chuabuuchau.com.vn,chuabuuchau, chua buu chau, chùa bửu châu, chua buu chau cu chi

Chương 6. Quán sát đặc điểm của lộ trình Bát Tà Đạo

1. VÔ THƯỜNG

a. Lộ trình này bao gồm rất nhiều quá trình nhân, quả: Xúc là nhân; thọ tưởng là quả, thọ tưởng là nhân; tà niệm là quả, tà niệm là nhân; tà tư duy là quả v.v…Theo tiến trình nhân quả, nhân diệt quả sinh thì đây là một lộ trình sinh diệt liên tục.Xúc diệt; thọ tưởng sinh, thọ tưởng diệt; tà niệm sinh v.v…, không phải các chi phần này sinh lên và diệt cùng lúc, mà từng chi phần sinh và diệt liên tiếp nhau, tại một thời điểm chỉ có duy nhất một hành vi. Ví dụ, tại thời điểm hiện tại, tà tư duy đang có mặt thì những gì ở quá khứ gồm xúc, thọ, tưởng, tà niệm đã diệt và khi diệt nó không đi về đâu, những gì ở sau (tương lai) thì chưa sinh thì không có ở đâu, và như vậy chỉ có một hành vi tư duy, một danh pháp duy nhất ngoài ra không có bất cứ gì khác.

Hoặc nếu tại thời điểm hiện tại đang có mong muốn (dục) thì những gì trước đó (quá khứ) đã diệt và không đi về đâu, những gì sau nó (vị lai) thì chưa sinh và không có mặt ở đâu cả, tâm thực sự chỉ có một hành vi mong muốn.

Như vậy tại một thời điểm cái gọi là “Tâm” chỉ là một hành vi hay một danh pháp duy nhất.

b. Lộ trình có bốn giai đoạn này là nguyên lý nhưng trong thực tế không phải lộ trình nào cũng xảy ra theo cả bốn giai đoạn, lộ trình có thể kết thúc ở một chỗ nào đó tùy theo xúc kế tiếp.

* Ví dụ 1: Nếu một người ngồi trên xe đang chạy với tốc độ nhanh và họ nhìn qua cửa sổ thì cái biết chỉ dừng lại các hình ảnh, không phân biệt đó là hình ảnh gì. Lộ trình này chỉ gồm Xúc → Thọ → Tưởng, dừng lại nơi cái biết trực tiếp (tưởng) và ý thức không khởi lên.

* Ví dụ 2: Khi một thanh niên đang đi trên đường, mắt nhìn thấy cô gái phía trước, ý thức khởi lên đây là cô gái đẹp, tiếp đến thích thú (tham) khởi lên và bắt đầu chú tâm vào cô gái đó, ngay lúc đó có một xe ô tô đi ngược chiều xuất hiện có khả năng gây tai nạn cho anh ta, lập tức lộ trình tâm đối với cô gái kết thúc tại đây và một xúc mới: Mắt tiếp xúc với xe ô tô khởi lên thay thế.

Trong một trường hợp khác lộ trình mắt tiếp xúc với cô gái phát triển đến thích thú rồi chú tâm vào hình ảnh đó, kế tiếp khởi lên ý muốn làm quen và cố gắng, tác ý phóng xe nhanh. Nếu lúc này đột nhiên có người kêu tên anh ta thì lộ trình tâm đối với cô gái chấm dứt và lộ trình tâm sau sẽ khởi lên.

c. Một người lúc thức có sáu xúc: Nhãn, nhĩ, tỉ, thiệt, thân và ý xúc khởi lên liên tục sinh diệt đan xen với nhau, nhưng khi người đó ngủ, các căn (thần kinh của các giác quan) không hoạt động, tuy lúc này căn trần vẫn tiếp xúc nhưng không có xúc. Như vậy không có danh pháp nào, không có tâm nào khởi lên. Nếu có lộ trình tâm nào khởi lên là phải có thọ, tưởng (ít nhất là thọ, tưởng) tức có cái biết (thức) phát sinh, không có cái biết nào khởi lên thì không có tâm nào hết. Khi một người ngủ say không nằm mộng hoặc khi gây mê để mổ, hay bị tai nạn ngất đi khi đó không có xúc và không có lộ trình tâm, không có một tâm nào cả.

Tâm vô thường là như vậy, sinh và diệt liên tục theo định luật duyên khởi, tại một thời điểm chỉ có một tâm, một danh pháp duy nhất, độc lập, không phải như một linh hồn với nhiều chức năng, không sinh, không diệt hay một thực thể có nhiều tác dụng cùng một lúc.

2. VÔ NGÃ:

Các danh pháp và sắc pháp trong lộ trình này đều phát sinh do duyên xúc: Năm lộ trình mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, tiếp xúc với sắc, thanh, hương, vị, xúc, là ngoại xúc. Các danh pháp như niệm, tư duy, ý thức, tham, sân, si, định, dục, tinh tấn, tác ý, sầu, bi, khổ, ưu, não do ý tiếp xúc với pháp trần mà phát sinh thì đây là nội xúc (sẽ nói rõ ở đoạn sau). Kể cả tà ngữ, tà nghiệp, tà mạng cũng do duyên nội xúc mà phát sinh. Các danh pháp này do duyên xúc mà phát sinh nên nó vô ngã, độc lập, không phụ thuộc, không là chủ sở hữu cũng không bị sở hữu bởi bất cứ pháp nào. Không có một cái ta, một ông A hay bà B nào là chủ nhân có thể sở hữu, có thể điều khiển, sai khiến được lộ trình Bát Tà Đạo này. Ông A, bà B là ngôn từ quy ước rỗng không, không có thực thể, không có nội dung, chỉ là phương tiện truyền thông để phân biệt danh và sắc này với danh và sắc kia mà thôi. Không có một linh hồn, một tự ngã, một tâm thường hằng hoặc vừa thường hằng vừa vô thường, mà chỉ có Danh và Sắc đang sinh diệt liên tục theo định luật duyên khởi.

3. CÁI BIẾT (NHẬN THỨC):

Lộ trình của cái biết khởi lên như sau:
 

Nhãn xúc phát sinh: Nhãn thức → Ý thức
Nhĩ xúc phát sinh: Nhĩ thức → Ý thức
Tỉ xúc phát sinh: Tỉ thức → Ý thức
Thiệt xúc phát sinh: Thiệt thức → Ý thức
Thân xúc phát sinh: Thân thức → Ý thức
Ý xúc phát sinh: Tưởng thứ sáu → Ý thức

Cái biết khởi lên theo từng cặp: Cái biết trực tiếp và Ý thức Trong phạm trù tâm lý học và triết học, cái biết trực tiếp gọi là nhận thức cảm tính và cái biết ý thức là nhận thức lý tính. Cái biết trực tiếp là cái biết như thực các cảm Xúc → Cảm giác → Tƣởng→ Tà Niệm → Tà Tư duy → Tà Tri kiến giác hay các thọ, trong nó không có tri thức, khái niệm.

