chuabuuchau.com.vn,chuabuuchau, chua buu chau, chùa bửu châu, chua buu chau cu chi

Chương 8. Sự tu tập Chánh niệm

Có thể diễn tả lộ trình Bát Tà Đạo và Bát Chánh Đạo trong một sơ đồ như sau:


Có hai con đường như Kinh Pháp Cú đã diễn tả: đó là Bát Tà Đạo và Bát Chánh Đạo

Đường này đến thế gian
Đường kia đến Niết Bàn
Tỳ Kheo đệ tử Phật
Phải ý thức rõ ràng

Bát Tà Đạo và Bát Chánh Đạo có khởi đầu chung là Xúc → Thọ → Tưởng, và tại đây sẽ phát sinh chỗ rẽ, nếu tà niệm khởi lên sẽ phát sinh lộ trình Bát Tà Đạo, nếu chánh niệm khởi lên sẽ phát sinh lộ trình Bát Chánh Đạo. Vì ý nghĩa chỗ rẽ này mà trong Tương Ưng Bộ kinh Đức Phật mô tả trong bài Cỗ Xe Thù Thắng, cỗ xe đến Niết Bàn, Ngài đã nói rõ Niệm là người đánh xe.

Như vậy để chấm dứt khổ, phải chấm dứt lộ trình Bát Tà Đạo và khởi lên lộ trình Bát Chánh Đạo. Việc duy nhất cần làm ở đây là làm cho chánh niệm khởi lên do vậy tà niệm sẽ diệt. Nhưng chánh niệm cũng vô ngã, không ai có thể điều khiển làm cho chánh niệm sinh và diệt được.

Vậy phải làm thế nào? Chánh niệm hay tà niệm được phân biệt bởi nội dung của niệm. Nếu nội dung của niệm như cái này là gì? Đặc tính thế nào? Dễ chịu, khó chịu hay trung tính? Đây là tà niệm, nội dung là vô minh, ta, của ta. Nếu nội dung của niệm là chú tâm các cảm giác khi nó xảy ra, đây là một trong những nội dung về Minh của Tứ Thánh Đế.

1. TÀ NIỆM VÀ CHÁNH NIỆM

Tà niệm hay chánh niệm quyết định ở nội dung của niệm (nhớ nghĩ), mà nội dung của niệm hoàn toàn tùy thuộc vào những thông tin “nổi trội” trong ADN. Ví như có một bao đồ đặt trên xe đang di chuyển, trong bao có nhiều loại hạt to nhỏ khác nhau: Gạo, mè, hạt điều, quả chanh, táo…, nếu bây giờ đổ vào bao hạt mè, khi thò tay vào bốc sẽ bốc ngay hạt mè, nhưng chỉ khoảng thời gian sau nếu thò tay vào bốc thì sẽ bốc được quả táo. Cũng y như vậy, tại thời điểm niệm khởi lên nó sẽ bốc ngay thông tin nào “nổi trội” nhất trong “kho chứa”. Thí dụ như trước khi đi ngủ đặt đồng hồ báo thức và nhớ nghĩ bốn giờ sáng sẽ dậy, thông tin này được lưu vào “kho chứa” và nó sẽ nổi trội ở trên cùng. Lúc chuông báo thức bốn giờ sáng vang lên, tai tiếp xúc với thanh trần và khởi lên lộ trình tâm, niệm sẽ “tóm lấy” thông tin “nổi trội” và ý thức biết được đến giờ phải thức dậy. Nhưng cũng 10 giờ đêm nay thiết lập nội dung nhớ nghĩ như vậy cho một tuần sau, thì một tuần sau vào lúc bốn giờ sáng khi chuông báo thức vang lên: Tai tiếp xúc với tiếng, lộ trình tâm khởi lên nhưng Niệm không “nắm được” thông tin này vì nó đã bị các thông tin nổi trội khác che lấp và chìm xuống dưới, nên ý thức khởi lên nhưng không hiểu có chuyện gì xảy ra. Buổi sáng thức dậy ngồi thiền sẽ dễ dàng hơn buổi tối vì qua một đêm ngủ các thông tin trong kho chứa đã bị “nén” xuống, nên thông tin về chú tâm được thiết lập sẽ “nổi trội” và chánh niệm sẽ khởi lên dễ dàng. Sau một ngày có rất nhiều thông tin nổi trội khác và thông tin chú tâm không phải là nổi trội nhất nên chánh niệm khởi lên khó khăn hơn. Đặc biệt nếu buổi chiều có một trận cãi nhau tơi bời, giận dữ tức tối tràn bờ thì tối đó khi ngồi thiền chỉ có những nhớ nghĩ về những điều xảy ra hồi chiều là chủ yếu.

