chuabuuchau.com.vn,chuabuuchau, chua buu chau, chùa bửu châu, chua buu chau cu chi

Chương 7. Bát Chánh Đạo - Con đường vắng mặt khổ đau

Nhắc lại lộ trình Bát Tà Đạo gồm:


Muốn chấm dứt nguyên nhân của khổ thì phải chấm dứt lộ trình Bát Tà Đạo này.

Từ xúc → Thọ - Tưởng, chưa có vô minh và tham sân si, cái biết trực tiếp Tưởng là cái biết như thật, nhưng trong lộ trình Bát Tà Đạo nó đóng vai trò “Tưởng tri‟ sinh diệt rất nhanh chóng, là một nhân khởi lên cái biết ý thức nhị nguyên (thức tri). Với lộ trình Bát Tà Đạo kẻ phàm phu sống chủ yếu với thức tri, không kinh nghiệm được cái biết thuần túy của Tưởng. Nếu cảm giác (thọ) và tưởng vừa khởi lên mà có sự chú tâm vào cảm giác ngay tại đó thì lộ trình tâm sẽ thay đổi, tà tư duy sẽ không khởi lên được và tà tư duy sẽ được thay thế bằng hành vi chú tâm. Có thể thấy điều này bằng một ví dụ: Người mẹ đang ngồi trước chậu quần áo bẩn, bà vừa giặt vừa khởi lên tư duy: Sao những đứa con của mình lười biếng như vậy, sao chúng nó nhiều quần áo bẩn thế, sao chúng nó đày đọa mình như thế này v.v… khi cái biết ý thức nhị nguyên do tà tư duy khởi lên thì bà giặt đồ với tâm trạng đầy sầu, bi khổ, ưu, não. Nhưng nếu bà giặt với sự chú tâm liên tục khi cảm giác vừa khởi lên, tức là giặt đồ với cái biết trực tiếp thuần túy sẽ không khởi lên khổ.

Xúc → Cảm giác → Tưởng ← Chú tâm

1. CHÁNH NIỆM

Muốn có sự chú tâm xảy ra tại đây thì phải có nhớ nghĩ (niệm) đến chú tâm tại thời điểm này. Theo duyên khởi tại đây niệm khởi lên nội dung của nó là: “Cái này là cái gì? Tính chất nó ra sao? Dễ chịu khó chịu hay trung tính” phải được thay thế bằng: “Chú tâm vào cảm giác khi nó vừa khởi lên”. Nội dung của niệm này thực chất là nội dung của Minh trong Tứ Thánh Đế. Niệm này được gọi là chánh niệm.

2. CHÁNH TINH TẤN

Đối với chánh niệm, nội dung là chú tâm nhưng thực chất nội dung này là Tứ Thánh Đế nên sẽ phát sinh hành vi nỗ lực tinh tấn.

3. CHÁNH ĐỊNH

Do tinh tấn này phát sinh hành vi chú tâm gọi là chánh định.

* Tỉnh Giác

Do có sự chú tâm này nên lộ trình tâm sẽ dừng lại nơi cái biết trực tiếp và kinh nghiệm được cái biết tưởng thuần túy.Cái biết trực tiếp tưởng bây giờ không còn gọi là tưởng mà gọi là tỉnh giác, hay như Kinh Pháp Môn Căn Bản (Trung Bộ tập 1) gọi là thắng tri.

Xúc → Cảm giác - Tưởng → Chánh niệm → Chánh tinh tấn → Chánh định → Tỉnh giác

Đối với một cảm giác sinh lên và diệt đi, trong thời gian tồn tại cảm giác này, nếu chú tâm liên tục trên cảm giác đó, thì không phải hành vi chú tâm xảy ra kéo dài trong thời gian tồn tại cảm giác đó, mà hành vi chú tâm này sinh và diệt nhanh chóng theo lộ trình trên. Nghĩa là có rất nhiều lộ trình như vậy xảy ra chồng lên nhau, mỗi lộ trình xảy ra trong khoảng 1% hay một phần ngàn giây mà thôi (thuật ngữ y học là chụp cắt lớp có thể làm liên tưởng đến hiện tượng này). Do có rất nhiều lộ trình như vậy trong khoảng thời gian tồn tại của cảm giác mà có thể biết cảm giác đó bằng cái biết trực tiếp thuần túy.