Cái biết ý thức nhị nguyên có hai phần, chủ thể và đối tượng. Chủ thể nhận biết là một cái ta, có thể là một linh hồn, một tự ngã, một tâm thường hằng hoặc vừa thường hằng vừa vô thường. Đối tượng được biết là thế giới bên ngoài (trần cảnh). Triết học và tâm lý học cho rằng: Những gì được nhận thức là phản ánh thế giới khách quan vào ý thức chủ quan (của con người). Khi khoa học phát triển ở mức độ thấp thì ý kiến này có vẻ phù hợp với sự thật nhưng khi khoa học phát triển ở mức độ cao, các phương tiện quan sát, đo đếm đã tinh vi hiện đại, các khoa học gia nhận thấy: những gì quan sát được không phải là thế giới khách quan mà những gì quan sát được không những phụ thuộc vào vật quan sát (trần cảnh) mà còn phụ thuộc vào người quan sát (căn). Điều này nói lên rằng: Những gì được thấy được biết là các cảm giác (thọ) phản ánh cả thế giới khách quan và bản thân người quan sát chứ không phải là thế giới khách quan phản ánh trong ý thức của người quan sát. Đây là cái biết không đúng sự thật, là vô minh, là tà kiến. Bản ngã (chủ thể) và thế giới (đối tượng) trong cái biết ý thức nhị nguyên này không có thật, chỉ là do vô minh tưởng tượng ra, dựng đứng lên mà thôi.

Có ba bài kinh đề cập đến lộ trình của cái biết ý thức nhị nguyên này:

- Trong Trường bộ Kinh, bài đầu tiên là Kinh Phạm Võng cũng tương tự như bài kinh Năm Ba trong Trung Bộ Kinh (bài 102, quyển 3); Đức Phật đã khẳng định: vì không tuệ tri Xúc, không tuệ tri Thọ nên các Sa môn, Bà la môn luận bàn về quá khứ tối sơ và tương lai, chấp cứ vào quá khứ tối sơ và tương lai, y cứ vào quá khứ tối sơ và tương lai với 62 luận chấp về Bản ngã và Thế giới.

Đây chính là sự không thấy (như thật), không biết (như thật) của các Sa môn, Bà la môn, bị kích thích, bị dao động, bị xuyên tạc, bị tham ái chi phối. Trong bản kinh này Đức Phật đã chỉ rõ các Sa môn và Bà la môn ấy không tuệ tri xúc, không tuệ tri thọ nên không biết được sự thực: Ý thức nhị nguyên là cái biết vô minh, nên y cứ, y chỉ vào cái biết ý thức nhị nguyên mà luận bàn về Chủ thể tức là Bản Ngã và Đối tượng tức là Thế giới.

- Kinh Pháp Môn Căn Bản mở đầu Trung Bộ Kinh Đức Phật thuyết “- Này các Tỷ Kheo , ở đây, có kẻ phàm phu ít nghe, không được thấy các bậc Thánh, không thuần thục pháp các bậc Thánh, không tu tập pháp các bậc Thánh, không được thấy các bậc Chơn nhân, không thuần thục pháp các bậc Chơn nhân, không tu tập pháp các bậc Chơn nhân, tưởng tri địa đại là địa đại. Vì tưởng tri địa đại là địa đại, người ấy nghĩ đến địa đại, nghĩ đến (tự ngã) đối chiếu với địa đại, nghĩ đến (tự ngã) như là địa đại, người ấy nghĩ: "Ðịa đại là của ta" - dục hỷ địa đại. Vì sao vậy? Ta nói người ấy không liễu tri địa đại.”

Đây chính là mô tả lộ trình Xúc → Thọ → Tưởng → Tư duy → Ý thức “Nghĩ đến địa đại (tư duy), nghĩ đến tự ngã đối chiếu với địa đại (chủ thể và đối tượng), nghĩ đến tự ngã như là địa đại (ta là), người ấy nghĩ địa đại là của ta. Nội dung của cái biết ý thức nhị nguyên cũng tương tự như một số kinh khác đã nói là “Ngã kiến, ngã sở kiến, ngã mạn tùy miên”, tức là thấy có ta, thấy có của ta, thấy ta hơn, kém hay bằng.Với cái biết nhị nguyên này tham ái sẽ khởi lên nên gọi là dục hỷ.

- Kinh Mật Hoàn, kinh số 18 trong Trung Bộ Kinh, Ngài Mahakaccana (Ma Ha Ca Chiên Diên) giảng rõ lời Đức Phật đã thuyết như sau: “Chư Hiền, do nhơn con mắt và các sắc pháp, nhãn thức khởi lên. Sự gặp gỡ của ba pháp này là xúc. Do duyên xúc nên có cảm thọ. Những gì có cảm thọ thời có tưởng, những gì có tưởng thời có suy tầm, những gì có suy tầm thì có hý luận. Do hý luận ấy làm nhơn, một số hý luận vọng tưởng ám ảnh một người, đối với các sắc pháp do con mắt nhận thức, quá khứ, tương lai và hiện tại.”

Đây vẫn là lộ trình Xúc → Thọ → Tưởng →Tư → Ý thức. Hý luận, vọng tưởng ở đây là nội dung của cái biết ý thức nhị nguyên.

Hỏi: Tại sao lộ trình được đề cập trong kinh không có Niệm?

Đáp: Niệm là một hành vi rất vi tế, khó thấy, khó biết, Đức Phật cũng ít khi giảng rõ, nhưng có một số đoạn Đức Phật cũng nhắc đến hành vi Niệm mang tính ẩn dụ nằm rải rác trong toàn bộ kinh tạng Nikaya. Thí dụ trong Tương Ưng Bộ Kinh, chương IV: Tương Ưng Căn, Phẩm về Già, 42. II. Bà La Môn Unnābha (S.v,217) có viết:

3) - Có năm căn này, thưa Tôn giả Gotama, đối cảnh khác nhau (nànavisayàni), hành cảnh khác nhau (nànà - gocaràni), chúng không dung nạp (paccanubhoniti) hành cảnh đối cảnh của nhau. Thế nào là năm? Nhãn căn, nhĩ căn, tỷ căn, thiệt căn, thân căn.

