chuabuuchau.com.vn,chuabuuchau, chua buu chau, chùa bửu châu, chua buu chau cu chi

Chương 9. Phương pháp tu tập

I. TỌA THIỀN

1. Tư thế: Có thể ngồi theo các tư thế khác nhau, nhưng tốt nhất vẫn là ngồi kiết già hay bán già. Đặc biệt khi tu tập tương đối tốt, nên chuyển sang luyện tập ngồi kiết già, nên ngồi trên một tấm lót hay tấm đệm phẳng, cố gắng ngay từ đầu không ngồi trên tọa cụ (ngồi kê đệm ở phần mông), việc ngồi kê đệm hay tọa cụ trên phần mông có thể dễ thẳng lưng nhưng rất dễ đưa đến hôn trầm và đặc biệt dễ bị tê chân, vì các mạch máu chỗ phân cách của đệm bị chèn ép. Lưng và cổ điều chỉnh cho thẳng, đầu không cúi xuống cũng không ngẩng lên, hai tay có thể gài chặt hoặc bàn tay phải đặt lên bàn tay trái, hai ngón cái chạm nhau, đặc biệt lưỡi chạm lên vòm họng trên, có thể ngậm một nút áo hoặc vật gì tương tự rồi đặt đầu lưỡi luôn tiếp xúc với vật đó, mắt có thể nhắm hoặc mở tùy ý.

2. Thực hành chú tâm: Thực hành thiền ở đây không với mục đích buộc tâm vào một đối tượng, mà là thực hành chánh niệm (nhớ nghĩ, chú tâm) với mục tiêu thay đổi lộ trình tâm từ Bát Tà Đạo sang Bát Chánh Đạo, do đó sự chú tâm phải thực hành với tất cả đối tượng, tức mọi cảm giác: Cảm giác hình ảnh, âm thanh, mùi, vị, xúc chạm, cảm giác pháp trần. Để dễ thực hành, thiền giả có thể nhắm mắt, cảm giác chủ yếu phát sinh trong tọa thiền bao gồm: Cảm giác xúc chạm trên thân cả nội và ngoại xúc, cảm giác hơi thở vô ra, cảm giác nóng lạnh, đau nhức, sự chuyển động của cơ thể, cảm giác bên trong cơ thể, cảm giác xúc chạm giữa lưỡi và răng, cảm giác âm thanh, pháp trần (gồm các hình ảnh hiện ra trước mặt, các tư tưởng - đây là tưởng thứ sáu), các cảm giác như mùi, vị rất ít gần như không có, khi nhắm mắt cảm giác hình ảnh không có mặt.

Chủ yếu ba cảm giác này đang sinh diệt đan xen với nhau liên tiếp theo thứ tự thời gian. Để thực hành được sự chú tâm liên tục theo thứ tự sinh khởi của cảm giác, có hai cách:

+ Chú tâm các cảm giác theo bốn giai đoạn của hơi thở, lưu ý là “chú tâm các cảm giác theo bốn giai đoạn của hơi thở” chứ không phải chú tâm vào hơi thở theo bốn giai đoạn. Hơi thở có bốn giai đoạn: Hơi thở vô - ngưng (ngắn) - thở ra - ngưng (dài hơn), nghĩa là thở vô và ngưng lại một khoảng thời gian ngắn trước khi thở ra - thở ra và ngưng lại một khoảng thời gian dài hơn. Đây là kiểu hơi thở tự nhiên, tuyệt đối không can thiệp, không điều khiển. Đa số những người thực hành chú tâm vào hơi thở ra vào do can thiệp, do điều khiển nên không kinh nghiệm được hai khoảng nghỉ này, chỉ có thở vô – thở ra nên rất căng thẳng và mệt nhọc.