Bốn chi phần Chánh niệm → Chánh tinh tấn → Chánh định → Tỉnh giác có thể gọi tắt là chánh niệm tỉnh giác.

Khi hành thiền sẽ có sáu loại cảm giác sinh và diệt liên tiếp đan xen nhau theo thứ tự thời gian.Nếu trong năm phút, mười phút hay nửa tiếng khi cảm giác liên tục khởi lên, chánh niệm (nhớ nghĩ chú tâm) cũng liên tục khởi lên thì thiền giả an trú liên tục trong cái biết tỉnh giác, cái biết trực tiếp thuần túy không có tri thức, khái niệm.

Trong khoảng thời gian này chỉ có chánh niệm tỉnh giác, không có vô minh, không có tham sân si, không có sầu bi khổ ưu não. Thiền giả sẽ kinh nghiệm được sự vắng mặt của khổ, thiền giả an trú và kinh nghiệm được lời dạy của Đức Phật. “Cái thấy chỉ là thấy, cái nghe chỉ là nghe v.v…” không có thái độ, không có phản ứng. Cái biết tỉnh giác không phải chỉ là cái biết tưởng thuần túy mà chánh niệm, chánh tinh tấn, chánh định phải có mặt.

Sự an trú chánh niệm tỉnh giác còn được gọi là an trú không hay không tánh. Phần lớn thời gian trong ngày các bậc Thánh an trú trong không tánh này. An trú ở đây là giải thoát khổ cũng gọi là an trú không tánh giải thoát.

4. CHÁNH TƯ DUY

Với các lộ trình tâm dừng lại tại đây thì hoàn toàn không có tư tưởng, không có cái biết ý thức khởi lên, mà chỉ có cái biết trực tiếp. Nhưng không phải khi hành thiền mọi lộ trình tâm đều dừng lại ở đây, một số cảm giác nổi trội không dừng lại ở chánh niệm tỉnh giác, lúc đó sẽ phát sinh cái biết ý thức. Ví dụ khi hành thiền vào buổi sáng đang chú tâm liên tục và an trú chánh niệm tỉnh giác, khi có tiếng gà gáy, thì cái biết ý thức khởi lên biết đây là tiếng gà gáy. Cái biết này không còn là cái biết trực tiếp (nhĩ thức) mà nội dung của nó có tri thức, khái niệm nên phải do tư duy khởi lên. Nhưng tư duy ở đây không phải là tà tư duy bởi trong “Kho chứa” ngoài thông tin của phàm phu như vô minh, ta, của ta v.v… còn có thấy biết như thật về duyên khởi, vô thường, vô ngã, biết như thật về khổ, nguyên nhân của khổ, sự chấm dứt khổ và con đường đưa đến chấm dứt khổ (Tứ Thánh Đế). Đây gọi là Minh.Chánh niệm sẽ kích hoạt Minh để tư duy sử dụng Minh mà không sử dụng vô minh, ta và của ta nữa. Tư duy ở đây vẫn là phân tích, so sánh, tổng hợp, phán đoán, kết luận nhưng không sử dụng thông tin vô minh, ta, của ta nên không phát sinh cái biết ý thức nhị nguyên. Tư duy này gọi là chánh tư duy vì sử dụng các thông tin của minh đưa đến cái biết ý thức đúng với sự thật.


