đột ngột, chết vì chến tranh v.v…, những Hóa Sanh này sẽ tồn tại rất lâu.

Câu hỏi: Các nhà ngoại cảm thấy được các linh hồn, họ có thể tìm được mộ của những người đã chết qua các linh hồn. Điều này đúng sai như thế nào?

Trả lời: Những người có khả năng ngoại cảm không phải họ thấy các linh hồn bằng nhãn thức, nhĩ thức, tỉ thức, thiệt thức, thân thức, tưởng thứ sáu hay ý thức, mà họ thấy như vậy với khả năng tha tâm thông, đọc được thông tin trong „kho chứa” người khác. Có một số người đã tu tập thành công tha tâm thông ở một kiếp sống nào đó và được lưu giữ trong ADN nhưng nó bị “nén” xuống. Cũng do sự vận hành (của nghiệp) đến một lúc nào đó trong cuộc đời những thông tin về tha tâm thông được kích hoạt và họ có được khả năng ngoại cảm đó.

Cũng có một số người sau cái chết lâm sàng, khi sống lại ADN có sự đột biến nên kích hoạt các thông tin tha tâm thông này lên và họ cũng có được khả năng ngoại cảm.

Không phải các nhà ngoại cảm thấy linh hồn mà với tha tâm thông họ thâm nhập được “kho chứa” của một số Hóa Sanh và đọc được các thông tin trong “kho chứa” này. Họ biết được tên họ, tuổi tác, đặc điểm hình dáng, tính cách, xác chết ở đâu v.v… qua những thông tin lưu giữ trong “kho chứa”. Một vài trường hợp họ còn “trò chuyện” được với Hóa Sanh thông qua “kho chứa”. Các nhà ngoại cảm không biết được sự thật của hiện tượng này mà họ giải thích theo hiểu biết tà kiến của họ về các linh hồn, về một thế giới tâm linh với các năng lực tâm linh. Thực chất đây là các Hóa Sanh đang chịu nhiều thống khổ với Danh và Sắc kết hợp chứ không hề có một thế giới linh hồn, một thế giới tâm linh thuần túy tinh thần nào.

Câu hỏi: Những người đã chết trở thành những Hóa Sanh như vậy có thể giúp ích, bảo vệ, phù hộ cho những thân quyến của họ không?

Trả lời: Bản thân các Hóa Sanh đang trải qua các khổ cảnh như vậy, đang vùng vẫy trong khổ cảnh và muốn thoát ra mà không thể nào thoát ra khỏi. Các Hóa Sanh này không thể bảo vệ, phù hộ cho thân quyến của họ thoát khỏi được tai nạn. Cho dù họ có thấy được mối nguy hiểm đang đe dọa người thân của họ nhưng với sắc pháp của họ, họ không thể nào “chạm” vào được thế giới vật chất “thô” này. Điều này tương tự như một người đang thấy qua màn ảnh 3D cực lớn (vô hạn), các hình ảnh đó rất sống động, rất thực nhưng không chạm tay vào mà lấy được.

Câu hỏi: Vậy có thể gúp đỡ những Hóa Sanh này thoát ra khỏi cảnh khổ đó không?

Trả lời: Không thể được; bởi đây là định luật nhân quả không ai thay đổi được, không ai điều khiển được (vô ngã). Những thân nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp do người đó tạo tác trong đời được lưu giữ trong ADN khi còn sống, giờ đây được lưu giữ trong sắc pháp của Hóa Sanh chính là nguyên nhân phát sinh khổ cảnh của Hóa Sanh. Không có một năng lực tâm linh nào, một sự cầu nguyện nào, một sự cúng tế nào có thể xóa bỏ được những thông tin ấy trong “kho chứa”. Nghiệp lực ấy, thông tin ấy được cạn kiệt dần, được xóa bỏ dần theo thời gian phát sinh khổ cảnh của Hóa Sanh. Cũng tương tự như cuộc sống hiện tại, một nhận thức sai lầm được một người lưu vào “kho chứa” và không ai với bất kỳ năng lực nào có thể xóa được nhận thức sai lầm trong “kho chứa” của người đó mà chỉ có bản thân người đó sau khi tự thấy tự biết đó là một nhận thức sai lầm, thì thông tin ấy mới bị (tự người đó) xóa đi.