Thông tin về vô minh, ta và của ta rất “nổi trội” từ vô thủy, là nhân cho tà niệm khởi lên. Thông tin về Minh – Tứ Thánh Đế vừa được thiết lập, nếu không khéo tu tập sẽ bị chìm xuống, bị “nén” xuống nên phải thường xuyên nghe, trau dồi Tứ Thánh Đế, thường xuyên tu tập để “kích hoạt” khiến những thông tin này luôn “nổi trội” trong „kho chứa”, là nhân cho chánh niệm khởi lên dễ dàng và liên tục.

Vì vậy việc giữ giới, đặc biệt là năm giới là điều kiện tiên quyết cho chánh niệm khởi lên.Một người không giữ giới thì nhớ nghĩ (niệm) của người ấy hướng đến tìm cầu hạnh phúc lạc thú nơi trần cảnh, sẽ luôn là những thông tin nổi trội trong “kho chứa” và tà niệm luôn khởi lên, không có nhân duyên cho chánh niệm phát sinh.

Một thí dụ về tà niệm và chánh niệm: lúc 10 giờ tối trước khi đi ngủ thiết lập thông tin với nội dung: bốn giờ sáng nghe chuông báo thức thì dậy. Đến bốn giờ sáng khi chuông báo thức vang lên, lộ trình tâm khởi lên và Niệm kích hoạt, tư duy khởi lên phát sinh cái biết ý thức: Biết đã đến giờ dậy. Nhưng đa phần vẫn nấn ná ngủ nướng một lúc cho dù thời gian rất ngắn rồi mới dậy được. Trong thời gian “nhùng nhằng” như vậy khổ đã khởi lên. Đích thị đây là lộ trình Bát Tà Đạo và niệm này là Tà niệm. Nếu 10 giờ tối thiết lập thông tin với nội dung: Nghe chuông báo thức thì phải dậy ngay, nếu không dậy ngay, ngủ nướng: “Nhùng nhằng” như trước thì rất khổ. Nội dung của niệm này là Tứ Thánh Đế. Khi đồng hồ báo thức vang lên, lộ trình tâm khởi lên trong đó cái biết của ý thức mang nội dung của chánh niệm này. Lúc đó sẽ dậy ngay, không có “nhùng nhằng” và khổ sẽ không có mặt. Niệm này chính là Chánh niệm.

Nếu ai thực hành chánh niệm này trong một tuần liên tục thì sẽ kinh nghiệm được sự chấm dứt khổ hoàn toàn do ngủ nướng. Đây chính là lời dạy của Đức Thế Tôn:

“Trước khi đi ngủ phải hướng niệm đến lúc ngồi dậy”. Chỉ cần tu tập chánh niệm (nhớ nghĩ chú tâm các cảm giác đang xảy ra) thì sẽ có chánh tinh tấn, chánh định, chánh tư duy, tỉnh giác, chánh kiến, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng khởi lên theo định luật duyên khởi.

Nếu không có chánh niệm thì Bát Chánh Đạo không khởi lên. Dù biết rằng phải chú tâm liên tục nhưng nếu nhớ nghĩ chú tâm (chánh niệm) không khởi lên thì chú tâm không thể xảy ra. Cho dù biết nói lời từ ái trước mặt và sau lưng người khác là hành vi tốt nhưng chánh niệm (nhớ nghĩ đến việc nói lời từ ái) không khởi lên thì không thể nói lời từ ái được.

Sự tu tập chánh niệm không phải chỉ với cảm giác hơi thở vô, ra hoặc cảm giác phồng xẹp ở bụng, mà phải thực hành với sáu loại cảm giác đang liên tục xảy ra. Sự tu tập là để hình thành một thói quen mới (Bát Chánh Đạo) và loại bỏ thói quen cũ (Bát Tà Đạo). Thói quen Bát Tà Đạo như một đường rãnh khắc sâu lên đá, mỗi lộ trình Bát Chánh Đạo khởi lên làm mài mòn từng chút một vết khắc Bát Tà Đạo và hình thành một vết khắc mới Bát Chánh Đạo.