Nên bắt đầu chú tâm cảm giác trên thân, nghĩa là khi hướng tâm đến thân thì chú tâm vào cảm giác đang xảy ra trên thân, có thể là một cảm giác, hoặc cảm giác đó di chuyển, có thể không phải duy nhất cảm giác đó mà cảm giác đó diệt thì chú tâm vào cảm giác mới phát sinh. Khi đang chú tâm vào một hoặc các cảm giác trên thân thì cảm giác hơi thở vô khởi lên, lúc đó lại chú tâm vào cảm giác hơi thở vô đó. Cảm giác hơi thở vô có thể xảy ra nơi mũi hoặc nơi bụng, nơi ngực tùy từng lúc khác nhau, nó sinh khởi ở đâu thì chú tâm sẽ tự ứng nơi đó, không cần điều chỉnh hay lựa chọn. Hết cảm giác hơi thở vô sẽ xuất hiện cảm giác căng nơi ngực hay bụng hoặc một chỗ nào đó, thì sự chú tâm cũng xảy ra tự ứng với cảm giác đó.Đang chú tâm cảm giác đó trên thân thì cảm giác hơi thở ra khởi lên thì chú tâm vào cảm giác hơi thở ra.

Cảm giác hơi thở ra cũng tùy lúc, tùy nơi xảy ra nơi ngực, bụng, mũi v.v… khi hết hơi thở ra lại tiếp tục chú tâm những hiện tượng trên thân.

Trong bài kinh nhập tức xuất tức niệm, Đức Phật đã hướng dẫn: “Cảm giác toàn thân, tôi “sẽ” thở vô, vị ấy tập”, “Cảm giác toàn thân tôi sẽ thở ra, vị ấy tập”, tập ở đây là tập chú tâm chứ không phải tập thở ra, thở vô.

Thứ tự của bốn giai đoạn hơi thở cũng đã được chỉ rõ trong hai câu này.

Khi thực hành chú tâm các cảm giác trên thân liên tục theo bốn giai đoạn hơi thở, nếu có cảm giác âm thanh hoặc pháp trần (những tư tưởng, hình ảnh v.v…) đan xen vào thì sự chú tâm cũng xảy ra và tự ứng với những cảm giác âm thanh và hình ảnh đó.

Chánh niệm được thiết lập ở đây là nhớ nghĩ chú tâm liên tục các cảm giác theo bốn giai đoạn của hơi thở theo thứ tự: cảm giác trên thân - cảm giác hơi thở vô - cảm giác trên thân - cảm giác hơi thở ra - cảm giác trên thân, v.v… Trước khi thực hành chú tâm phải nhớ nghĩ lộ trình chú tâm, và nhớ nghĩ này được cài đặt vào phần nổi trội của “kho chứa”. Đức Phật mô tả việc này là “ngồi kiết già lưng thẳng và đặt niệm trước mặt”.

Hành giả lưu ý cảm giác hơi thở vô, cảm giác hơi thở ra cũng là cảm giác trên thân, nó có thể tùy lúc tùy nơi xuất hiện ở những bộ phận khác nhau trên cơ thể. Cảm giác hơi thở ra, vô không khác với những cảm giác khác trên thân, chỉ có tính chất khác là hơi thở vô ra đều đặn khởi lên theo thời gian. Vì tính chất đặc biệt này nên có thể sử dụng nó để biết là có chánh niệm liên tục hay không.

Nếu trong mười phút, hai mươi phút, nửa tiếng mà hành giả không quên cảm giác hơi thở vô, ra thì trong khoảng thời gian đó có chánh niệm liên tục và lộ trình Bát Chánh Đạo liên tục với mọi cảm giác. Nếu hành giả quên cảm giác hơi thở vô, ra trong khoảng thời gian nào đó, tâm không có chánh niệm và đương nhiên tà niệm khởi lên và lộ trình tâm là Bát Tà Đạo, lúc này tâm bị cuốn hút (tà định) vào một tư tưởng quá khứ hoặc tương lai.

3. Về Định

* Thiền thứ nhất (Sơ Thiền): Nếu thực hành chú tâm liên tục các cảm giác đang xảy ra theo bốn giai đoạn hơi thở trong khoảng 5, 10 phút hay hơn mà không quên hơi thở vô, ra; hành giả sẽ kinh nghiệm, tự thấy, tự biết được.

- Trong thời gian an trú như vậy, không có suy nghĩ, tìm kiếm, không mong muốn hưởng thụ bất cứ niềm vui, hạnh phúc lạc thú thế gian ở đời, đây gọi là ly dục, ly bất thiện pháp.

- Sự chú tâm có hướng đến đối tượng, lúc đầu là các cảm giác trên thân, rồi hướng đến chú tâm cảm giác hơi thở vô ra, tiếp tục theo thứ tự như vậy gọi là chú tâm có tầm có tứ.