Thưa Tôn giả Gotama, năm căn này, đối cảnh khác nhau, hành cảnh khác nhau, chúng không dung nạp hành cảnh đối cảnh của nhau, thời cái gì làm chỗ quy tựa cho chúng? Và cái gì dung nạp hành cảnh đối cảnh của chúng?

4) - Này Bà-la-môn, có năm căn này, đối cảnh khác nhau, hành cảnh khác nhau, chúng không dung nạp hành cảnh đối cảnh của nhau. Thế nào là năm? Nhãn căn... thân căn. Này Bà-la-môn, năm căn này, đối cảnh khác nhau, hành cảnh khác nhau, chúng không dung nạp hành cảnh đối cảnh của nhau, ý làm chỗ quy tựa cho chúng, ý dung nạp hành cảnh đối cảnh của chúng.

5) - Nhưng thưa Tôn giả Gotama, cái gì làm chỗ quy tựa cho ý?

- Này Bà-la-môn, niệm là chỗ quy tựa cho ý.

4. “KHO CHỨA” là nơi lưu giữ các thông tin thuộc về tâm gồm: Vô minh, ta, của ta, tri thức, kinh nghiệm, thói quen v.v…, tóm lại là tất cả thông tin về thân hành, khẩu hành và ý hành. “Kho chứa” này ở đâu? Trong Danh pháp hay Sắc Pháp?” Nếu lượng thông tin được lưu giữ trong Danh pháp (tâm) thì Danh pháp sinh và diệt liên tục trong lúc thức, còn trong lúc ngủ say không mộng sẽ không phát sinh danh pháp. Lúc này danh pháp diệt và như vậy sẽ không còn tồn tại lượng thông tin về tâm nữa. Vì vậy “Kho chứa” này không thể ở nơi danh pháp.

Do đó nó phải được lưu giữ trong sắc pháp, và nó được lưu giữ ở đâu trong sắc pháp (thân). Trong năm xúc xứ là ngoại xúc, riêng phần ý có sự tiếp xúc giữa tế bào thần kinh não bộ và lượng thông tin trong “Kho chứa”, vì vậy phải xảy ra trong tế bào (nội xúc). Vì nếu tiếp xúc với bên ngoài thì nó tiếp xúc với tế bào thần kinh não bộ khác. Với sự tiếp xúc bên ngoài thì không phải là ý xúc vì không có gì xảy ra. Với nội xúc có thể kết luận rằng: Lượng thông tin phải được lưu giữ ở ADN trong nhân tế bào.

Trong các khám phá của khoa học hiện đại, kể cả việc giải mã bản đồ gene người, khoa học khám phá trong ADN có chứa những thông tin về di truyền, nhưng còn một khoảng tối bí mật mà khoa học chưa biết gì về nó.

Đặc biệt khi giải mã bản đồ gene người, khoa học thấy lượng thông tin di truyền chỉ chiếm khoảng 20% còn 80% không xác định và không biết là gì, khoa học đành kết luận đó là dấu vết của sự tiến hóa còn lại.

Hiện nay, khi ngành công nghệ thông tin phát triển mạnh mẽ nên phải đi tìm một loại vật liệu mới để thay thế, vì phải nâng cao dung lượng thẻ nhớ trên một đơn vị thể tích (dung lượng thẻ nhớ với nguyên liệu Si đã đạt mức tối đa không thể tăng được nữa), ngành công nghệ thông tin đã phát hiện ra cấu trúc của ADN có thể lưu giữ một dung lượng thông tin cực lớn. Hiện nay các nhà khoa học thuộc lãnh vực tin học đang tìm cách chế tạo thẻ nhớ tương tự như cấu trúc của ADN. Như vậy, ở trong tế bào có hai loại thông tin là thông tin di truyền và thông tin về tâm gọi là pháp trần.

Nếu lượng thông tin pháp trần này không có trong ADN sẽ không thể biết đúng sự thật các hiện tượng thân và tâm. Ví dụ khi có tâm sân thì đỏ mặt, run rẩy, tim đập nhanh, huyết áp tăng. Khi tâm tác ý đi thì thân mới đi được (với điều kiện thân thể trong trạng thái khỏe mạnh bình thường), khi tác ý nói thì cũng tương tự như trên.

Nếu không hiểu được các cơ chế này xảy ra do nguyên nhân là thông tin pháp trần chứa trong ADN sẽ đưa đến kết luận tâm là chủ của thân, tâm ra lệnh cho thân. Kết luận này không đúng sự thật vì thân, các sắc pháp là vô ngã.

Cơ chế nhân quả giữa tâm và thân xảy ra như sau: Khi có một tâm sân nổi lên, các thông tin này được phát sinh trong tế bào thần kinh não bộ. Lượng thông tin về sân này lại được truyền dẫn theo hệ thần kinh đến các ADN của các tế bào khắp trong cơ thể.Tại các tế bào đó lượng thông tin này tiếp xúc với các tế bào (nội xúc) và kết quả làm các tế bào đó thay đổi như tế bào da đổi màu đỏ, tim đập nhanh, huyết áp tăng v.v…

Từ lúc bé đã tập đi; quá trình luyện tập này được lưu giữ dưới dạng thông tin trong “Kho chứa”. Sự co giãn của các tế bào cơ, gân, khớp theo thứ tự nhất định trở thành một dạng lập trình như một phần mềm và được lưu trong ADN, và khi tác ý đi sẽ xảy ra sự khởi động lập trình đã được lưu trong ADN của các tế bào vận động. Các tác ý khác cũng giống như vậy.

Như vậy trong lượng thông tin pháp trần có rất nhiều lập trình được lưu giữ với tên gọi là kinh nghiệm, thói quen.

Các lập trình này hoạt động sẽ phát sinh lời nói, hành động, các tế bào có chức năng liên quan sẽ tiết ra các hormone tương ứng. Đây là lộ trình duyên khởi rất phức tạp nhưng hoàn hảo. Nó cũng giải thích mọi hoạt động xảy ra trên cơ thể nhanh chậm khác nhau phụ thuộc vào tốc độ dẫn truyền của hệ thần kinh.

Tóm lại, mọi danh pháp và sắc pháp trong lộ trình Bát Tà Đạo phát sinh đều do duyên xúc. Tế bào não bộ tiếp xúc (nội xúc) với lượng thông tin pháp trần trong ADN sẽ khởi lên: Niệm, tư duy, ý thức, tham, sân, si, chú tâm, dục, tinh tấn, tác ý, sầu, bi, khổ, ưu, não. Lời nói và hành động phát sinh do tế bào vận động tiếp xúc (nội xúc) với các thông tin pháp trần trong ADN của nó. Mỗi tiếp xúc sẽ phát sinh một danh pháp hay sắc pháp. Không phải tất cả danh pháp cùng phát sinh do một xúc vì các xúc này chỉ xảy ra trong một thời gian rất ngắn (khoảng 1% hay 10/00 giây).

