chuabuuchau.com.vn,chuabuuchau, chua buu chau, chùa bửu châu, chua buu chau cu chi

Chương 4. Cái biết trực tiếp

1. SÁU CĂN VÀ SÁU TRẦN (LỤC NHẬP)

Lục nhập → Xúc → Thọ → Ái → Thủ → Hữu → Sinh → Già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Đây là phần quan trọng nhất cần phải quán sát một cách vi tế. Sự quán sát xảy ra trong hiện tại nơi mỗi chúng sanh gồm hai phần Danh và Sắc:

Do có Danh Sắc mà có Lục nhập, nghĩa là có một con người thì người đó có sáu căn là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, và ý. Căn ở đây theo tiếng Hán có nghĩa gốc rễ, căn bản, quan trọng.

a. Sáu căn

* Mắt: Mắt tuy có nhiều bộ phận khác nhau cấu thành nhưng phần căn bản nhất, quan trọng nhất, phần vật chất đặc biệt là các tế bào thần kinh thị giác.

* Tai: Tuy có nhiều bộ phận khác nhau cấu thành nhưng phần vật chất quan trọng nhất gọi là căn là các tế bào thần kinh thính giác.

* Mũi: Gồm nhiều bộ phận cấu thành nhưng phần vật chất quan trọng nhất gọi là căn là các tế bào thần kinh khứu giác.

* Lưỡi: Gồm nhiều bộ phận cấu thành nhưng phần vật chất quan trọng nhất gọi là căn là các tế bào thần kinh vị giác.

* Thân: Gồm nhiều bộ phận cấu thành nhưng phần vật chất quan trọng nhất gọi là căn là các tế bào thần kinh xúc giác.

* Ý căn: Là tế bào thần kinh ở não bộ.

Sáu căn là sáu loại tế bào thần kinh cùng với các loại tế bào thần kinh làm nhiệm vụ truyền dẫn thông tin, tạo thành một hệ thống gọi là hệ thần kinh. Các tế bào thần kinh của sáu căn chỉ thực hiện chức năng khi thức, còn khi ngủ thì không hoạt động khác với các loại tế bào khác thực hiện chức năng không ngừng nghỉ.

b. Sáu trần

Tương ứng với sáu căn có sáu trần cảnh là: Sắc, Thanh, Hương, Vị, Xúc, và Pháp.

* Sắc trần là đối tượng của mắt,

* Thanh trần là đối tượng của tai,

* Hương trần là đối tượng của mũi,

* Vị trần là đối tượng của lưỡi,

* Xúc trần là đối tượng của thân, xúc trần có hai loại; ngoại xúc trần như nóng, lạnh, mềm, cứng v.v..nội xúc trần thuộc về bên trong cơ thể.

* Pháp trần là đối tượng của ý căn.

Pháp trần là gì? Đó là những thông tin được lưu giữ trong “Kho chứa”, tương tự như các thông tin lưu giữ trong ổ cứng máy vi tính. Nếu thông tin về thân hành, khẩu hành, ý hành của một người không được lưu trong “Kho chứa” thì không có dữ liệu để trí nhớ khởi lên, nhớ được việc này việc kia, không thể sử dụng được những tri thức, những kinh nghiệm đã học hỏi, đã tích lũy.

Những thông tin được lưu giữ trong “Kho chứa” đó là gì?

Đó là những hiểu biết không như thật về duyên khởi (thường kiến, đoạn kiến), không như thật về Tứ Thánh Đế, gọi là Vô Minh. Các nhận thức “Cái này là của ta, là ta” như thân này là ta, là của ta, tâm này là ta là của ta, nhà của ta, xe của ta, trái đất của ta v.v… những tri thức được học hỏi, tích lũy bắt đầu từ lúc ra đời như các kinh nghiệm học tập, những thói quen được hình thành, những kinh nghiệm được tích lũy v.v… Tóm lại, bất kỳ một thân hành, khẩu hành, ý hành nào của con người đều được lưu giữ trong “Kho chứa” này dưới dạng thông tin đã được mã hóa. Lượng thông tin này là đối tượng của ý căn gọi là pháp trần bao gồm: Vô Minh, Ta và của Ta, tri thức, kinh nghiệm, thói quen v.v… Khi người đó chết thì chính lượng thông tin này “Đi tái sinh”.

2. CÁI BIẾT TRỰC TIẾP

Sáu căn hoạt động bình thường và có sáu trần sẽ xảy ra sự tiếp xúc (nói theo ngôn ngữ thông thường là sáu giác quan tiếp xúc với sáu sự vật).

