chuabuuchau.com.vn,chuabuuchau, chua buu chau, chùa bửu châu, chua buu chau cu chi

Kinh dụ ngôn người bắt rắn - Thứ ba mươi mốt

MỤC LỤC

Đây là những điều tôi được nghe thời Đức Phật còn du hành ở Sa-va-thi trong vườn Cấp Cô Độc, rừng cây Kỳ-đà. Lúc bấy giờ, thầy Tỳ-kheo A-ri-tha, vốn xưa là người huấn luyện chim ưng, có quan niệm sai lầm như sau: “Theo sự hiểu biết của tôi về điều Đức Phật dạy, hưởng thụ dục lạc không phải là chướng ngại cho sự tu tập.” O

Biết được như thế, nhiều vị Tỳ-kheo khuyên Tỳ-kheo A-ri-tha rằng: “Này sư huynh A-ri-tha, sư huynh đừng nói như thế, đừng bài báng và vu khống Đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn không hề nói như vậy. Bài báng và vu khống Đức Thế Tôn là không tốt. Này, sư huynh A-ri-tha, dục lạc là chướng ngại cho sự tu tập. Thế Tôn đã dùng rất nhiều ví dụ để giúp chúng ta hiểu được điều đó. Sư huynh nên từ bỏ quan niệm sai lầm ấy đi.” Tuy đã được các Tỳ-kheo chỉ bảo như thế nhưng thầy A-ri-tha vẫn không nghe, vẫn bảo thủ quan điểm của mình, vẫn một mực nói rằng điều thầy nghĩ là đúng, ngoài ra các ý kiến khác đều sai lầm. Can thiệp như vậy đến ba lần mà không có hiệu quả, các vị Tỳ-kheo mới đứng dậy bỏ đi. Họ tìm tới Đức Phật. Sau khi đảnh lễ dưới chân Người, các vị ngồi xuống một bên và bạch với Đức Phật đầu đuôi câu chuyện. O

Nghe xong, Đức Thế Tôn dạy rằng: “Các ông hãy tìm đến trú xứ của Tỳ-kheo A-ri-tha và nói với A-ri-tha rằng Như Lai gọi.” Được Đức Phật gọi, thầy A-ri-tha lập tức đến đảnh lễ và ngồi xuống bên Người. Đức Phật hỏi: “Nầy A-ri-tha, ông đã nói rằng theo cái hiểu của ông thì Như Lai không cho sự hành dục là một chướng ngại cho sự tu tập, có phải không?” O

Thầy A-ri-tha đáp:

- Bạch Thế Tôn, con hiểu như vậy.

Đức Phật quay sang hỏi các vị Tỳ-kheo:

- Các vị có từng nghe Như Lai dạy rằng hành dục không gây ra chướng ngại gì cho sự tu tập hay không?” O

- Bạch Thế Tôn, không. Chúng con không từng nghe như thế. Chúng con đều từng nghe Đức Thế Tôn dạy rằng dục lạc là chướng ngại cho sự tu tập. Thế Tôn thường dạy dục lạc là khúc xương trần, là miếng thịt sống, là bó đuốc rơm cầm ngược gió, là hố than hồng, là con rắn độc, là một giấc mộng, là của vay mượn, là cây sai trái…

- Đúng vậy, các vị tỳ-kheo. Như Lai thường thuyết pháp như thế, quý vị đã nghe đúng. Dục lạc là chướng ngại. Dục lạc là khúc xương trần, là miếng thịt sống, là bó đuốc rơm cầm ngược gió, là hố than hồng, là con rắn độc, là một giấc mộng, là của vay mượn, là cây sai trái…

Các vị đã nghe đúng. Còn ông A-ri-tha đây là người dại dột, đã hiểu lời của Như Lai một cách đảo ngược, về văn cũng như về nghĩa, và như vậy đã vu khống, bài báng Như Lai và cũng đã tự hại mình. Đây là một sự vi phạm, một sự lỗi lầm cho những bậc trí giả.” O

Nghe Đức Thế Tôn quở trách như thế, thầy A-ri-tha cúi đầu yên lặng, trong lòng lo buồn hối hận. Lúc đó, nhân việc này, Đức Phật dạy đại chúng rằng: O