- Lộ trình
 

5. GIẢI THÍCH LỘ TRÌNH CÁI BIẾT Ý THỨC VỀ CÁC DANH PHÁP

Cái biết về Thọ là cái biết của Tưởng, còn biết các danh pháp khác như niệm, tư duy, tham sân si, định, dục, tinh tấn, tác ý phải là cái biết ý thức. Trong lộ trình này ý thức (tà tri kiến) có thể biết được niệm và tư duy qua thông tin trong “Kho chứa”, nhưng cũng trên lộ trình này ý thức không thể biết được tham, sân, si, định v.v… vì khi các danh pháp này sinh lên thì ý thức đã diệt. Trong thực tế ý thức vẫn biết được các danh pháp này, vì khi có thích thú thì biết có thích thú, khi đang giận thì biết đang giận v.v… Vậy ý thức biết các danh pháp này theo cách thức nào?

Khi có tâm tham (thích) khởi lên thì lượng thông tin về tham này sẽ phát sinh trong ADN ở não bộ, lượng thông tin này được dẫn truyền đến ADN tại các tế bào chức năng.Tại các tế bào này sẽ xảy ra sự tiếp xúc với các thông tin.Nội xúc này là nguyên nhân phát sinh một lộ trình xúc → cảm giác → tưởng → niệm → tư duy → ý thức, và ý thức phát sinh ở lộ trình nội xúc này sẽ biết đang có thích thú. Cái biết ý thức biết tâm tham này do lộ trình sau chứ không phải ở lộ trình trước, nên cái biết ý thức luôn luôn là cái biết về quá khứ, còn cái biết trực tiếp (tưởng) là cái biết đang xảy ra ở hiện tại. Cũng y như vậy, khi có lo lắng (sân) thì cũng đồng thời cảm nhận cảm giác bồn chồn, bất an v.v…Lộ trình nội xúc (thân căn với nội xúc trần) cũng khởi lên liên tục, sinh diệt nhanh chóng đan xen với các lộ trình khác.

Khi một người hấp hối thì tâm si phát sinh mãnh liệt: Mong muốn được sống, khao khát sống, bám víu cuộc sống. Những thông tin này phát sinh trong ADN các tế bào não. Khi tế bào não chết, sự tiếp xúc cuối cùng giữa tế bào não và thông tin si ở hữu (tìm cầu hỷ lạc chỗ này chỗ kia) này rất đặc biệt, là một sự đột biến. Chính sự đột biến này làm phát sinh một loại vật chất đặc biệt, một loại vật chất vi tế có một số đặc tính của loại vật chất tế bào thần kinh não bộ, có khả năng mang toàn bộ lượng thông tin trong tế bào não bộ của người chết. Loại vật chất vi tế này mang toàn bộ thông tin pháp trần của người chết này được gọi là “Thức tái sinh”. Khi thức tái sinh có sự tương hợp với thông tin pháp trần của hai người đang giao hợp, tiếp xúc với trứng và tinh trùng đang gặp nhau cùng diệt mà phát sinh tế bào gốc. Tế bào gốc này gồm hai phần: Sắc pháp (trứng đã thụ tinh) và danh pháp gồm hai loại thông tin (di truyền và thông tin về pháp trần của người chết), tế bào gốc này tiếp nhận dinh dưỡng từ người mẹ và phát triển thành bào thai.

Trong thời kỳ phát triển của thai nhi không phải chỉ có sự chi phối của thông tin di truyền mà còn chịu sự chi phối của thông tin về tâm nữa. Điều này thể hiện rõ ở những đứa trẻ tuy cùng cha mẹ sinh ra nhưng chúng vẫn có rất nhiều đặc tính khác nhau về thân thể, tính nết, và đặc điểm của tâm.

Cái gì đi tái sinh? Không phải một linh hồn, một tự ngã, một cái ta hay tâm thức thường hằng nào đó, mà chỉ là lượng thông tin pháp trần trong ADN của mỗi người đi tái sinh. Lượng thông tin bao gồm thân hành, khẩu hành, ý hành của mỗi người không phải chỉ trong đời này mà trong rất nhiều đời được lưu giữ trong ADN. Lượng thông tin này cũng đang sinh diệt liên tục. Ví dụ, khi mua một chiếc xe, trong “Kho chứa” xuất hiện “Xe này là của ta, là ta”, khi bán xe này đi thì thông tin xe này là của ta bị xóa đi. Thuật ngữ Nghiệp trong Phật giáo là để chỉ cho lượng thông tin được lưu giữ này.

Có những đứa trẻ thần đồng mới 2, 3 tuổi đã nói được nhiều thứ tiếng tuy chưa đi học, có thể sáng tác và chỉ huy dàn nhạc lúc mới 5 tuổi v.v… vì kiếp trước đã có thói quen này lưu giữ trong ADN. Khi thai nhi phát triển có những nguyên nhân nào đó kích hoạt các thông tin này nên trong lúc còn bé tuy chưa được luyện tập, nhưng khi lộ trình tâm khởi lên là Niệm dễ dàng kích hoạt và làm hiển lộ các khả năng từ những kiếp trước.

Có những người sau khi chết lâm sàng hoặc do một sự kiện đặc biệt nào đó, họ có một số khả năng khác thường (chẳng hạn như khả năng ngoại cảm), vì có sự đột biến ADN làm “Trồi” lên các thông tin ở những kiếp trước bị nén xuống dưới.

Nhân bản vô tính là lấy một tế bào gốc của một người cho vào một “Vỏ” trứng và cấy vào cơ thể người đàn bà để có thể cung cấp các dưỡng chất cho cái “Trứng đã được thụ thai” này. Tế bào gốc này gồm hai phần: Sắc pháp là phần vật chất tế bào và Danh pháp gồm hai lượng thông tin (thông tin di truyền và thông tin pháp trần của người đó). Tế bào gốc này tương tự như trứng đã được thụ thai.

Do có dưỡng chất được cung cấp tế bào gốc này phát triển thành một thai nhi với sự chi phối của cả hai loại thông tin: thông tin di truyền và thông tin về tâm của người đó. Trong trường hợp nhân bản vô tính này không có một thức tái sinh nào bên ngoài xâm nhập cả.

Như vậy sự ra đời của con người có một nhân tố rất quan trọng là lượng thông tin pháp trần, lượng thông tin về tâm phát sinh bằng thức tái sinh hoặc nhân bản vô tính cũng giống như thực vật là lượng thông tin di truyền qua sinh sản hữu tính hay vô tính.