Có thể diễn tả lộ trình Bát Tà Đạo và Bát Chánh Đạo trong sơ đồ sau:


2. LỘ TRÌNH TU TẬP

Sự thực hành Bát Chánh Đạo (siêu thế) là sự thực hành chánh niệm, và do có chánh niệm (nhớ nghĩ chú tâm) mà hành vi chú tâm (chánh định) xảy ra, do vậy cũng có thể xem thực hành Bát Chánh Đạo là thực hành chánh định nghĩa là sự thực hành chú tâm liên tục đối với những cảm giác đang xảy ra.

a. Tọa thiền: Là sự thực hành quan trọng nhất, việc tọa thiền sẽ hình thành thói quen chú tâm được nhanh và hoàn chỉnh, từ đó có thể phát triển thói quen chú tâm này khi đi, đứng, khi làm việc nghĩa là phát triển thói quen chú tâm trong toàn bộ đời sống. Khi tọa thiền hành giả có thể nhắm mắt và các cảm giác cần phải chú tâm bao gồm cảm giác trên thân (hơi thở vô, ra), cảm giác âm thanh, cảm giác pháp trần (ý tiếp xúc với pháp). Hành giả chỉ cần chú tâm những cảm giác đang xảy ra trên thân, đan xen với các cảm giác trước mặt (tưởng thứ 6), đan xen với hơi thở, và cảm giác âm thanh cũng được chú tâm đan xen như thế. Chú tâm liên tục xảy ra có nghĩa chánh niệm liên tục phát sinh nên Bát Chánh Đạo liên tục khởi lên và Bát Tà Đạo bị nhiếp phục.

- Về phương diện Định: Nhờ phát triển chú tâm liên tục như vậy, hành giả sẽ kinh nghiệm được, tự thấy, tự biết các bậc thiền từ sơ thiền đến tứ thiền, như Đức Phật đã khẳng định “… một cách không khó khăn, một cách không phí sức, một cách không mệt nhọc”, hành giả sẽ kinh nghiệm, tự thấy tự biết được trạng thái hiện tại lạc trú của các bậc thiền này.

- Về phương diện Trí tuệ: Do chú tâm liên tục làm chấm dứt lộ trình Bát Tà Đạo nên không tìm hiểu, phán đoán, đánh giá những gì đang xảy ra, hành giả kinh nghiệm cái biết như thật, cái biết trực tiếp tỉnh giác và cái biết ý thức chánh kiến, kinh nghiệm được những gì được thấy, được biết: Không yêu thích, không chán ghét, độc lập không ràng buộc, giải thoát không hệ lụy. Chúng đến rồi đi, sinh rồi diệt, hành giả kinh nghiệm được sự bình thản, sự vắng mặt khổ. Ngoài ra kinh nghiệm được trạng thái hiện tại lạc trú, là thánh lạc, là chánh giác lạc, là an tịnh lạc. Lạc này tương phản hoàn toàn với lạc thú thế gian là phàm phu lạc, ô uế lạc, bất tịnh lạc. Sự buông xả “niềm vui, hạnh phúc, lạc thú ở đời, vui ít, khổ nhiều, não nhiều mà nguy hiểm càng nhiều hơn” xảy ra một cách tự nhiên không cần phải dụng công.

b. Sự thực hành khi tọa thiền phải là cuộc sống thực, thực hành với tất cả những gì đang xảy ra chứ không phải chỉ buộc tâm nơi một đối tượng hơi thở vô, hơi thở ra, rồi tìm hiểu nó (đó cũng chỉ là thay đổi đối tượng, hoàn cảnh). Thực hành như vậy nên phát triển ra cuộc sống rất dễ dàng, cùng một cách thức chú tâm ấy khi đi, đứng, làm việc, ăn uống v.v… sự thực hành liên tục làm cho hành giả luôn có chánh niệm và thiện xảo trong Chỉ và Quán ở mọi lãnh vực. Hành giả sẽ kinh nghiệm được sự vắng mặt khổ và cuộc sống của vị đó sẽ thay đổi. Tuy nhiên, sự tu tập không thể nào toàn triệt, một số thời gian trong ngày tâm Bát Tà Đạo vẫn khởi lên vì nhân của tà niệm là lượng thông tin vô minh, ta và của ta vẫn tồn tại trong ADN. Sự vắng mặt của khổ chỉ xảy ra khi Bát Chánh Đạo có mặt, điều này gọi là khổ được nhiếp phục chứ không phải là khổ đoạn diệt hay khổ diệt, niết bàn được.