Mắt với Sắc trần gọi là Nhãn xúc, Tai và thanh trần là Nhĩ xúc… Ý với pháp trần là Ý xúc. Trước tiên hãy quán sát lưỡi với Vị trần gọi là Thiệt xúc.

Hễ có lưỡi (hoạt động bình thường) và có thức ăn (vị trần) tiếp xúc được với nhau,thì do duyên xúc này mà phát sinh cảm giác vị và đồng thời cũng phát sinh một cái biết về cảm giác vị đó (cái biết này gọi là Thiệt thức).

Nếu chú tâm nơi sự thật là khi thức ăn tiếp xúc với lưỡi thì sẽ phát sinh cảm giác vị và cái biết cảm giác vị đó.

Theo lộ trình duyên khởi đã quán sát trước đây thì lưỡi là một nhân, thức ăn là một nhân tiếp xúc với nhau tức hai sắc pháp tiếp xúc với nhau rồi cùng diệt mà phát sinh ra nhiều quả: cảm giác vị và thiệt thức. Lộ trình được diễn tả như sau:


Cảm giác vị và thiệt thức là hai quả đồng thời, không trước không sau vì như vậy thiệt thức mới biết được cảm giác vị.

* Cảm giác vị là pháp do duyên xúc khởi lên, nó là vô thường; có nghĩa sinh diệt, trước khi sinh nó không ở đâu (không ở trong lưỡi, không ở trong thức ăn) và sau khi diệt cũng chẳng về đâu. Cảm giác vị này cũng vô ngã, nó độc lập, không phụ thuộc, không có pháp nào là chủ nhân của nó cả. Cảm giác vị này không phải của lưỡi cũng không phải của thức ăn. Tính chất của cảm giác vị (ngon hay dở) phản ảnh cả hai nhân lưỡi và thức ăn. Thí dụ khi thân thể khỏe mạnh, lưỡi tiếp xúc với miếng thịt gà phát sinh cảm giác ngon, khi đau ốm cũng miếng thịt gà đó lưỡi tiếp xúc lại phát sinh cảm giác không ngon v.v…Với sự thật này có thể thấy như thật vị ngon và dở không nằm trong thức ăn, vị ngọt không nằm trong đường, vị mặn không nằm trong muối v.v…

* Thiệt thức là pháp duyên khởi, nó vô thường, sinh và diệt, trước khi sinh nó không ở trong thức ăn, không ở nơi lưỡi, nó sinh ra do duyên lưỡi tiếp xúc với thức ăn.

Nó vô ngã nghĩa là nó độc lập, không phụ thuộc và không có pháp nào là chủ nhân của nó, nó không phải là của lưỡi cũng không phải là của thức ăn.

Thiệt thức là cái biết trực tiếp cảm giác vị, do căn và trần tiếp xúc mà phát sinh, không bị chi phối bởi tri thức kinh nghiệm. Trong nội dung của cái biết trực tiếp này không có khái niệm mặn, ngọt, chua, cay, ngon hay dở v.v… có thể hình dung cái biết này nơi một đứa bé mới sinh ra, lưỡi của nó tiếp xúc với thức ăn và thiệt thức của nó biết các loại cảm giác vị đó nhưng không phân biệt mặn, ngọt, chua, cay… không phân biệt vị đó là của cái gì, đó là cái biết thuần túy về cảm giác vị. Cái biết thiệt thức là cái biết như thật về cảm giác vị tức là cảm giác vị như thế nào thì biết như thế đó, không bị chi phối bởi tri thức, kinh nghiệm. Cho dù cái biết ý thức mô tả cảm giác vị của một loại trái cây nào đó một cách chi tiết nhưng điều đó cũng chỉ là cái biết của tri thức khái niệm, chỉ khi nào lưỡi tiếp xúc với loại trái cây đó, cái biết thiệt thức khởi lên thì đó mới là cái biết như thật về cảm giác vị.

* Khi tuệ tri (thấy như thật) xúc, tuệ tri cảm giác vị, tuệ tri thiệt thức thì cái được biết không phải là vị trần, không phải là của thức ăn mà là cảm giác vị do duyên lưỡi tiếp xúc với thức ăn phát sinh ra.

* Khi không tuệ tri duyên khởi, không tuệ tri xúc, không tuệ tri cảm giác vị, không tuệ tri thiệt thức sẽ rơi vào cái thấy thường kiến một nhân sinh quả. Nội dung của cái biết vô minh này là cái biết của lưỡi nếm vị của thức ăn, biết tính chất ngon dở của thức ăn. Cái được biết ở đây không phải là cảm giác vị mà chính là vị trần, là thức ăn.