Có thể giải thích hiện tượng một con đỉa bị cắt ra làm nhiều phần, sau đó khi lành lại bao nhiêu phần cắt ra đều thành những con đỉa hoạt động bình thường, vấn đề ở đây là lượng thông tin trong ADN chứ không phải là một cái tâm thường hằng có thể chia ra nhiều phần như một số người băn khoăn …

Có những thông tin mà các phương tiện thông tin đại chúng đăng tải nhiều lần, đó là vấn đề ghép tạng. Khi được ghép tạng có nhiều hiện tượng khác thường xảy ra.

Ví dụ có một người chết vì tai nạn giao thông và người nhà đồng ý hiến tim cho một người bị bệnh tim. Ca ghép tim hoàn tất và sức khỏe người được ghép tim hồi phục, nhưng từ lúc đó đã xảy ra một hiện tượng khác thường: Có vẻ như có hai con người cùng sống chung trong một thân như người này vừa nhớ những việc quá khứ, những mối quan hệ quá khứ của mình, lại vừa biết những việc quá khứ của người đã chết. Trước sự việc này, những người có niềm tin tôn giáo tin vào linh hồn, tin vào một tâm thường hằng cho rằng có hai linh hồn hay hai tâm đang trong cùng một thân. Giới khoa học cũng hoang mang vì không thể lý giải hiện tượng trên, theo họ khoa học có đề cập đến lượng thông tin nhưng cho rằng nó được lưu giữ trong các nếp nhăn của bộ não, nhưng trong trường hợp này chỉ thay tim chứ đâu thay não.

Khi được thay tim, lượng thông tin pháp trần của người chết được truyền dẫn khuếch tán vào ADN của các tế bào người đang sống (chỉ có một số chứ không phải tất cả thông tin), và như vậy trong ADN của người sống có hai loại thông tin: Thông tin của người sống và một phần của người chết. Khi lộ trình tâm khởi lên, niệm sẽ kích hoạt và tư duy sẽ sử dụng hai lượng thông tin nên có những sự việc khác thường đã xảy ra.

Khoa học đã khám phá có các vùng não khác nhau xử lý các thông tin ngôn ngữ, hình ảnh, vận động v.v… thực sự có các vùng ứng với các loại cảm giác hình ảnh, âm thanh, mùi, vị, xúc chạm. Những vùng này có các cấu trúc tế bào não khác nhau; tuy lượng thông tin trong ADN của các tế bào não giống nhau, nhưng chỉ có tế bào não vùng cảm giác hình ảnh mới tiếp xúc (nội xúc) được với thông tin cảm giác hình ảnh khi nó xuất hiện, các vùng còn lại không có nội xúc này.

6. NĂM UẨN VÀ NĂM THỦ UẨN

- Tất cả pháp phát sinh do căn trần tiếp xúc với nhau theo lộ trình duyên khởi Bát Tà Đạo. Các pháp trên lộ trình này có thể chia thành năm nhóm hay năm uẩn

a. Căn và trần tiếp xúc với nhau lập thành một nhóm gọi là nhóm sắc hay sắc uẩn.

b. Do sáu xúc mà phát sinh sáu cảm giác (thọ) lập thành một nhóm gọi là thọ uẩn.

c. Do sáu xúc làm phát sinh sáu tưởng lập thành một nhóm gọi là tưởng uẩn.

d. Do ý tiếp xúc với pháp (nội xúc) làm phát sinh niệm, tư duy, tham, sân, si, định, dục, tinh tấn, tác ý, thân hành, khẩu hành, ý hành, sầu bi khổ ưu não. Những pháp này lập thành một nhóm gọi là hành uẩn.

e. Còn lại ý thức lập thành một nhóm riêng gọi là thức uẩn.

Đây là khái niệm về năm uẩn, và năm uẩn do duyên khởi nên vô thường và vô ngã.

- Năm thủ uẩn: Vì không thấy như thật năm uẩn là vô thường, vô ngã nên cái biết ý thức nhị nguyên, cái biết vô minh trong lộ trình Bát Tà Đạo, khởi lên tà kiến, phát sinh chấp thủ.

+ Sắc này là của ta, là ta: Sáu căn, thân này là ta, là của ta, nhà, xe là của ta là ta v.v… tà kiến chấp thủ có một cái ta là chủ nhân của sắc uẩn, đây gọi là sắc thủ uẩn.

+ Thọ này là ta là của ta: Ta đau, ta ngứa, ta dễ chịu, ta khó chịu v.v… tà kiến khởi lên chấp thủ một cái ta là chủ nhân các cảm thọ, đây gọi là thọ thủ uẩn.

+ Tưởng này là ta là của ta: Ta thấy, ta nghe, ta nếm v.v… tà kiến khởi lên chấp thủ một cái ta là chủ nhân các tưởng, đây gọi là tưởng thủ uẩn.

+ Hành này là ta, là của ta: Ta nhớ nghĩ, ta tư duy, ta muốn, ta nói, ta làm v.v… tà kiến khởi lên chấp thủ một cái ta là chủ nhân các hành, đây gọi là hành thủ uẩn.

+ Nhận thức này là ta, là của ta v.v…tà kiến khởi lên chấp thủ một cái ta là chủ nhân các nhận thức, đây gọi là thức thủ uẩn.

Cái biết của ý thức nhị nguyên là tà tri kiến, là vô minh phát sinh năm thủ uẩn. Thế giới mà chúng sinh đang thấy và biết chính là năm thủ uẩn. Thế giới đó là lông rùa sừng thỏ không có thật chỉ do cái biết ý thức nhị nguyên tưởng tượng ra, dựng đứng lên.

7. SỰ THẬT VỀ KHỔ VÀ NGUYÊN NHÂN CỦA KHỔ (KHỔ ĐẾ VÀ TẬP ĐẾ)

Sầu bi, khổ, ưu não, khổ của sinh già chết không phải nơi sáu trần cảnh, nơi thế giới bên ngoài mà phát sinh do căn trần tiếp xúc với nhau theo lộ trình Bát Tà Đạo. Để dễ thấy hơn có thể quán sát giai đoạn từ ý thức nhị nguyên trở đi, đến toàn bộ khổ uẩn. Ý thức nhị nguyên phán xét đối tượng là dễ chịu (lạc thọ), khó chịu (khổ thọ), không khổ không lạc (trung tính).