5. CHÁNH KIẾN - CÁI BIẾT Ý THỨC NHƯ THỰC

Cái biết ý thức do chánh tư duy phát sinh là cái biết như thật nên gọi là chánh tri kiến. Cái biết chánh kiến này không có ta, của ta, ta hơn, kém, bằng (không có ngã kiến, ngã sở kiến, ngã mạn tùy miên). Nội dung của cái biết này là Minh do nghe và tư duy, được lưu giữ trong ADN. Những gì được thấy được biết là danh pháp, do duyên xúc phát sinh, nó vô thường, vô ngã, không thể nắm giữ, không thể loại bỏ. Thích thú rồi nắm giữ, chán ghét muốn loại bỏ chỉ làm phát sinh đau khổ. Với nội dung đó thì cái biết chánh kiến này không thể làm phát sinh tham sân si được. Có thể hiểu điều này qua một thí dụ: Ví như có một hồ nước rộng lớn và một ánh trăng hiện ở mặt nước, nhiều người đến ngắm ánh trăng nhưng họ chỉ có khả năng nhìn xuống (cái thấy một chiều), không có khả năng nhìn lên trên trời nên họ cho rằng có một vật sáng ở đáy hồ, họ nhảy xuống tranh giành, lặn hụp để dành lấy vật sáng kỳ diệu “Cho ta”. Đây là cái biết vô minh. Có duy nhất một người nhìn lên phía trên thấy vật sáng đó là mặt trăng trên trời, và người ấy cũng biết như thật dưới hồ là cái bóng phản chiếu của mặt trăng. Với cái biết như thật này người ấy không nhảy xuống để tranh giành cũng không tìm cách lên trời để lấy mặt trăng thực làm cái “Của ta”.

Cái biết chánh tri kiến là cái biết ý thức, có tri thức, khái niệm, là cái biết như thật. Những gì được biết là các danh pháp chứ không phải là sắc pháp. Sắc pháp thời có hình có tướng còn danh pháp thì không có hình có tướng, nên cái biết chánh kiến này còn được gọi là không tướng hay vô tướng. An trú trong cái biết chánh kiến này sẽ kinh nghiệm được không có vô minh, không có tham sân si, không có sầu bi khổ ưu não. Với sự an trú cái biết chánh kiến này sẽ kinh nghiệm được sự vắng mặt khổ. Sự an trú này được gọi là an trú vô tướng giải thoát.

6,7,8. CHÁNH NGỮ, CHÁNH NGHIỆP, CHÁNH MẠNG

Với cái biết chánh tri kiến này có thể có một số trường hợp phát sinh lời nói, hành động, sự nuôi mạng gọi là chánh ngữ, chánh nghiệp và chánh mạng. Để phát sinh lời nói, hành động phải có tác ý, nhưng tác ý này phát sinh do cái biết ý thức như thực nên gọi là như thực tác ý. Chánh tri kiến → Như thật tác ý → Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, do vậy không còn tham sân si, không còn tạo nghiệp, không ràng buộc với kết quả.

Chánh ngữ là lời nói nếu được ca ngợi, tán thán cũng không thích thú, nếu bị chê bai phỉ báng cũng không chán ghét, Chánh nghiệp tức hành động nếu đưa đến kết quả tốt đẹp cũng không vui mừng, thất bại cũng không buồn khổ v.v… vì vậy chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng gọi là vô tác giải thoát.


Đây gọi là lộ trình sinh diệt Bát Chánh Đạo, lộ trình tâm của bậc Thánh hữu học và vô học. Lộ trình Bát Chánh Đạo này cũng do duyên căn, trần tiếp xúc mà phát sinh, nên các pháp phát sinh trên đó và cả lộ trình cũng vô thường, vô ngã. Trên lộ trình Bát Chánh Đạo sẽ tự thấy, tự biết (kinh nghiệm) được sự thật về chấm dứt khổ và con đường đưa đến chấm dứt khổ.Đây chính là hai chân lý, hai sự thật: Diệt Đế và Đạo Đế còn gọi là Chân Đế trong Tứ Thánh Đế, bốn sự thật mà bậc Thánh đã giác ngộ.