Trong thời gian an trú như vậy có cái vui nhẹ thỉnh thoảng khởi lên hoặc thân thể trở nên nhẹ nhàng, đây gọi là Hỷ.

Trong lúc an trú như vậy xuất hiện cảm giác dễ chịu, thoải mái trên thân, sự đau nhức ở chân không còn nhiều mà tương đối dễ chịu đựng hơn, cảm giác dễ chịu này gọi là lạc. Với sự an trú này hành giả kinh nghiệm được ở đây có: ly dục, ly bất thiện pháp, chú tâm có tầm, có tứ, hỷ và lạc, đây gọi là chứng và trú sơ thiền mà Đức Phật đã mô tả: “…Chứng và trú sơ thiền, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sinh với tầm với tứ”. Dấu hiệu cơ bản để nhận ra trạng thái sơ thiền là biết rõ bốn giai đoạn của hơi thở.

* Nhị thiền: Tiếp tục tu tập sơ thiền đến khi chánh niệm nhớ nghĩ chú tâm liên tục theo bốn giai đoạn của hơi thở đã thuần thục, sẽ đến lúc hành giả kinh nghiệm tự thấy tự biết được.

- Sự chú tâm các cảm giác trên thân theo bốn giai đoạn của hơi thở xảy ra tự động không còn hướng đến nữa, sự chú tâm tự động tự ứng với các cảm giác đang xảy ra cũng như với những cảm giác âm thanh, hình ảnh hay pháp trần, đây gọi là chú tâm không tầm không tứ xảy ra với tất cả cảm giác.

- Cảm giác hỷ mạnh lên rất nhiều và đặc biệt cảm giác lạc rất mãnh liệt gần như mọi cảm giác đau nhức khó chịu đều biến mất. Hành giả kinh nghiệm không có một cố gắng, một nỗ lực nào mà tâm vẫn ở trên Bát Chánh Đạo. Tâm không có xu hướng nào khác, không phóng đi đâu giống như bánh xe trên đường ray dính chặt không rời khỏi đường ray khi đoàn tàu chuyển bánh, không còn phân tâm, đây gọi là nội tĩnh nhất tâm. Sự an trú này gọi là thiền thứ hai, hành giả kinh nghiệm được tất cả sự chú tâm là không tầm, không tứ, hỷ lạc mạnh do định sanh, nội tĩnh nhất tâm. Đức Phật đã mô tả “…Chứng và trú thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm, không tứ, nội tĩnh nhất tâm”. Ở bậc thiền này vẫn biết rõ bốn giai đoạn của hơi thở, tuy nhiên cảm giác hơi thở vẫn còn thô.

* Tam thiền: Tiếp tục tăng cường mức độ chú tâm, hành giả vẫn thấy rõ bốn giai đoạn hơi thở nhưng cảm giác hơi thở vô, ra nhẹ và ngắn đi, khoảng nghỉ giữa hơi thở vô, ra kéo dài hơn, cảm giác hỷ không còn, cảm giác dễ chịu (lạc) vẫn còn trên thân, trạng thái tâm hoàn toàn bình thản không vui không buồn, trạng thái này gọi là xả.

Sự an trú thiền thứ ba này được Đức Phật mô tả: “Ly hỷ, trú xả, thân cảm lạc thọ mà bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú chứng và trú thiền thứ ba.”

* Tứ thiền: Tăng cường mức độ chú tâm lên nữa, hành giả sẽ đạt đến lúc không còn có bốn giai đoạn hơi thở, sẽ thấy không còn cảm giác hơi thở vô, ra ở đâu (mũi, ngực hay bụng v.v…), trên thân vẫn còn cảm giác nhưng rất nhẹ (vi tế) có các cảm giác chuyển động trong cơ thể, trước mặt các tưởng thứ sáu vẫn xuất hiện, những cảm giác trên thân không khó chịu cũng không dễ chịu (trung tính - xả lạc, xả khổ), hoàn toàn vắng mặt hỷ, ưu, hoàn toàn vắng lặng, thanh tịnh.

Đức Phật đã mô tả trạng thái tứ thiền như sau: “Xả lạc, xả khổ, diệt trừ hỷ, ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú thiền thứ tư, không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh (tâm được thanh tịnh nhờ xả)”.