Ý nghĩa này có thể hiểu được tương tự câu chuyện sau:

Phim kể về hai đứa trẻ, một đứa gái độ chừng bảy, tám tuổi và một trai chừng năm, sáu tuổi đang tranh nhau một quả cà chua còn lại, và không đứa nào chịu nhường đứa nào. Người mẹ, một người đàn bà góa phải thuyết phục con chị nhường lại cho em. Con chị không chịu nhưng rồi cũng phải nhường lại cho em khi nghe mẹ nó hứa ngày mai sẽ mua cà chua cho nó, với sự ấm ức “bao giờ mẹ cũng thương em hơn mình”. Nhưng ngày mai chưa đến mà động đất đã xảy ra, và hai đứa trẻ bị chôn vùi trong đống đổ nát, cùng nằm dưới một tấm bê tông chờ đợi nhân viên cứu hộ. Nhân viên cứu hộ đến và họ nói với bà mẹ rằng trong hai đứa bé này, chỉ có thể cứu được một đứa vì khi nhấc tấm bê tông lên ở đầu này thì sẽ giết chết đứa bé ở đầu kia. Bà phải lựa chọn một trong hai đứa. Bà mẹ không chịu, bà muốn cứu cả hai con của bà. Nhân viên cứu hộ không thể cứu được cả hai đứa, họ thúc dục bà quyết định cứu đứa con gái hay trai. Nhưng bà không thể quyết định được.Các nhân viên cứu hộ nói họ sẽ phải đi vì rất nhiều người phải cứu giúp khẩn cấp.

Bà van nài họ, năn nỉ họ v.v… nhưng rồi bà cũng phải quyết định: Cứu lấy đứa con trai. Nằm dưới tấm bê tông con chị nghe hết câu chuyện đó. Nó sợ hãi, nó tức giận, nó đau đớn: “Bao giờ mẹ cũng thương em ghét mình”. Rồi đội cứu hộ cũng cứu được đứa bé trai an toàn và xác con chị được đưa đi đặt chung với nhiều xác chết.

Nhưng con chị không chết, mấy giờ sau nó tỉnh dậy kinh hãi với những xác chết quanh mình, nhưng nó may mắn được một ông bác sĩ quân y phát hiện và đưa nó về nhà làm con nuôi. Nó lớn lên trong căn nhà với ông bố nuôi bị bệnh thấp khớp, với cuộc sống rất nhiều vất vả. Nó càng thù hận người mẹ đã bỏ rơi và giết chết nó. Lớn lên nó vào đại học Y và yêu một thanh niên cùng lớp. Khi biết mình đã có thai, anh thanh niên khuyên cô phải phá thai mới có thể tiếp tục học, nhưng cô không chịu. Cô quyết không thể giống như người mẹ độc ác của mình đã giết chết đứa con. Với bụng mang dạ chửa cô đã bỏ học và trải qua muôn vàn cay đắng để nuôi dạy đứa con của mình. Rồi một người đàn ông, một người Úc đã yêu và lấy cô làm vợ và đưa cô về Úc. Cuộc sống vật chất rồi cũng tạm ổn, nhưng suốt trong ba mươi năm của cuộc đời, sự căm tức, sự thù hận đối với người mẹ không thể nào nguôi ngoai, và cũng chừng ấy năm, sự cay đắng, sự đau khổ của cô cũng không hề thuyên giảm.

Rồi một trận động đất nữa xảy ra và cô xin chồng cho trở về quê nhà làm một nhân viên cứu hộ. Cô lại chứng kiến một sự đau khổ vô cùng tận của một người mẹ khác. Con bà bị kẹt trong một đống đổ nát và các nhân viên cứu hộ quyết định phải cưa bỏ một chân của đứa bé mới cứu được nó. Bà mẹ than khóc vật vã không chịu để cho đội cứu hộ cưa chân con mình. Thời gian còn lại rất ít và đội cứu hộ đã cứu được đứa bé sau khi cưa bỏ một chân với sự đau đớn ngất xỉu của người mẹ. Trong những người chứng kiến cảnh này có một thanh niên và anh ta đã kể lại câu chuyện hai chị em mình cũng từng bị mắc kẹt dưới một tấm bê tông và người chị đã phải chết để cho mình còn sống trong trận động đất ba mươi năm trước. Anh ta chính là người em trai của cô đã kể lại rằng bây giờ anh ta đã thành đạt, đã giàu có và đã xây cho người mẹ đau khổ của mình một căn nhà rất sang trọng và mời bà đến ở, nhưng bà đã từ chối. Bà vẫn ở lại ngôi nhà tồi tàn dựng lên sau trận động đất ấy. Bà nói rằng sẽ sống ở đó cho đến ngày cuối cùng để gặp người chồng đã quá cố và đứa con gái nhỏ của bà. Đã ba mươi năm trôi qua, mỗi một ngày bà đều đặt lên bàn thờ đứa con gái nhỏ đã chết một quả cà chua chín.