+ Dễ chịu → Tham → Ràng buộc → Hoại khổ

Lộ trình tóm tắt này nêu lên là khi có một đối tượng dễ chịu thì tham khởi lên, khi đã thích thú thì sẽ ràng buộc vào đối tượng đó, nghĩa là muốn có được nó hay đã có thì muốn nó tồn tại mãi. Nhưng vì đối tượng dễ chịu là vô thường biến diệt nên khi nó biến hoại, biến diệt sầu bi khổ ưu não sẽ khởi lên.Khổ trong trường hợp này gọi là Hoại khổ (khổ do biến hoại). Ví dụ: Khi thích một loại xe nào đó thì phải lao tâm khổ tứ để kiếm tiền mua và như vậy sầu bi, khổ, ưu não khởi lên, khi chiếc xe yêu thích bị hư hỏng, tai nạn thì sầu bi, khổ, ưu não khởi lên. Khi có một mức sống cao thì thích thú và nắm giữ nên phải lao tâm khổ tứ để giữ cho được mức sống đó vì vậy sầu bi khổ ưu não sẽ khởi lên. Nếu mức sống đó bị suy giảm thì sầu bi khổ ưu não cũng sẽ khởi lên. Khi hai người yêu nhau và thích thú với tình yêu đó, khi tình yêu đó biến diệt thì sầu bi khổ ưu não sẽ khởi lên.

+ Khó chịu → Sân → Ràng buộc → Khổ khổ
 
Khi có một đối tượng khó chịu sẽ chán ghét, tức giận, muốn loại bỏ đối tượng đó khởi lên và cũng bị ràng buộc vào đối tượng đó, tất nhiên sầu bi, khổ, ưu não sẽ khởi lên. Khổ trong trường hợp này gọi là Khổ khổ (khổ tâm chồng lên khổ thọ).

+ Trung tính → Si → Ràng buộc → Hành khổ

Khi có đối tượng trung tính, si sẽ phát sinh, đó là hành vi tìm kiếm một đối tượng dễ chịu để thay thế và ràng buộc với đối tượng đó nên sầu bi, khổ, ưu não khởi lên. Khổ trong trường hợp này gọi là Hành khổ. Thí dụ tâm truy tìm quá khứ, những kỷ niệm vui buồn rồi hối hận tiếc nuối nên sầu bi khổ ưu não khởi lên. Khi dự định về tương lai sẽ ràng buộc vào dự định đó. Để đạt được dự định đó phải lao tâm khổ tứ và sầu bi khổ ưu não sẽ khởi lên. Khi sắp chết tìm kiếm sự hiện hữu, sự sống còn đưa đến tái sinh chịu cái khổ của sinh, già, chết trong luân hồi.

Tóm lại:

+ Dễ chịu → Tham → Ràng buộc → Hoại khổ
+ Khó chịu → Sân → Ràng buộc → Khổ khổ
+ Trung tính → Si → Ràng buộc → Hành khổ

Sự thật về khổ thuộc về lộ trình tâm là các danh pháp chứ không thuộc về trần cảnh hay sắc pháp. Thấy như thật về khổ là cái thấy của bậc Thánh, khác với cái thấy của phàm phu là thấy khổ ở nơi hoàn cảnh.

Trong Kinh Chuyển Pháp Luân có nói: “Sinh là khổ, già là khổ, chết là khổ, sầu bi, khổ, ưu não là khổ, ái biệt ly khổ, cầu mong không được là khổ, tóm lại năm thủ uẩn là khổ”, nếu không chú tâm để biết “Tóm lại năm thủ uẩn là khổ”, nhằm chỉ rõ sự thực về những nỗi khổ trên, có thể đưa đến sự hiểu lầm lời dạy của Đức Phật. Sự hiểu lầm cho rằng những sự kiện như bệnh, già, chết là khổ, như vậy sẽ tương đương cái thấy vô minh: Khổ ở sự kiện, hoàn cảnh. Tóm lại năm thủ uẩn là khổ là thấy theo lộ trình trên, ví dụ: Bệnh là khổ thì sẽ có ba loại khổ thuộc về tâm là chủ yếu, không phải chỉ duy nhất là khổ thọ nơi thân khi bệnh.

- Con người vốn ưa thích và ràng buộc với trạng thái khỏe mạnh (dễ chịu) khi bệnh thì trạng thái khỏe mạnh biến hoại nên sầu bi, khổ, ưu, não khởi lên, đây là hoại khổ.

- Khi bị bệnh, một trạng thái khó chịu xuất hiện trên thân nên sân khởi lên và phát sinh sầu, bi, khổ, ưu, não; cái khổ này gọi là khổ khổ.

- Khi bị bệnh nỗi sợ chết sẽ ám ảnh và tâm si khởi lên, tìm cách chữa hết bệnh, tìm kiếm sự sống còn nên khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não, loại khổ này gọi là hành khổ.

Khi sáu căn tiếp xúc với sáu trần phát sinh sáu lộ trình tâm, sáu lộ trình tâm phát sinh sáu loại cảm thọ, mỗi loại có ba trường hợp: Dễ chịu, khó chịu, trung tính. Như vậy có thể nói có 18 lộ trình, trong 18 lộ trình tâm Bát Tà Đạo này đều phát sinh sầu, bi, khổ, ưu, não thuộc về tâm. Trong 18 lộ trình này chỉ có duy nhất một lộ trình phát sinh khổ thọ (khó chịu) trên thân, đó là một trong ba lộ trình thân căn tiếp xúc với xúc trần phát sinh. Khổ thọ này rất ít không thuộc về tâm, không thể tu tập Bát Chánh Đạo để diệt nó. Đối với Đức Phật và các vị A la hán còn đang sống đến hết tuổi thọ, khổ thọ này vẫn tồn tại (gọi là hữu dư, đến khi hết tuổi thọ nhập diệt gọi là vô dư thì khổ thọ này mới diệt tận). Đức Phật đã ví dụ: Đối với vị A la hán khổ chưa đoạn diệt còn dư sót (khổ thọ) so với khổ đã đoạn diệt (khổ tâm) giống như đất trong móng tay so với đất của cả trái đất vậy.

Tuy sầu, bi, khổ, ưu, não là danh pháp thuộc về tâm phát sinh trong lộ trình Bát Tà Đạo, nhưng khổ thuộc về tâm này lại phát sinh và hiển lộ trên thân. Khi sầu, bi, khổ, ưu, não phát sinh, những thông tin này phát sinh trong ADN của tế bào não và được dẫn truyền đến các ADN của những tế bào khác. Do có lượng thông tin này sẽ có sự tiếp xúc với các tế bào tương ứng và kết quả sinh ra những hoạt chất, các hormone ở các vùng cơ thể tương ứng. Sự tiếp xúc (nội xúc) này phát sinh lộ trình Xúc → Thọ → Tưởng → Niệm → Tư duy → Ý thức. Cảm giác phát sinh trong lộ trình nội xúc này là cảm giác khó chịu (khổ thọ). Ví dụ, khi đưa mũi kim tiêm chuẩn bị chích vào tay thì người bệnh khởi lên sợ (sân) phát sinh lộ trình nội xúc nên phát sinh cảm giác đau ngay cả khi kim tiêm chưa chạm vào da. Cảm giác khó chịu (khổ thọ) do lộ trình nội xúc phát sinh này mới là kinh khủng vì nó xảy ra liên tục, thường xuyên không ngừng nghỉ kể cả khi nằm ngủ không say giấc.