c. Đột chuyển: Sự đoạn tận khổ đau - quả vị A la hán Dù là người tại gia hay xuất gia, việc tu tập Bát Chánh Đạo phải thiện xảo trong từng lãnh vực riêng biệt: tọa thiền, đi kinh hành, thiền nằm, tắm giặt, ăn uống v.v… thỉnh thoảng nên tham gia khóa tu 10 ngày tích cực, tịnh khẩu hoàn toàn trong khóa thiền, không liên hệ với bất kỳ ai, mỗi ngày hành thiền 10 tiếng đan xen với các tư thế khác nhau. Mục đích của khóa tu tích cực này là để tâm Bát Chánh Đạo khởi lên liên tục từ lúc thức dậy đến khi đi ngủ. Nếu tâm Bát Chánh Đạo này liên tục nối liền trong bảy ngày thì có thể xảy ra sự “đột chuyển”. Khi điều này xảy ra thì ai cũng tự thấy, tự biết một cảm giác khác lạ chưa từng có và thông tin về cảm giác này chưa bao giờ có mặt trong ADN. Đó là sự xóa bỏ hoàn toàn những thông tin vô minh, ta và của ta trong ADN. Sự đột chuyển này đoạn diệt hoàn toàn nguyên nhân phát sinh tà niệm và lộ trình Bát Tà Đạo. Đó là sự diệt tận khổ, không còn tái sinh, Minh được thiết lập vững chắc và từ đây trở đi lộ trình tâm hoàn toàn là Bát Chánh Đạo.

Đây chính là đích đến cuối cùng, quả vị A la hán. Khi xảy ra lộ trình tâm Bát Chánh Đạo do nội xúc này khởi lên, chánh tư duy sẽ phát sinh chánh kiến: Đây là Niết Bàn, sự đoạn tận khổ đau. Cảm giác này chỉ tồn tại trong vài ba phút vì thân thể sẽ thay đổi và cảm giác khác khởi lên, tuy vậy tâm vị ấy đã thay đổi tận gốc rễ, mọi toan tính, dự định, trách nhiệm, lo lắng v.v… tự nhiên rơi rụng và tự thấy tự biết rõ một cách minh bạch không một chút băn khoăn do dự: Những việc cần làm đã làm, không còn việc gì phải làm nữa. Tuy thấy như vậy, biết như vậy, nhưng hoàn toàn bình thản, hoàn toàn tĩnh lặng, không hề có một “xúc động” nào.

Đây chính là chánh trí mà Đức Phật thường nói đến trong kinh điển: “Vị ấy biết sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, những việc cần làm đã làm xong, không còn trở lại trạng thái này nữa”.

d. Cơ hội cuối cùng

Sự tu tập Bát Chánh Đạo là thiết thực hiện tại, kinh nghiệm khổ diệt của hữu học đạo, thay đổi cuộc đời, giảm thiểu được khổ đau và cuối cùng đạt được mục đích: Chánh trí trong hiện tại. Nếu mục đích này chưa được hoàn thành (vô minh, ta, của ta chưa được xóa bỏ trong ADN) thì còn một cơ hội cuối cùng là trong tiến trình chết, tại đây có thể chấm dứt được tái sinh.

Đối với những người đã thấy Tứ Thánh Đế phải chấm dứt được ý nghĩ sẽ còn tái sinh vào đời sau.Ý nghĩ tái sinh cho dù đời sau tốt đẹp, cao quý đến mấy đi nữa cũng phải được chặt đứt tận gốc rễ, chẻ ra, phơi khô, đem đốt và rải tro đó xuống sông. Phải thiện xảo trong hành thiền ngay cả tư thế nằm, đặc biệt chỉ có thể tu tập thành công tư thế nằm khi thiền tọa đạt được nhị thiền trở lên. Thiền nằm thiết thực trong lúc bệnh tật, nhất là bệnh nan y phải nằm một chỗ lâu dài.