- Những giáo pháp Như Lai nói, các vị phải tìm hiểu nghĩa lý một cách thật tường tận và đúng mức rồi mới nên đem ra hành trì. Nếu chưa tìm hiểu được nghĩa lý một cách tường tận và đúng mức thì trước hết hãy nên hỏi lại Như Lai hoặc hỏi lại các bậc trí giả. Tại sao? Có những người thiếu trí huệ, vì có nhận thức sai lạc về văn và nghĩa, đã hiểu ngược những điều đề cập đến trong các thể tài kinh điển như chánh kinh, ca vịnh, ký thuyết, kệ tụng, nhân duyên soạn lục, bản khởi thử thuyết, sinh xứ quảng giải, vị tằng hữu pháp và thuyết nghị. Những người ấy đã học lời dạy của ta với chủ ý tranh luận hơn thua mà không học vì mục đích tu tập giải thoát nên đã bị kẹt vào sự việc mà không tiếp nhận được chân nghĩa của kinh. Họ trải qua nhiều gian nan cực khổ mà không có lợi ích gì, rốt cùng chỉ thêm mệt mỏi. Cũng giống như người đi bắt rắn ở miền hoang dã, thấy rắn liền lấy tay chụp vào mình nó, cho nên bị rắn quay đầu lại mổ vào tay, vào chân hoặc một bộ phận nào khác của cơ thể. O

Bắt rắn như vậy thì không có ích lợi gì mà lại mang họa vào thân. Lý do là người ấy không biết thủ thuật bắt rắn. Người học kinh không thông minh cũng vậy: vì không biết cách học hỏi nên đã hiểu kinh một cách trái ngược. Những kẻ khôn ngoan sẽ biết khéo léo tiếp nhận văn kinh và nghĩa kinh, do đó không có kiến giải đảo lộn. Họ không học vì mục đích khoe khoang và tranh cãi. Họ học với mục đích tìm đường giải thoát. Vì vậy học không hề trở thành điều cực khổ và lao nhọc. Họ cũng giống như người đi bắt rắn mà biết sử dụng một khúc cây có nạng sắt: khi đến vùng hoang dã, thấy rắn lớn, họ ấn nạng ngay xuống cổ rắn và lấy tay bắt ngay đầu rắn. Rắn kia tuy có thể quẩy đuôi quấn tay, quấn chân hoặc một bộ phận khác của cơ thể người bắt rắn nhưng không thể nào mổ người ấy được. Bắt rắn như vậy không khó khăn mà cũng không nguy hiểm, chỉ vì người ấy biết rõ thủ thuật bắt rắn.

Các thiện nam, tín nữ khi học hỏi đến kinh điển, các vị phải khéo léo tiếp nhận văn và nghĩa kinh một cách không đảo lộn thì mới nắm được chánh pháp, không nên học hỏi với mục đích ba hoa tranh cãi, mà nên học hỏi với mục đích tìm cầu giải thoát. Họ không cần trải qua những cực khổ và nhọc nhằn. O

Này thiện nam, tín nữ, Như Lai đã nhiều lần nói với quý vị về dụ ngôn chiếc bè, và căn dặn quý vị phải biết buông bỏ chiếc bè một khi đã qua được bên sông. Ví dụ có một hôm nước trên núi tràn về thành dòng lớn ngập lụt và trôi dạt nhiều thứ. Có kẻ muốn qua bên kia bờ mà không có thuyền cũng không có cầu. Người ấy nghĩ: ta có việc cần phải qua bên kia, nhưng phải tìm phương thế an ổn để mà qua. Nghĩ như vậy rồi liền đi lượm cây cỏ kết lại thành một chiếc bè và dùng bè đó để vượt dòng sang bờ bên kia một cách an ổn. Qua bên kia rồi người ấy tự nghĩ: Ta mất bao nhiêu công phu và thời giờ mới kết được chiếc bè và nhờ nó mà mới qua được bên này. Vậy ta không nên bỏ nó. Bây giờ ta phải khiêng nó lên vai hoặc đội nó lên đầu mà đi.” Người ấy nói rồi làm như thế. Này các thiện nam, tín nữ! Các vị nghĩ người ấy làm như thế có ích lợi gì không?” O

- Bạch Đức Thế Tôn, không.

- Người ấy làm thế nào để chiếc bè ấy có thể tiếp tục có ích? Người ấy nên nghĩ rằng: Chiếc bè này đã giúp ta vượt dòng sông qua đây an ổn, vậy ta nên thả chiếc bè lại xuống nước hoặc để nó bên bờ, như vậy người đến sau sẽ có được cơ hội dùng nó. Này các thiện nam, tín nữ nghĩ và làm như thế thì có ích lợi không?” O

- Bạch Đức Thế Tôn, thật sự có lợi ích.