Thường kiến và chấp ngã ở đây là thiệt thức ở nơi lưỡi, nương nơi lưỡi và là của lưỡi, cảm giác vị ở nơi thức ăn là của thức ăn. Không tuệ tri duyên khởi, xúc, cảm giác vị, thiệt thức cũng đưa đến cái biết đoạn kiến, tức cảm giác vị không phải do duyên xúc khởi lên mà do “Tâm” phát sinh ra. 

Tương tự với thiệt xúc sẽ có:


Đối với ý xúc là một “Nội xúc” tức tế bào thần kinh não bộ tiếp xúc với các thông tin lưu trong “kho chứa”, mà phát sinh cảm giác pháp trần và phát sinh cái biết trực tiếp các cảm giác pháp trần đó. Cái biết này đặt tên là tưởng thứ sáu. Tưởng thứ sáu này nói một cách nôm na là “Tưởng” ra những hình ảnh, âm thanh, mùi, vị v.v… từ trong “Kho chứa” tương tự như một đầu đọc các thông tin, hình ảnh lưu giữ từ đĩa ra màn hình.

3. PHÂN BIỆT CÁC CẢM GIÁC ĐƯỢC BIẾT VỚI NHỮNG TRẦN CẢNH

Cảm giác hình ảnh, cảm giác âm thanh, cảm giác mùi, cảm giác vị, cảm giác xúc chạm, cảm giác pháp trần (thuật ngữ Phật học gọi là thọ). Các cảm giác này là danh pháp, các căn và những trần cảnh là sắc pháp. Những gì được thấy, được biết ở đây là các cảm giác (hay thọ), không phải là lục trần, không phải là thế giới khách quan bên ngoài, không phải sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp.

Các cảm giác: Âm thanh, mùi, vị, xúc chạm, và pháp trần có thể phân biệt rõ ràng với thanh, hương, vị, xúc, pháp trần một cách dễ dàng. Riêng đối với cảm giác hình ảnh được nhãn thức thấy đa phần trùng khít với sắc trần nên rất khó phân biệt, chỉ trong một số trường hợp đặc biệt mới phân biệt được rõ ràng giữa sắc trần và cảm giác hình ảnh. Ví dụ, nếu sắc trần là một đốm lửa chuyển động theo vòng tròn đủ nhanh thì khi mắt tiếp xúc với sắc trần sẽ phát sinh cảm giác hình ảnh và nhãn thức thấy cảm giác hình ảnh ấy là một vòng lửa chứ không phải thấy sắc trần là một đốm lửa chuyển động. Những gì được thấy trên màn ảnh là cảm giác hình ảnh do mắt và sắc trần tiếp xúc mà phát sinh chứ không phải là sắc trần, vì sắc trần chỉ là những hình ảnh rời rạc với thời gian là 1/25 giây trên màn ảnh. Khi nhìn theo đường sắt xe lửa thấy hai thanh ray gặp nhau ở cuối chân trời, đây chính là cảm giác hình ảnh chứ không phải đường ray thật, vì đường ray thật thì song song với nhau.

Nhãn thức, nhĩ thức, tỉ thức, thiệt thức, thân thức và tưởng thứ sáu là cái biết trực tiếp do căn, trần tiếp xúc với nhau mà phát sinh, những cái biết trực tiếp này không ở nơi sáu căn, không nương tựa vào sáu căn, nó sinh và diệt do duyên xúc nên nó vô thường, vô ngã. Nội dung của những cái biết trực tiếp này không bị chi phối bởi tri thức, kinh nghiệm, những thông tin trong “Kho chứa”, không có các khái niệm to, nhỏ, dài, ngắn, xanh, vàng, mặn, ngọi, chua, cay v.v… nó là cái biết thuần túy như thật các cảm giác. Cảm giác như thế nào thì biết như thế ấy. Gộp sáu lộ trình này thành một công thức chung như sau:


Trong công thức này, Tưởng là cái biết trực tiếp bao gồm: Nhãn thức, Nhĩ thức, Tỉ thức, Thiệt thức, Thân thức và Tưởng thứ sáu (không có tên riêng).

4. THƯỜNG KIẾN VÀ ĐOẠN KIẾN

* Sáu xúc phát sinh sáu cảm giác hay sáu thọ và sáu tưởng. Vì không tuệ tri (không biết với trí tuệ) Xúc, Xúc → Cảm giác (Thọ) - Tưởng không tuệ tri Thọ, không tuệ tri Tưởng nên không biết như thật những gì được thấy, được biết là cảm giác, là Thọ, là Danh pháp. Cái biết ý thức nhị nguyên (vô minh) cho rằng những gì đƣợc thấy, đƣợc biết là sáu trần cảnh, là thế giới. Đây là Thƣờng kiến.