9. BA GIẢI THOÁT:

Không - Vô Tướng - Vô Tác An trú lộ trình tâm Bát Chánh Đạo hành giả sẽ trải nghiệm được, tự thấy tự biết được Khổ Diệt (Niết bàn) hay nói theo một cách khác là kinh nghiệm được Không giải thoát - Vô tướng giải thoát - Vô tác giải thoát.

a. Không giải thoát: Lộ trình tâm Bát Chánh Đạo (siêu thế): Xúc - Thọ - Tưởng - Chánh Niệm - Chánh Tinh tấn - Chánh Định - [Tỉnh giác] - Chánh Tư duy - Chánh Kiến - Như thật tác ý - Chánh Ngữ, Chánh Nghiệp, Chánh Mạng, không phải lúc nào cũng đầy đủ tám chi phần mà lộ trình có thể dừng lại ở tỉnh giác. Cụ thể: Xúc - Thọ - Tưởng - Chánh Niệm - Chánh Tinh tấn - Chánh Định - [Tỉnh giác]. Trong trường hợp này nhờ có chú tâm (Chánh Định) mà lộ trình sinh diệt này (xảy ra trong một khoảng thời gian rất ngắn, khoảng phần trăm hoặc phần ngàn giây mà thôi), được “Lặp đi lặp lại” trên đối tượng đó và nhờ vậy, hành giả an trú cái biết trực tiếp. Nhờ sự chú tâm liên tục này mà Tà Niệm - Tà Tư duy - Tà Tri kiến… không khởi lên được. Hành giả an trú và kinh nghiệm cái biết trực tiếp trong khoảng thời gian dài hơn rất nhiều so với cái biết trực tiếp của lộ trình Bát Tà Đạo. Giờ đây cái biết trực tiếp có một tên gọi khác là Tỉnh giác hay Thắng tri (Theo Kinh Pháp Môn Căn Bản - Trung Bộ 1). Đặc biệt cái biết tỉnh giác này là cái biết trực tiếp được an trú nhờ Chánh Niệm - Chánh Tinh tấn - Chánh Định, là cái biết như thật về các cảm giác (hình ảnh, âm thanh, mùi, vị, xúc chạm, pháp trần), không có tri thức khái niệm, không có “Vô minh, ta của ta” nên còn có tên gọi là Không tánh. Cái biết Không tánh này không phát sinh thái độ, không phát sinh phản ứng (hành động, lời nói). Thấy chỉ là thấy, nghe chỉ là nghe, cảm nhận chỉ là cảm nhận không có gì thêm thắt vào nữa. Vì vậy, an trú cái biết Không tánh này, không có vô minh, không có tham ái, không có phiền não, nên gọi là an trú Không giải thoát. Khi thực hành thiền định (chú tâm), hành giả sẽ trải nghiệm, sẽ tự thấy tự biết Không giải thoát này. Cho dù là hữu học đạo hay vô học đạo, khoảng 60% - 70% lộ trình sinh diệt Bát Chánh Đạo là lộ trình Không giải thoát này. Đa phần hành giả tu tập đúng cách sẽ kinh nghiệm được một đầu óc trống không, không có suy nghĩ. Có người gọi đó là “Tâm lặng mà biết” hay “Cái biết không có suy nghĩ”.

Nếu một người chưa được học Duyên khởi - Tứ Thánh Đế mà thực hành chú tâm đúng cách vẫn có thể an trú được Không giải thoát này, vì vậy an trú Không giải thoát còn gọi là an trú Tâm giải thoát. Chữ Tâm trong Tâm giải thoát này chỉ cho Định.