Câu chuyện này nói lên điều gì? Sự hiểu biết sai lầm của một đứa trẻ về mẹ mình đã đưa đến sự tức tối, giận dữ, thù hận người mẹ của mình là một ý nghiệp được tạo tác và lưu giữ trong “kho chứa” của cô gái. Những thông tin trong “kho chứa” này chính là nguyên nhân phát sinh sự đau khổ, cay đắng của cuộc đời cô trong suốt ba chục năm ròng. Những thông tin ấy, những nghiệp lực ấy không một ai, không có một năng lực nào có thể xóa nó đi trong “kho chứa”. Khi và chỉ khi cô ấy tự thấy, tự biết cái sự thật ấy thì các nhận thức sai lầm, hiểu lầm ấy mới được xóa đi.

Câu hỏi: Vậy làm thế nào để vượt qua khổ cảnh của các Hóa Sanh này?

Trả lời: Lúc còn trẻ, mỗi người đều nỗ lực cố gắng để tích trữ tiền của, nuôi dạy con cái v.v… để khi về già có thể thoát được cái khổ của nghèo đói, bệnh tật, cô đơn không nơi nương tựa, nhưng không ai có thể thấy có thể biết sự thật về khổ cảnh của Hóa Sanh sau khi chết. Nỗi khổ này thực sự kinh hoàng, ghê gớm hơn tất cả mọi nỗi khổ trên đời mà con người biết đến. Nguyên nhân của những nỗi thống khổ này chính là các thông tin pháp trần trong “kho chứa” mà nền tảng là nhận thức sai lầm (vô minh), mục đích của cuộc sống là tận hưởng niềm vui, hạnh phúc lạc thú (Dục), rồi từ đó mà phát sinh sự say đắm, mê đắm, ràng buộc vào niềm vui hạnh phúc lạc thú. Đây là nguyên nhân của khổ mà Đức Phật đã diễn tả là: “Khát ái tìm cầu hỷ lạc chỗ này chỗ kia như Dục ái, Hữu ái, Phi Hữu ái”. Các thông tin này, các nhận thức sai lầm này, vô minh này chỉ có thể được xóa đi nếu quán sát lời dạy của Đức Phật: “Các Dục (niềm vui, hạnh phúc lạc thú) vui ít, khổ nhiều, não nhiều mà nguy hiểm lại càng nhiều hơn”. Ngài đã dùng rất nhiều phương tiện để nói điều này và cũng là một đề mục quan trong nhất xuyên suốt kinh điển: Dục như khúc xương không, Dục như miếng thịt, Dục như cây sai trái, Dục như hố than hừng, Dục như đầu rắn hổ mang, Dục như mũi tên nhọn v.v… Phải quán sát sự thật này nơi cuộc sống hàng ngày của mình và người khác để rồi kinh nghiệm được, tự thấy tự biết được các Dục vui ít, khổ nhiều, não nhiều mà nguy hiểm càng nhiều hơn. Thấy biết như thật này phải được thực hành ngay bây giờ với lộ trình Văn (nghe giảng) (tư duy) và Tu (thực hành thiền định) mới có thể xóa được tà kiến ấy trong “kho chứa”. Cũng có lý luận cho rằng: Khi tổ chức cầu nguyện và thuyết giảng cho các hương linh (Hóa Sanh) thì họ nhờ tha tâm thông mà có thể biết được điều này và xóa được các tà kiến ấy. Sự kiện này không thể xảy ra, bởi vì với một người khỏe mạnh, có chánh tín, có tư duy sắc sảo, có Văn tuệ và Tư tuệ về các “Dục vui ít, khổ nhiều v.v…” nhưng không có thực hành, không có Tu tuệ thì cũng không thể xóa được tà kiến ấy chứ nói gì đến một Hóa Sanh chỉ nghe “khơi khơi” như vậy.

Cũng như trong kinh đã mô tả: một cái cây được chặt xuống, tất cả các gốc rễ được đào lên, chẻ nhỏ ra, phơi khô, đốt cháy thành tro, rồi rải tro đó trước gió hoặc nhận chìm trong dòng nước. Cái cây ấy có thể tái sinh trong tương lai được nữa hay không? Ngay từ bây giờ, khi đang sống đời này, tất cả mọi sanh y, mọi hữu ái phải được chặt xuống, đào lên tất cả gốc rễ, chẻ nhỏ ra, phơi khô đốt thành tro rồi rải tro bay theo gió hoặc dìm xuống dòng nước thì các khổ cảnh kia sẽ được tiêu diệt không có dư tàn.

Đốn rừng không đón cây
Từ rừng sanh sợ hãi
Đốn rừng đốn ái dục
Tỳ Kheo được tịch tịnh

                     Kinh Pháp Cú

Giảng sư

Kết nối

Tổng số truy cập
Thông tin: 22.801
Pháp Âm: 28.322
Đang truy cập
Hôm qua: 13300
Tổng truy cập: 5.327.038
Số người đang online: 643
hosting gia re , web gia re tron goi , thiet ke web tron goi tai ho chi minh, binh duong, vung tau, ha noi, ca nuoc , thiet ke web tron goi gia re