- Như Lai đã nhiều lần nói với các vị về dụ ngôn chiếc bè là vì thế. Pháp mà còn phải buông bỏ huống hồ là cái không phải pháp.

Này các thiện nam tín nữ ! Có sáu nhận thức sai lầm nên buông bỏ. O

Trước hết là sắc thân. Sắc thân dù thuộc quá khứ, vị lai hay hiện tại dù bên trong hay bên ngoài, dù vi tế hoặc thô sơ, dù đẹp hay xấu, dù xa hay gần, sắc thân ấy cũng không phải là của ta cũng không phải là thần ngã. Vị hành giả phải biết quán chiếu để thấy được sự thực về sắc thân. O

Thứ hai là cảm thọ, thứ ba là tri giác, thứ tư là tâm hành. Những pháp ấy dù thuộc quá khứ, vị lai hay hiện tại, dù bên trong hay bên ngoài, dù vi tế hoặc thô sơ, dù đẹp hay xấu, dù xa hay gần, đều không phải là của ta, không phải là ta, cũng không phải là thần ngã. O

Thứ năm là nhận thức: những gì ta thấy, nghe, hay, biết, nắm bắt, quan sát và tư niệm trong thời gian này hay thời gian khác, những thứ ấy đều không phải là của ta, đều không phải là ta, đều không phải là thần ngã. O

Sau hết là thế giới. Có kẻ quan niệm rằng: “Thế giới là thần ngã, thần ngã là thế giới, thế giới là ta, ta sẽ tồn tại không biến dịch sau khi chết, ta là cái vĩnh viễn không mòn diệt.”

Ta nên quán chiếu để thấy rằng thế giới không phải là của ta, không phải là ta, không phải là thần ngã. Quán chiếu để thấy được sự thật ấy về thế giới.” O

Nghe đến đây, một vị Tỳ-kheo đứng dậy trịch vai áo bên phải, chắp tay hướng về Phật bạch rằng:

- Bạch Thế Tôn, có thể vì lý do nội tại mà có sự hoảng sợ, lo buồn hay không?

Đức Phật dạy rằng:

- Có thể. Nếu có kẻ nhận thức và nói như sau: Cái ấy ngàn xưa vốn không có rồi trở nên có mà bây giờ tôi lại không có. Nhận thức như thế và nói như thế thì kẻ ấy có thể ưu sầu, than khóc và đấm ngực cho đến phải trở nên điên dại. Đó là sự hoảng sợ và lo buồn có lý do nội tại. O

- Bạch Đức Thế Tôn có thể vì lý do nội tại mà không có sự hoảng sợ và lo buồn hay không?

- Có thể. Nếu có kẻ không nhận thức và không nói như sau: Cái ấy ngàn xưa vốn không có bây giờ có mà tôi lại không có. Kẻ ấy sẽ không ưu sầu, than khóc và không đấm ngực cho đến phải trở nên điên dại. Đó là sự không hoảng sợ và lo buồn có lý do nội tại. O

- Bạch Thế Tôn, có thể có lý do ngoại tại đưa đến sự hoảng sợ và lo buồn hay không?

- Có thể. Giả sử có kẻ nhận thức và nói như sau: Đây là thần ngã, đây là thế giới, đây là ta, ta sẽ tồn tại mãi về sau. Rồi người ấy gặp Phật hay một người học trò của Phật có đủ thông minh trí tuệ thuyết pháp cho nghe về sự xả ly các kiến chấp về thân, về ngã, về ngã sở, về sự buông bỏ ngã mạn, triền sử và lậu hoặc, kẻ ấy có thể nghĩ rằng: “Thôi thế là hết, ta sẽ buông bỏ tất cả, ta không phải là thế giới, là ta, là thần ngã, ta sẽ không tồn tại mãi về sau, sau khi chết ta sẽ hoàn toàn đoạn diệt, không còn gì nữa để mà thương, để mà vui, để mà ghi nhớ.” Nghĩ như thế, kẻ ấy có thể ưu sầu, than khóc và đấm ngực cho đến phải trở nên điên dại. Đó là lý do ngoại tại có thể đưa đến sự hoảng sợ và lo buồn. O

- Bạch Đức Thế Tôn có thể có lý do ngoại tại đưa đến sự không hoảng sợ và lo buồn hay không?