b. Vô Tướng giải thoát: Có những lộ trình tâm Bát Chánh Đạo dừng lại tại Chánh Kiến: Xúc - Thọ - Tưởng - Chánh Niệm - Chánh Tinh tấn - Chánh Định - [Tỉnh giác] - Chánh Tư duy - Chánh Kiến. Chánh Kiến là cái biết ý thức do Chánh Tư duy khởi lên. Chánh Tư duy lại được Chánh Niệm kích hoạt các thông tin thuộc về Minh trong kho chứa nên nội dung của Chánh Kiến là Minh (biết đúng như thực về duyên khởi, về vô thường, về vô ngã, về khổ tập diệt đạo). Trong cái biết Chánh Kiến này không còn Ngã: Không có Ta, không có của Ta, không có Ta hơn, kém, bằng. Một nội dung quan trọng của cái biết này là: Những gì được thấy, được biết không phải là trần cảnh, không phải là sắc pháp mà nó chỉ là các cảm giác (cảm thọ) và các hành vi thuộc về tâm. Nó là các danh pháp. Các sắc pháp thì có tướng trạng: Vuông tròn, to nhỏ, dài ngắn, xanh vàng đỏ trắng… còn các danh pháp thì không có tướng trạng nên là vô tướng. Vì vậy cái biết chánh kiến còn có tên gọi khác là vô tướng. Cái biết chánh kiến hay vô tướng này không còn là cái biết nhị nguyên (có chủ thể và đối tượng), nó là cái biết như thật, đúng sự thật nên không còn vô minh, không thể phát sinh tham sân si, không thể có sầu bi khổ ưu não.

An trú cái biết vô tướng này hành giả sẽ trải nghiệm, sẽ tự thấy tự biết: Sự vắng mặt của khổ, hay nói theo cách khác là kinh nghiệm được Vô Tướng giải thoát.

Cái biết chánh kiến hay vô tướng trên lộ trình tâm Bát Chánh Đạo này được gọi là vô lậu, siêu thế thuộc đạo chi do Chánh tư duy khởi lên nhờ Chánh niệm kích hoạt Minh trong kho chứa không phải đạt được nhờ năng lực của Định, không phải là “Ánh sáng rực rỡ” “Ánh sáng trí tuệ” do các tầng định thâm sâu phát sinh vì vậy để Chánh tư duy xảy ra phát sinh được Chánh kiến phải có các thông tin về Minh được lưu giữ trong kho chứa. Để có được Minh lưu vào kho chứa phải có Văn Tuệ (nghe giảng), Tư Tuệ (tư duy) về Duyên khởi - Tứ Thánh đế.

Chánh kiến thuộc vô lậu, siêu thế thuộc đạo chi này cũng chính là Tu Tuệ, là trí tuệ do thực hành phát sinh.

Trí tuệ này cũng được gọi là Thượng Trí hay trong Kinh Pháp Môn Căn Bản Hòa Thượng Minh Châu dịch là Liễu Tri. An trú Chánh kiến này gọi là an trú Vô Tướng giải thoát hay an trú Tuệ giải thoát.

Tuy rằng trong các lộ trình tâm Bát Chánh Đạo đa phần hành giả an trú tâm giải thoát (không tánh) khoảng 60% đến 70%, lộ trình có cả Tuệ giải thoát chỉ khoảng 30% đến 40%, nhưng chính lộ trình có Tâm giải thoát và Tuệ giải thoát này mới đưa đến đột chuyển cuối cùng: Sự xóa bỏ hoàn toàn “Vô minh ta của ta” trong kho chứa. Đây là sự đoạn diệt hoàn toàn nhân sinh ra tà niệm cũng có nghĩa là sự đoạn diệt hoàn toàn lộ trình tâm Bát Tà Đạo, đoạn diệt hoàn toàn vô minh và tham ái, đoạn diệt hoàn toàn khổ và nguyên nhân của khổ.