Bốn bậc thiền này được phát triển tuần tự nhờ sự chú tâm những cảm giác xảy ra liên tục theo bốn giai đoạn hơi thở.Hành giả kinh nghiệm tuần tự được bốn bậc thiền chỉ nhờ cách chú tâm như vậy mà thôi. Giống như người mới tập đi xe đạp, lúc đầu họ rất căng thẳng phải cố sức giữ thăng bằng, giai đoạn này ví như sơ thiền.

Đến lúc thành thạo khi ngồi trên xe họ không cần để ý, không cần nỗ lực mà thân họ tự thăng bằng, đây ví như nhị thiền. Đến khi họ thành thạo trên mọi địa hình, lên xuống, gồ ghề v.v… họ vẫn tự động giữ thăng bằng, đây ví như thiền thứ ba. Đến lúc họ có thể buông hai tay mà vẫn chạy xe được, đây ví như thiền thứ tư.

4. Về trí tuệ: Khi an trú từ sơ thiền đến tứ thiền, hành giả sẽ tự thấy, tự biết được:

- Sự chấm dứt lộ trình Bát Tà Đạo, chấm dứt lộ trình tìm hiểu, phán đoán, đánh giá đối tượng. Chấm dứt cái biết ý thức nhị nguyên biểu hiện là chỉ biết bên ngoài không biết những gì xảy ra trên thân (cảm thọ). Người xưa gọi cái biết nhị nguyên này là quên mình theo vật.

- Hành giả kinh nghiệm được cái biết mới xảy ra trên lộ trình Bát Chánh Đạo: Biết tất cả đối tượng (cảm giác) đang xảy ra bên ngoài (âm thanh, hình ảnh) và cảm giác trên thân đan xen liên tục với nhau và sinh diệt nhanh chóng, nhưng biết mà không quan tâm (không để ý).

- Đa phần cái biết như thật này là cái biết trực tiếp, cái biết tỉnh giác, kinh nghiệm được câu nói: cái thấy chỉ là cái thấy, cái nghe chỉ là cái nghe.

- Tất cả những gì được thấy, được biết: đến rồi đi, không yêu thích, không chán ghét, độc lập không ràng buộc, giải thoát không hệ lụy, hành giả kinh nghiệm được sự vắng mặt của khổ.

- Nếu an trú một trong các bậc thiền đó và hướng đến quán sát Pháp, hành giả sẽ đạt được cái biết như thật, cái biết chánh kiến, cái biết trí tuệ hay tuệ tri. Tuệ tri duyên khởi, tuệ tri xúc, tuệ tri thọ, tuệ tri vô thường, tuệ tri vô ngã, tuệ tri vô minh, tuệ tri Tứ Thánh Đế.

5. Chỉ và quán: Phương pháp thiền này không phải chỉ quán riêng biệt mà là chỉ quán song hành.

a. Chỉ là nói về định; các mức độ từ sơ thiền đến tứ thiền, chỉ cũng là sự tịnh chỉ lộ trình sinh diệt Bát Tà Đạo cũng là sự tịnh chỉ các hành thuộc về vô minh: Tà niệm, tà tư duy, tham sân si, tà định, dục, tà tinh tấn, không như thật tác ý, tà ngữ, tà nghiệp, tà mạng.

b. Quán là nói tắt của từ quán sát, là một từ được các học giả Trung Hoa phiên dịch kinh từ Ấn Độ sang tiếng Trung Quốc đặt ra. Trong từ ngữ ở thời đó có từ quan sát, từ này chỉ cho cái biết nhị nguyên có chủ thể quan sát và đối tượng được quan sát hay ám chỉ lộ trình tâm Bát Tà Đạo. Trong khi đó cái biết trên lộ trình Bát Chánh Đạo không còn là cái biết nhị nguyên, cái biết vô minh nữa mà là cái biết như thật. Để phân biệt cái biết phát sinh trên lộ trình Bát Chánh Đạo nên đặt ra từ quán sát, gọi tắt là quán.