Với thấy biết như vậy, tu tập như vậy, hành giả sẽ không còn sợ chết mà đón chờ nó như cơ hội cuối cùng để chấm dứt luân hồi sinh tử. Khi cái chết đến, hấp hối sẽ xảy ra theo hai giai đoạn, giai đoạn đầu vẫn còn cảm giác trên thân nên việc hành thiền sẽ khó khăn hơn giai đoạn sau, giai đoạn thứ hai là không còn cảm giác trên thân (các căn đã ngừng hoạt động), chỉ còn lại tế bào não đang hoạt động và như vậy chỉ còn duy nhất là Tưởng thứ sáu, lúc này sẽ có vô số hình ảnh đủ loại xấu, đẹp, kinh sợ, hoan hỷ v.v… rõ rệt hay mơ hồ đều xuất hiện.

Nếu một người không có tu tập sẽ khiếp đảm, kinh sợ và sẽ rơi vào những tái sinh bất hạnh, đối với người đã chuẩn bị, đã thiện xảo thì sự thực hành xảy ra dễ dàng, với sự thực hành thuần thục; với trí tuệ, thấy chỉ là thấy, nghe chỉ là nghe, không tìm cầu, phán đoán, đánh giá, nếu thái độ bình thản này được duy trì đến hơi thở ra cuối cùng, không có tham, sân, si thì tại thời điểm tế bào não chết không có nhân để phát sinh thức tái sinh, điều này có nghĩa là quả vị A la hán và nhập diệt đồng thời xảy ra.

Nếu không thực hành toàn triệt được như vậy, một ít dao động có thể khởi lên thì với thấy biết như vậy, với tu tập như vậy sẽ xảy ra tái sinh ngay lập tức thành một vị thiên và có thể giác ngộ tại đó, không phải là thức tái sinh phải chịu khoảng thời gian trung gian trước khi vào thai với nỗi khổ không thể mô tả được.

e. Kết luận

Đây là Tứ Thánh Đế được trình bày theo duyên khởi với hai lộ trình.

- Bát Tà Đạo có thể tóm tắt: Xúc - Thọ - Ái - Thủ - Hữu. Đây là lộ trình tâm của phàm phu.

- Bát Chánh Đạo có thể tóm tắt: Xúc - Thọ - Không - Vô tướng - Vô tác. Đây là lộ trình tâm bậc Thánh.

Trong lộ trình này Chánh niệm phải do nghiêm trì giới luật mới khởi lên (giới là nhân khởi lên chánh niệm). Do có chánh niệm mà có chánh định, do có chánh định mà có chánh kiến, vì vậy lộ trình Bát Chánh Đạo là lộ trình giới, định, tuệ.

Sự thật này nói lên tất cả chỉ là Danh và Sắc hay sắc, thọ, tưởng, hành và thức đang sinh diệt theo định luật duyên khởi. Không có một thế giới nào là thế giới tinh thần, thế giới tâm linh thuần túy, không có thế giới linh hồn. Kể cả Đức Phật và các vị A la hán nhập diệt, danh sắc ấy diệt tận không đi về đâu cả, không có một thế giới tâm linh thuần túy hay một tâm tuyệt đối nào để nhập vào. Chư Thiên hay ngạ quỷ cũng không phải là thế giới thuần túy tinh thần, thuần túy tâm linh mà chỉ là danh và sắc đang sinh diệt theo định luật duyên khởi, duy chỉ là sắc ấy là thứ vật chất đặc biệt mà khoa học chưa thể khám phá, chưa có phương tiện để cảm nhận mà thôi.

Đức Phật đã khẳng định: “Ngoài sắc, thọ, tưởng, hành, thức (danh và sắc) có thể chỉ ra một thức khác đến, đi, tăng trưởng, tăng thịnh - sự kiện ấy không thể xảy ra.”

(Không có một cái “Tâm” nào khác).

Giảng sư

Kết nối

Tổng số truy cập
Thông tin: 22.801
Pháp Âm: 28.322
Đang truy cập
Hôm qua: 13300
Tổng truy cập: 5.327.039
Số người đang online: 592
hosting gia re , web gia re tron goi , thiet ke web tron goi tai ho chi minh, binh duong, vung tau, ha noi, ca nuoc , thiet ke web tron goi gia re