Một người không thâm hiểu sâu sắc về sự thật duyên khởi, sự thật vô thường, sự thật vô ngã, sự thật khổ tập diệt đạo, nếu thực hành chú tâm liên tục các cảm giác đúng cách có thể an trú được Không giải thoát hay Tâm giải thoát, có thể kinh nghiệm được tâm lặng mà biết hay cái biết không suy nghĩ nhưng không có thể kinh nghiệm được Vô tướng giải thoát hay Tuệ giải thoát và không có thể có được sự đột chuyển cuối cùng để thấy được sự đoạn tận khổ đau. Sự tu tập thiền định cho dù ở mức độ nào cũng không thể đưa đến cái thấy như thật về “Vô thường, khổ, vô ngã” mà bất kỳ một ai (ngoại trừ bậc Chánh Đẳng Giác và Độc Giác) đều phải trực tiếp hoặc gián tiếp nghe bậc Chánh Đẳng Giác giảng dạy về sự thật Duyên khởi, Tứ Thánh Đế. Sự tu tập Bát Chánh Đạo siêu thế (cũng có thể nói là sự tu tập Chánh niệm hay Chánh định) là để trực tiếp trải nghiệm những sự thật mà bậc Chánh Đẳng Giác thuyết giảng, trải nghiệm Tâm giải thoát, Tuệ giải thoát.

c. Vô Tác giải thoát: Có những lộ trình tâm Bát Chánh Đạo tròn cả tám chi phần đưa đến Chánh Ngữ - Chánh Nghiệp - Chánh Mạng, là lời nói, hành động về thân, sự ăn uống nuôi mạng do Chánh kiến, cái biết như thật, cái biết trí tuệ phát sinh nên Chánh Ngữ - Chánh Nghiệp - Chánh Mạng không còn tạo tác, không ràng buộc vào kết quả, không có một mục đích nào cả. Những hành vi này đã được giải thoát nên có tên gọi là Vô Tác giải thoát thuộc về Tuệ giải thoát.

d. Hữu Học trú và Như Lai trú: Sự an trú của hữu học (đang tu) và vô học (bậc A la hán) gọi là hữu học trú và Như Lai trú. Hữu học trú và như Lai trú đều là an trú Bát Chánh Đạo (siêu thế). Tuy vậy vẫn có sự khác nhau giữa hữu học trú và Như Lai trú.

Hữu học trú là an trú Tâm giải thoát và Tuệ giải thoát nhưng Bát Tà Đạo (vô minh, tham ái) chỉ được nhiếp phục chứ chưa được đoạn tận. Thông tin vô minh ta của ta vẫn còn trong kho chứa chưa được xóa bỏ nên nhân của tà niệm chưa được đoạn tận, vì vậy lộ trình Bát Tà Đạo chưa được đoạn tận. Đối với hữu học trú phải có chánh định mới có Tâm giải thoát và Tuệ giải thoát nhưng Tuệ giải thoát chưa viên mãn. Nếu không có chánh định thì không thể có Tâm giải thoát và Tuệ giải thoát.

Đối với Như Lai trú với Tuệ giải thoát đã hoàn toàn viên mãn nên đã xóa bỏ hoàn toàn thông tin vô minh ta của ta trong kho chứa. Vì vậy Tà Niệm - Bát Tà Đạo - Vô minh - Tham ái đã hoàn toàn đoạn diệt không có thể tái sinh trong tương lai. Vì thế Như Lai trú cũng là an trú Chánh Trí: “Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, những việc cần làm đã làm không còn trở lui trạng thái này nữa”. Đối với Như Lai trú kể cả một số lộ trình tâm Bát Chánh Đạo không có chánh định sẽ là: Xúc - Thọ - Tưởng - Chánh niệm - Chánh Tư duy - Chánh kiến.

Trong trường hợp này Như Lai trú là an trú Tuệ giải thoát.

Giảng sư

Kết nối

Tổng số truy cập
Thông tin: 22.801
Pháp Âm: 28.322
Đang truy cập
Hôm qua: 13300
Tổng truy cập: 5.327.007
Số người đang online: 595
hosting gia re , web gia re tron goi , thiet ke web tron goi tai ho chi minh, binh duong, vung tau, ha noi, ca nuoc , thiet ke web tron goi gia re