Như vậy, quán hay quán sát là lộ trình Bát Chánh Đạo và cái biết trên lộ trình này bao gồm: tỉnh giác và chánh kiến. Bốn bậc thiền này có đủ hai phương diện chỉ và quán song hành. Thiền chỉ thuần túy là: Không vô biên xứ, Thức vô biên xứ, Vô sở hữu xứ và Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Không có thiền quán thuần túy nào mà không có thiền chỉ, vì không thể có quán nếu không có Bát Chánh Đạo và Bát Chánh Đạo không thể có nếu không có chánh định (chú tâm). Kể cả lúc quán pháp cũng vẫn ở trong một bậc thiền nào đó trong bốn bậc thiền mới có thể có chánh tư duy và do có chánh tư duy mới phát sinh chánh kiến là cái biết như thật của ý thức. Nếu hiểu quán là tư duy tìm hiểu thì khi tư duy tìm hiểu như vậy không ở trên lộ trình Bát Chánh Đạo thì đó là tà tư duy, chỉ đưa đến cái biết ý thức nhị nguyên là vô minh mà thôi.

Trong Kinh điển Nikāya có ba bài kinh trong Trung Bộ (Majjhima Nikāya) Đức Phật đã dạy cách thức hành thiền đó là các bài: Tứ Niệm Xứ, Nhập tức, Xuất tức Niệm (niệm hơi thở vô, hơi thở ra) và Thân Hành Niệm.

Tuy các bài kinh trước Đức Phật có dạy quán thân, thọ, tâm, pháp, nhưng đến bài kinh Thân Hành Niệm Đức Phật chỉ dạy có thân hành niệm. Trong bài kinh này có một câu cần phải ghi nhớ: “Nhờ thực hành thân hành niệm mà các niệm và tư duy thế tục được đoạn trừ. Do các niệm và tư duy thế tục được đoạn trừ, tâm được an trú, an tọa, chuyên nhất, định tĩnh.” Đức Phật cũng chỉ rõ: “Kẻ phàm phu không an trú niệm trên thân, còn bậc Thánh thì an trú niệm trên thân.” An trú niệm trên thân cũng là thân hành niệm, có nghĩa là nhớ nghĩ (niệm) chú tâm các cảm giác trên thân. Thực tế khi tu tập chỉ cần nhớ nghĩ chú tâm những cảm giác trên thân thì tất cả những gì đang xảy ra (các cảm giác) đều được chú tâm, đều đạt đến các tầng thiền.

6. Cách chú tâm thứ hai rất đơn giản và dễ thực hành, đó là lấy một hòn sỏi mỏng hoặc môt cúc áo, đặt cúc áo lên trên đầu lưỡi rồi đè lên vòm họng hoặc răng cửa cắn nhẹ vào cúc áo và để đầu lưỡi tiếp xúc cúc áo (nếu sợ nuốt vào, có thể xâu chỉ để không sợ nuốt).

Nhắc thầm: “Chú tâm cảm giác cả toàn thân, chú tâm cảm giác cả toàn thân.”

- Khởi đầu chú tâm vào cảm giác nơi lưỡi nhưng không “bám” vào cảm giác đó.

- Để tâm hoàn toàn tự do, không hướng đến bất kỳ cái gì, không làm gì cả để trải nghiệm lộ trình tâm Bát Chánh Đạo.

Với cách này hành giả sẽ kinh nghiệm được sự chú tâm liên tục tự ứng với những cảm giác đang xảy ra đan xen với nhau, đan xen với cảm giác “nổi trội” nơi đầu lưỡi.

Đây là chú tâm không tầm, không tứ một cách toàn triệt nhất. Đặc biệt tuyệt đối không hướng đến cảm giác hơi thở vô, hơi thở ra nên rất thoải mái, không căng thẳng.

Sự căng thẳng này thỉnh thoảng vẫn khởi lên khi chú tâm có tầm có tứ. Nếu có tư tưởng về quá khứ hay tương lai khởi lên đan xen với cảm giác trên thân, cảm giác nơi lưỡi thì lộ trình tâm của các tư tưởng đó vẫn là Bát Chánh Đạo. Nếu tư tưởng khởi lên và bị cuốn hút vào đó thì sẽ quên cảm giác nơi lưỡi, trong thời gian “quên” đó thì lộ trình tâm là Bát Tà Đạo. Phải khôi phục chánh niệm (nhớ nghĩ chú tâm cảm giác nơi lưỡi) để khởi lên lộ trình Bát Chánh Đạo.Về định và trí tuệ hành giả cũng kinh nghiệm được như cách thứ nhất.