- Có thể. Giả sử có kẻ không nhận thức và nói như sau: Đây là thần ngã, đây là thế giới, đây là ta, ta sẽ tồn tại mãi về sau. Rồi người ấy gặp Phật hay một người học trò của Phật có đủ thông minh trí tuệ thuyết pháp cho nghe về sự xả ly các kiến chấp về thân, về ngã, về ngã sở, về sự buông bỏ ngã mạn, triền sử và lậu hoặc, kẻ ấy không nghĩ rằng: “Thôi thế là hết, ta phải buông bỏ tất cả, ta không phải là thế giới, là ta, là thần ngã, ta sẽ không tồn tại mãi về sau, sau khi chết ta sẽ hoàn toàn đoạn diệt, không còn gì nữa để mà thương, để mà vui, để mà ghi nhớ.” Người ấy sẽ không ưu sầu, than khóc và đấm ngực cho đến phải trở nên điên dại. Đó là lý do ngoại tại đưa đến không hoảng sợ và lo buồn. O

Nói xong, Đức Phật nhìn đại chúng rồi hỏi rằng:

- Này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, các thiện nam, tín nữ. Các vị có nhận thức về năm uẩn và cái ta như một cái gì thường trú, không biến dịch và không hoại diệt hay không?” O

- Bạch Thế Tôn, không.

- Có một cái gì mà ta tiếp nhận và nắm bắt với sự tham ái mà lại không gây ra lo lắng, mệt nhọc than khóc, khổ đau và tuyệt vọng hay không?

- Bạch Thế Tôn, không.

- Quý vị có thấy chỗ tựa nào cho một ngã kiến mà không đem lại lo lắng, mệt nhọc, than khóc khổ đau và tuyệt vọng hay không?” O

- Bạch Thế Tôn, không.

- Hay lắm! Vì có ý niệm về “ta” cho nên có ý niệm về “của ta,” nếu không có ý niệm về “ta” thì sẽ không có ý niệm về “của ta.” Ta và của ta đều là những ý niệm không thể nắm bắt được, không thể thiết lập được. Những nhận thức sai lầm ấy nếu phát sinh trong tâm ta sẽ kết thành những triền sử. Những triền sử ấy được phát sinh từ những khái niệm không nắm bắt được mà cũng không thành lập được. Phải chăng cái đó hoàn toàn chỉ là những nhận thức sai lầm và những hậu quả nối dài của những nhận thức sai lầm ấy, như trong trường hợp A-ra-tha xưa kia làm nghề huấn luyện chim ưng. O

Nghe Đức Phật dạy, đại chúng đáp: Đúng như thế, thưa Đức Thế Tôn. Đó hoàn toàn chỉ là những nhận thức sai lầm và những hậu quả nối dài của những nhận thức sai lầm ấy, như trường hợp thầy A-ra-tha.

Đức Phật dạy: “Nếu quả sáu đối tượng sắc thọ tưởng hành thức và thế giới ấy mà không thấy có cái ta và cái của ta, vị hành giả không bị vướng vào những ràng buộc của cuộc đời. Vì không bị vướng vào cho nên không hoảng sợ, không hoảng sợ cho nên đạt được Niết-bàn. Vị ấy biết luân hồi khổ đau đã chấm dứt, đời sống phạm hạnh đã hoàn tất, điều cần làm đã làm, không còn bị sanh tử nữa, và nhận thức được thực tại. Một vị hành giả như thế đã lấp được thông hào, vượt được thông hào, phá được thành quách, mở tung đuợc lề khóa, soi được vào gương thánh trí. O

Thế nào là lấp được thông hào? Nghĩa là vị ấy đã biết hết và thấy rõ bản chất của vô minh; vô minh đã bị nhổ tận gốc rễ và phá cho tan nát nên không còn phát sinh được nữa. O

Thế nào là vượt được thông hào? Nghĩa là vị ấy đã biết hết và thấy rõ bản chất của hữu và ái; hữu và ái đã bị nhổ tận gốc rễ và phá cho tan nát nên không còn phát sinh được nữa.

Thế nào là phá tan thành quách? Nghĩa là vị ấy đã biết hết và thấy rõ bản chất của sanh tử luân hồi; sanh tử luân hồi đã bị nhổ tận gốc rễ và phá cho tan nát nên không còn phát sinh được nữa. O

Thế nào là mở tung lề khóa? Nghĩa là vị ấy đã biết hết và thấy rõ bản chất của năm thứ độn sử; năm thứ độn sử đã bị nhổ tận gốc rễ và phá cho tan nát nên không còn phát sinh được nữa. O

Thế nào là soi được vào gương thánh trí? Nghĩa là vị ấy đã biết hết và thấy rõ bản chất của ngã mạn; ngã mạn đã bị nhổ tận gốc rễ và phá cho tan nát nên không còn phát sinh được nữa. O