Nguyên nhân của các loại khổ (hoại khổ, khổ khổ và hành khổ) là lộ trình Bát Tà Đạo, cụ thể là cái biết ý thức nhị nguyên không như thực (hay vô minh) và tham sân si (hay tham ái.)

Bất kỳ một ai (ngoại trừ các bậc Thánh) lộ trình tâm đều là Bát Tà Đạo, và đều liên tục phát sinh hoại khổ, hành khổ và khổ khổ không ngừng nghỉ. Một vị Tổng thống đầy quyền lực, một tỉ phú giàu nhất thế giới, một người ăn mày sống đầu đường xó chợ hay một tù nhân thì lộ trình tâm vẫn là Bát Tà Đạo và liên tục bị khổ hành hạ.

Đây là sự thật về khổ và nguyên nhân của khổ gọi là khổ đế và tập đế, là hai chân lý, hai sự thật về cuộc sống thế gian, nhưng phàm phu không thể thấy biết như thật, chỉ có bậc Thánh mới thấy như thật và giác ngộ tục đế này.

8. BỐN ĐIÊN ĐẢO: 

Trong kinh có nhắc đến, có bốn kiến điên đảo, bốn tâm điên đảo, bốn tưởng điên đảo. Đó là kẻ phàm phu không thấy các pháp là vô thường mà thấy các pháp là thường còn, thường hằng, thường trú. Kẻ phàm phu không thấy sự thật về khổ và nguyên nhân nhân của khổ nên khát ái tìm cầu “Niềm vui hạnh phúc lạc thú” (hỷ lạc) chỗ này chỗ kia như Dục Ái, Hữu Ái, Phi Hữu Ái. Kẻ phàm phu không thấy sự thật các pháp là vô ngã mà chấp thủ ngã. Kẻ phàm phu không thấy sự thật “Niềm vui hạnh phúc lạc thú” ở đời là vui ít khổ nhiều não nhiều mà nguy hiểm lại càng nhiều hơn, không thấy những lạc này là phàm phu lạc, là ô uế lạc, là bất tịnh lạc mà đề cao nó, vinh danh nó, cho nó là cao thượng, là thanh tịnh. Kẻ phàm phu sống với bốn điên đảo này tức là: Thường, Lạc, Ngã, Tịnh.

a. Điên đảo thứ nhất: Thường Kiến.

Cái biết ý thức nhị nguyên trong lộ trình Bát Tà Đạo là cái biết thường kiến (thường hằng, thường trú), kể cả hai phần chủ thể và đối tượng đều có nội dung thường kiến.

* Chủ thể là thường kiến được biểu hiện với nhận thức:

- Một cái Ta đã từng có mặt trong quá khứ, đang có mặt trong hiện tại và sẽ có mặt trong tương lai (tái sinh).

- Một cái Ta đã tạo nghiệp trong quá khứ và hiện tại và sẽ tái sinh trong tương lai để thọ nhận quả của nghiệp.

- Cái Ta có thể được nhận thức như một tâm thường hằng thường trú, một cách gọi khác của từ linh hồn.

Cũng có thể diễn tả nhận thức cái tâm chủ thể thường hằng thường trú này bằng những hình dung từ khác như:

Nó là Tánh thấy, Tánh nghe, Tánh biết không sinh không diệt. Cũng có thể nhận thức tâm chủ thể này đang thường trú trong thân và khi chết thân tan rã, tâm này lại tái sinh vào một thân xác khác như thay một tấm áo mới.

Khi tưởng đến người thân đã mất, họ hình dung ra người thân vẫn hình hài như vậy, vẫn tâm tánh như vậy đang ở tại một cõi giới nào đó.

- Cái Ta chủ thể biết đó cũng có thể được nhận thức là sáu căn: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, hay nương vào sáu căn, hay thường trú nơi sáu căn.

- Cái Ta chủ thể biết đó cũng có thể được nhận thức là một cái tâm sinh diệt về mặt hiện tượng nhưng bản thể của nó là thường hằng không sinh không diệt, được hiểu như một năng lực tinh thần siêu nhiên tuyệt đối, hay một thế giới tâm linh tuyệt đối mà từ đó lưu xuất ra cái tâm sinh diệt này.

* Đối tượng được biết là sáu trần cảnh, là thế giới bên ngoài cũng chính là thường kiến

- Nhận thức các pháp vô thường không theo nghĩa sinh diệt mà theo nghĩa các pháp đang thay đổi, biến đổi (nước biến đổi thành hơi nước, hơi nước biến đổi thành mây, mây biến đổi thành mưa…). Nhận thức này phát sinh trên hiểu biết vô minh một nhân sinh quả, nhân biến đổi thành quả, nhân trong quả, quả trong nhân, nhân nào quả nấy. Vì vậy các pháp chỉ biến đổi từ cái này sang cái khác, từ dạng này sang dạng khác trong một tổng thể “Không sinh không diệt”.

- Nhận thức rằng vị ngon, dở thường trú trong thức ăn, vị ngọt ở trong đường, vị mặn ở trong muối. Niềm vui hạnh phúc lạc thú ở trong tiền bạc, thường trú trong tiền bạc, trong xe cộ, trong nhà cửa, trong tiện nghi, trong sắc đẹp, hay trong hương thơm, vị ngon, xúc chạm êm ái v.v… Nó không mất đi đâu cả, nó thường trú trong thế giới trần cảnh, không ở chỗ này thì ở chỗ kia.

- Biểu hiện của thường kiến là khát khao ổn định, mong ổn định, hướng đến an cư lạc nghiệp.