* Do không tuệ tri nên cái biết đoạn kiến cho rằng những gì được thấy, được biết là không có thật, chỉ là do một “Tâm siêu nhiên tuyệt đối” hóa hiện ra.

* Giải thích chữ Xúc trong Kinh Điển

Hỏi: Trong kinh tạng có định nghĩa về Xúc như sau:

“Căn, Trần tiếp xúc phát sinh Thức, ba pháp này gặp gỡ nhau gọi là Xúc, do Xúc mà có Thọ v.v… ví dụ mắt tiếp xúc với sắc trần phát sinh Nhãn Thức, ba pháp này gặp nhau (Mắt, Sắc trần, Nhãn Thức) gọi là Xúc, do Xúc mà có Thọ, vậy ở đây có mâu thuẫn với giải nghĩa trên không?


* Trả lời: Định nghĩa này ắt hẳn có một sự nhầm lẫn, có thể là do phiên dịch, do không hiểu đúng ngôn ngữ thời xưa hoặc có thể do sự truyền tụng sai lệch ý nghĩa ở một giai đoạn xa xưa nào đó. Nếu quán sát nơi sự thật thì không thể có sự kiện căn, trần, thức gặp nhau, vì căn, trần tiếp xúc với nhau là Nhân và thức phát sinh là Quả.

Nhân và quả ở hai thời khác nhau không tồn tại đồng thời. Nhân diệt → quả sinh, nghĩa là căn và trần tiếp xúc với nhau và cùng diệt rồi phát sinh thức (nhãn, nhĩ…ý thức) cùng với căn, trần mới. Căn và trần cũ đã diệt nên không thể gặp gỡ tiếp xúc với thức. Vả lại căn, trần là sắc pháp nên tiếp xúc được với nhau chứ không thể tiếp xúc được với thức là danh pháp để phát sinh thọ được.

Định nghĩa này cần được hiểu như sau: Căn, trần tiếp xúc phát sinh thức, khi có mặt ba pháp này mới gọi là xúc, để phân biệt với trường hợp có căn, trần tiếp xúc nhưng thức tương ứng không khởi lên (không có thọ, tưởng) thì không gọi là xúc. Ví dụ, khi gây tê một phần nào đó của thân thể và phẫu thuật, lúc đó tuy có lưỡi dao mổ (xúc trần) tiếp xúc với phần thân đó (thân căn) nhưng không có cảm giác xúc chạm và cũng không có cái biết (thân thức) nào khởi lên. Trong trường hợp này tuy căn và trần có tiếp xúc nhưng thức không có mặt nên không gọi là xúc. Trong một thời điểm, cả sáu căn có thể đang tiếp xúc với sáu trần nhưng không đồng thời có sáu thọ và sáu tưởng khởi lên mà chỉ có một tưởng, một thọ mạnh nhất khởi lên. Năm cái còn lại không gọi là xúc vì không có thọ, tưởng. (Ví dụ như một chuồng bò lớn nhốt hàng trăm con và chỉ có một cửa ra vừa đủ cho một con bò ra được, nên từng con một lần lượt ra mà thôi.)

Trong bài kinh Tam Minh (Trung Bộ Kinh tập 2) Đức Phật đã khẳng định: Này Vaccha, những ai nói như sau: “Sa-môn Gotama là bậc nhứt thiết trí, là bậc nhứt thiết kiến. Ngài tự cho là có tri kiến hoàn toàn: "Khi Ta đi, khi Ta đứng, khi Ta ngủ và khi Ta thức, tri kiến luôn luôn tồn tại, liên tục". Thì đấy là họ nói về Ta không đúng với điều đã được nói, họ đã vu khống Ta với điều không thực, hư ngụy.

Đức Phật khẳng định rằng Ngài không phải là bậc toàn tri, toàn kiến, nghĩa là không phải cùng một lúc thấy biết tất cả, không phải sáu thức cùng lúc phát khởi mà sáu thức này sinh diệt liên tục, đan xen với nhau và tại một thời điểm chỉ có một thức khởi lên. Những lúc ngủ sự thấy biết không khởi lên vì không có xúc.

Giảng sư

Kết nối

Tổng số truy cập
Thông tin: 22.801
Pháp Âm: 28.322
Đang truy cập
Hôm qua: 13300
Tổng truy cập: 5.326.718
Số người đang online: 595
hosting gia re , web gia re tron goi , thiet ke web tron goi tai ho chi minh, binh duong, vung tau, ha noi, ca nuoc , thiet ke web tron goi gia re