Này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, thiện nam tín nữ ! Đó là trường hợp của Như Lai và của các vị hành giả đã giải thoát. Vua trời Đế-thích, Sinh Chủ, Phạm Thiên và quyến thuộc của họ dù có đi tìm kiếm cũng không thể nào thấy được dấu tích, y cứ của tâm thức Như Lai. Như Lai thường nói: Như Lai là trạng thái cao quý. Như Lai là trạng thái mát mẻ. Như Lai là trạng thái không nóng bức. Như Lai là trạng thái không còn khóc than. Vì nghe Như Lai giảng dạy như thế nên nhiều vị Sa-môn và Phạm-chí đã vu báng Như Lai là vọng ngôn, là không chân thật. Họ nói: Sa-môn Gotama chủ trương thuyết hư vô và tuyên dương chủ nghĩa hoại diệt; trong khi chúng sanh là những thực thể có thật. Những điều họ nói, Như Lai có bao giờ chủ trương đâu. Như Lai thực sự chỉ nói pháp diệt khổ đem đến trạng thái vô ưu. O

Nếu có ai tới mắng nhiếc, khiêu khích, phỉ báng, đánh đập, Như Lai cũng không giận dỗi, không ghét bỏ cũng không có ý trả thù. Cũng như nếu có người tới cung kính, cúng dường lễ bái và tôn trọng Như Lai thì không phải vì thế mà Như Lai mừng rỡ. Như Lai chỉ nghĩ rằng người ấy đến là vì thành quả của sự đạt ngộ và của sự chuyển hóa nơi Như Lai mà thôi. O

Này các thiện nam tín nữ ! Nếu người ta tới mắng nhiếc, khiêu khích, phỉ báng, đánh đập các vị, hoặc tới cung kính, cúng dường lễ bái và tôn trọng quý vị thì quý vị cũng không nên vì thế mà mừng rỡ hoặc sanh lòng giận dữ muốn trả thù lại họ. Vì sao? Vì xét ra thì không có cái ta mà cũng không có cái của ta. Ví như bây giờ đây, ở tại bên ngoài khu vườn này, có người góp nhặt cành khô và cỏ khô đem về đốt và sử dụng, thì chúng ta có nên nghĩ là chúng ta đang bị người ta đem đốt và sử dụng không? O

- Bạch Thế Tôn, không.

- Cũng như thế đó ! Nếu người ta có tới khen ngợi, cung kính cúng dường hoặc chê bai, mắng nhiếc và phỉ báng, thì chúng ta cũng nên lấy đó làm mừng hoặc làm giận. Tại sao thế? Tại vì cái ta đã không có mà cái của ta cũng không. Chánh pháp đã được Như Lai trình bày đầy đủ, không có khuyết điểm và đã được truyền bá rộng rãi trong hai cõi người và trời. O

Nếu có chánh trí mà hiểu thấu được thì hiệu lực của chánh pháp ấy sẽ vô cùng. Nếu khi mạng chung mà chuyển hóa được năm độn sử thì trong đời kế tiếp sẽ đạt được Niết-bàn, vào được địa vị không thoái chuyển và không còn trở lại luân hồi sanh tử. Nếu khi mạng chung mà chuyển hóa được ba kiết sử tham, sân, si thì chỉ cần sinh ra thêm một lần trong cõi trời hay cõi người rồi cũng tới được biên giới của giải thoát. Nếu khi mạng chung mà đắc quả Tu-đà-hoàn thì không còn rơi vào ác pháp, nhất định đi về hướng chánh giác, sau bảy lần sinh lại trong cõi trời và người thì sẽ tới được biên giới của giải thoát. Nếu khi mạng chung mà đã có lòng tin hiểu nơi giáo pháp thì đều sẽ sinh lên những cõi lành và sẽ tiếp tục đi trên con đường hướng về nẻo thánh. O

Khi nghe Đức Phật dạy xong, các vị Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, và thiện nam, tín nữ đều hoan hỷ, phụng hành và phát nguyện truyền bá kinh này. O

Nam-mô Bổn Sư Thích-ca Mâu-ni Phật. (3 lần, xá 3 xá) OOO

Giảng sư

Kết nối

Tổng số truy cập
Thông tin: 23.040
Pháp Âm: 28.643
Đang truy cập
Hôm qua: 16371
Tổng truy cập: 6.469.295
Số người đang online: 651
hosting gia re , web gia re tron goi , thiet ke web tron goi tai ho chi minh, binh duong, vung tau, ha noi, ca nuoc , thiet ke web tron goi gia re