II. THỰC HÀNH TRONG CUỘC SỐNG

Lấy việc tọa thiền làm nền tảng để phát triển sự chú tâm liên tục trong cuộc sống hàng ngày, mọi thời gian trong ngày đều phải thực hành chú tâm liên tục vào mọi đối tượng (cảm giác) thì thói quen “Bát Chánh Đạo” mới hình thành, phát triển và có thể áp đảo thói quen “Bát Tà Đạo”, như vậy mới có cuộc sống an lạc (an ổn và hiện tại lạc trú).

1. Thiền hành (thực hành khi đi): Là thực hành rất quan trọng vì khoảng thời gian đi trong ngày cũng chiếm tỉ lệ không nhỏ, nếu chánh niệm được, chú tâm (định) được với mọi bước chân thì đã có bước tiến rất xa trong lộ trình tu tập. Khi bước đi cho dù với mục đích di chuyển từ chỗ này đến chỗ kia hay di chuyển trong lúc làm việc thì cũng chú tâm như khi ngồi thiền, nghĩa là chú ý các cảm giác trên thân bao gồm: cảm giác chuyển động của chân phải, chân trái, cảm giác tiếp đất của bước chân đan xen với cảm giác chuyển động của phần thân trên. Cần phải chú tâm các cảm giác trên toàn bộ thân thể xảy ra đan xen với nhau chứ không phải chỉ chú tâm (dán chặt) vào bước chân. Nhờ chú tâm liên tục các cảm giác trên toàn thân mà cảm giác hình ảnh (đường đi), cảm giác âm thanh, chú tâm cũng xảy ra và tự ứng. Trong khi đi, các cảm giác chuyển động trên thân rất “nổi trội”, rất mạnh nên cảm giác hơi thở vô, ra gần như không có. Lúc này tuy hơi thở vẫn tiếp xúc với mũi nhưng cảm giác hơi thở và thân thức không có mặt (ở đây vẫn có sự tiếp xúc nhưng không gọi là Xúc vì thân thức không khởi lên).

Lúc thiền hành không có cảm giác hơi thở vô, ra liên tục khởi lên nên không có tiêu chuẩn để biết trong thời gian đó có chánh niệm, có chánh định liên tục hay không.

Lúc này phải lấy cảm giác tiếp đất của chân phải, chân trái đang đều đặn xảy ra làm tiêu chuẩn.

2. Mọi hành vi khác như tắm, giặt, đại tiểu tiện, ăn uống, sinh hoạt v.v… cũng phải thực hành như vậy, nghĩa là thân hành niệm - nhớ nghĩ chú tâm các cảm giác trên thân thì mọi cảm giác khác đều được chú tâm và lộ trình tâm lúc đó là Bát Chánh Đạo.

3. Khi tọa thiền nếu dùng hòn sỏi hoặc cúc áo để tạo cảm giác nổi trội nơi lưỡi (nếu ai đã quen có thể chỉ cần đặt lưỡi lên vòm họng và chú tâm vào cảm giác xúc chạm giữa lưỡi với răng hay vòm họng), chỉ cần duy trì chú tâm cảm giác nơi lưỡi, không làm gì cả thì chú tâm sẽ tự ứng với tất cả cảm giác xảy ra. Thực hành như vậy thiền định sẽ xảy ra rất dễ dàng. Do vậy, trong cuộc sống hàng ngày với hòn sỏi hoặc nút áo nơi lưỡi và chỉ cần duy trì chú tâm liên tục nơi lưỡi sẽ tự ứng với mọi đối tượng xuất hiện. Đây là một thực hành rất đơn giản và hiệu quả, thói quen chú tâm sẽ được hình thành và phát triển trong mọi lúc, mọi nơi và mọi thời gian trong ngày.

Khi đã thuần thục thực hành với nút áo, có thể bỏ nó ra và lúc nào thói quen cũng chú tâm nơi lưỡi.

Giảng sư

Kết nối

Tổng số truy cập
Thông tin: 22.801
Pháp Âm: 28.322
Đang truy cập
Hôm qua: 13300
Tổng truy cập: 5.326.567
Số người đang online: 626
hosting gia re , web gia re tron goi , thiet ke web tron goi tai ho chi minh, binh duong, vung tau, ha noi, ca nuoc , thiet ke web tron goi gia re