- Biểu hiện của thường kiến là hy vọng ở tương lai: đến một ngày nào đó khi đạt được mức độ vật chất và tinh thần như vậy thì sẽ vĩnh viễn chấm dứt hoàn cảnh khó chịu và vĩnh viễn đạt được hoàn cảnh dễ chịu. Lúc đó khổ sẽ chấm dứt. Thường kiến như vậy nên con người khi xem một bộ phim, đọc một quyển sách nếu kết thúc có hậu thì thích thú hoan hỷ vì nó phù hợp với thường kiến: Với kết thúc đó thì nhân vật được yêu mến từ đây sẽ vĩnh viễn thoát khổ và vĩnh viễn an hưởng hạnh phúc.

b. Điên đảo thứ hai: Lạc

Kẻ phàm phu vì bị vô minh che đậy, bị tham ái trói chặt, không thấy sự thật về khổ, không thấy sự thật về nguyên nhân của khổ nên luôn luôn khao khát mong mỏi, tìm cầu niềm vui hạnh phúc lạc thú. Vì không tuệ tri vị ngọt, không tuệ tri sự nguy hiểm nên không thấy như thật niềm vui hạnh phúc lạc thú chỉ là những cảm giác dễ chịu, nó là các danh pháp thuộc về tâm, sinh rồi diệt chứ nó không phải là sáu trần cảnh, không thường trú trong sáu trần cảnh (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp). Vì vậy trong lộ trình tâm Bát Tà Đạo hễ thấy, hễ tư duy, hễ tưởng đến, hễ tìm cầu là thấy, là tư duy, là tưởng đến, là tìm cầu niềm vui hạnh phúc lạc thú trong thế giới trần cảnh. Đây là điên đảo thứ hai là Lạc.

c. Điên đảo thứ ba: Ngã

Vì vô minh che đậy không thấy như thật duyên khởi, không thấy như thật pháp duyên khởi nên không thấy quan hệ giữa các pháp theo chiều không gian là độc lập, không phụ thuộc, không có quan hệ sở hữu, không có pháp nào là chủ nhân của pháp nào. Nghĩa là không thấy các pháp là vô ngã.

- Cái biết ý thức nhị nguyên phát sinh một cái Ta hay bản ngã và kẻ phàm phu sống để khẳng định và bành trướng quyền làm chủ của cái Ta (bản ngã) ảo tưởng ấy.

Làm chủ tiền bạc, làm chủ tài sản, làm chủ gia đình, làm chủ xã hội, làm chủ thiên nhiên, làm chủ thân tâm, làm chủ sống chết…

- Biểu hiện của chấp ngã là nhận thức các pháp không tồn tại độc lập, nương nhau mà tồn tại, cái này trong cái kia, tương tức tương nhập, trùng trùng vô tận. Quan hệ giữa các pháp là qua hệ sở hữu: vị ngọt của đường, tiếng trống của cái trống, con của mẹ, hạt thóc của cây lúa.

- Biểu hiện của nhận thức chấp ngã là: cái này là của ta, là ta, là tự ngã của ta, ta hơn, ta kém, ta bằng.

- Có nhận thức cho rằng: Khi phân tích các sắc pháp ra các phần tử nhỏ nhất như các lượng tử thì sẽ không còn thấy nguyên khối tưởng và như vậy sẽ thấy được vô ngã.

Nhưng sự thật chứng minh rằng cho dù một nhà vật lý lượng tử nhận thức rằng các sắc pháp chỉ là các lượng tử nhưng chính họ lại đang chấp ngã. Vì sao? Vì cái biết như vậy là ý thức nhị nguyên trong đó có phần chủ thể và chấp ngã là ngay tại đây (chủ thể) chứ không phải ở nơi các lượng tử (đối tượng).

d. Điên đảo thứ tư: Tịnh (Thanh tịnh)

Kẻ phàm phu nhận thức “Niềm vui hạnh phúc lạc thú” thường trú trong thế giới trần cảnh là tuyệt với, là cao quý, là kỳ diệu, là cao thượng, là thanh tịnh, vì nó đưa con người đến hết khổ. Kẻ phàm phu ca ngợi, tô điểm, vinh danh sắc đẹp, tiếng hay, hương thơm, vị ngọt, xúc chạm êm ái… mà không biết sự thật (niềm vui hạnh phúc lạc thú này) vui ít, khổ nhiều, não nhiều mà nguy hiểm lại càng nhiều hơn. Vì lạc này mà cha tranh đoạt với con, anh em tranh đoạt với nhau, vì lạc này mà sầu bi khổ ưu não sẽ khởi lên. Vì lạc này mà có chiến tranh, có tàn sát, có lừa đảo, có phá sản, có trộm cướp, có nói dối, có Tà dâm. Vì lạc này mà có nhiều đứa con giết chết cả cha lẫn mẹ. Vì lạc này mà có cả những đứa con trai giao cấu với mẹ đẻ ra mình. Kẻ phàm phu vì không biết sự thật, những lạc thú này là phàm phu lạc, là ô uế lạc, là bất tịnh lạc nên vinh danh ca tụng cho nó là cao quý, là thanh tịnh, và mê đắm nó.

Lộ trình tâm Bát Tà Đạo khởi lên đưa đến cái biết ý thức nhị nguyên có đầy đủ bốn điên đảo này tức là Thường, Lạc, Ngã, Tịnh. Kẻ phàm phu không thấy các bậc Thánh, không thuần thục pháp các bậc Thánh, không tu tập pháp các bậc Thánh, đang sống với bốn điên đảo này.

9. MỘT SỐ NHẬN THỨC KHÔNG ĐÚNG (VÔ MINH) VỀ KHỔ

- Nhận thức: Tất cả các pháp là khổ, danh sắc là khổ, năm uẩn là khổ, là không đúng sự thật là vô minh, vì hiểu biết này thực chất hiểu khổ ở nơi hoàn cảnh. Trong kinh Chuyển Pháp Luân, Đức Phật chưa từng bao giờ thuyết giảng: Năm uẩn hay danh sắc hay tất cả các pháp là khổ mà Ngài thuyết giảng rằng: “Tóm lại năm thủ uẩn là khổ”

- Nhận thức vô thường sinh diệt là khổ hay vô thường sinh diệt là nguyên nhân của khổ đều không đúng sự thật, là vô minh vì rằng khổ và nguyên nhân của khổ là do: “Không thấy như thật các pháp là vô thường sinh diệt” chứ không phải là tính chất vô thường sinh diệt của các pháp.

- Nhận thức: Khổ do mình làm và mình lãnh chịu hay khổ do người khác làm mình lãnh chịu đó là thường kiến và đoạn kiến (vô minh). Sự thật khổ phát sinh do duyên xúc: Xúc - Thọ - Ái - Thủ - Hữu - Sinh - Già. Chết, sầu, bi, khổ, ưu, não.

Giảng sư

Kết nối

Tổng số truy cập
Thông tin: 22.801
Pháp Âm: 28.322
Đang truy cập
Hôm qua: 13300
Tổng truy cập: 5.327.138
Số người đang online: 575
hosting gia re , web gia re tron goi , thiet ke web tron goi tai ho chi minh, binh duong, vung tau, ha noi, ca nuoc , thiet ke web tron goi gia re