chuabuuchau.com.vn,chuabuuchau, chua buu chau, chùa bửu châu, chua buu chau cu chi

Phần III - 1. Tâm tánh con người

MỤC LỤC

Mỗi người sanh ra đời có tâm, có tánh. Người xưa nói cha mẹ sanh con trời sanh tánh. Đức Phật nói con người cấu tạo nên do năm yếu tố là sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Cho nên phải có đủ năm yếu tố đó mới cấu tạo nên con người. Theo các nhà khoa học thì con người được cấu tạo do bởi tinh cha, huyết mẹ. Nhưng Đức Phật nói ngoài tinh cha huyết mẹ còn thêm một yếu tố nữa là thức tái sinh. Có hội đủ những điều kiện đó thì mới thành con người. Mỗi người sanh ra đời có hoàn cảnh khác nhau. Ngay trong bụng mẹ lúc chỉ là bào thai đã khác nhau rồi. Người thì nằm trong bụng mẹ 9 tháng 10 ngày. Người thì 4 hoặc 5 tháng hoặc tới 6 hay 7 tháng nằm trong bụng mẹ dù chưa đầy đủ hình hài đã phải “chào đời” một cách tức tưởi vì nhiều lý do.

Nhưng lịch sử Phật giáo ghi lại rằng Ngài Sivali ở trong bụng mẹ 7 năm 7 tháng 7 ngày. Có lẽ quý vị chưa nghe nói có đứa bé nào ở lâu trong bụng mẹ như vậy. Thường thì người ta thấy mới tin, chỉ nghe thì không tin. Nhưng cái gì cũng có thể xảy ra. Ví dụ như vô chùa nhìn tượng Phật có hình con rắn 7 đầu che ở trên quý vị tự hỏi làm gì có con rắn 7 đầu phải vậy không? Nhưng mà ở Bombay (India) đã từng có con rắn 5 đầu xuất hiện. Như vậy con rắn 7 đầu cũng có thể có thật chứ không phải không. Ngài Sivali ở trong bụng mẹ 7 năm 7 tháng 7 ngày một dịp khác sư sẽ nói thêm vì sao có chuyện như vậy.

Trong thực tế có những đứa trẻ sanh ra nằm trong cái bọc. Người ta gọi những đứa bé đẻ bọc điều là quý lắm. Tích truyện Trung Quốc “Tam Quốc Chí” có nhân vật Bao Công nổi tiếng, cũng là được sanh trong bọc điều. Có thể nói mỗi người có mỗi hoàn cảnh, nhân duyên riêng khi sanh ra đời. Hầu hết các đứa trẻ đều chào đời tại bệnh viện. Nhưng cũng có đứa trẻ sanh ở trên máy bay, ở trong nhà, ở ngoài đường, ở trên chiến hào, sanh rớt trên tàu biển. Hoàng Hậu Maya đi về quê để chuẩn bị cho việc sanh nở của mình nhưng không ngờ khi đến biên giới Nepal thì bà hạ sanh thái tử tại vườn Lâm Tỳ Ni. Như vậy, Thái tử Sĩ Đạt Đa là đứa trẻ được đẻ rớt tại biên giới Ấn Độ và Nepal.

Có thể nói, con người sanh ra không ai giống ai về nhiều mặt. Tâm tánh con người cũng không ai giống ai. Tâm là gì? Tâm (cittá) là biết cảnh, Tánh (cetasika) là những yếu tố hỗ trợ cho tâm. Theo vi diệu pháp thì có 121 tâm, có 52 tâm sở hữu. Tâm tánh hòa quyện lẫn nhau cùng thực hiện một chức năng tạo nghiệp. Tâm thiện kết hợp với sở hữu thiện thì tạo nghiệp thiện. Tâm bất thiện kết hợp với sở hữu bất thiện thì tạo nghiệp bất thiện. Tâm siêu thế kết hợp với sở hữu tịnh hảo thì tạo ra nghiệp vô ký. Nếu tâm không có sở hữu thì nó không hoạt động. Giống như tai của ta nghe được nó phải có thần kinh nhĩ, không có là ta bị điếc, nghe không được. Nhưng nếu tai có thần kinh nhĩ mà không có âm thanh thì ta cũng không nghe được. Và nếu có thần kinh nhĩ, có âm thanh nhưng không có sự chú ý thì ta cũng không nghe được. Nếu chúng tôi nói mà quý vị ngồi dưới kia không chú ý thì không nghe chúng tôi nói gì. Tâm ta cũng vậy, nó phải có sở hữu nó mới hoàn thành. Trong vi diệu pháp định nghĩa tâm là biết cảnh. Khi người thanh niên này mặc áo đỏ, quý vị chú tâm biết cậu thanh niên mặc áo đỏ, đó là tâm biết cảnh. Con người theo nhà Phật định nghĩa là Manussa. Người có những đặc tính là trong sáng, sáng sủa, dũng cảm. Ở đây ai cũng trong sáng, đặc tính của con người là dũng cảm. Ví dụ như dũng cảm bố thí, trì giới. Nói đến người là nói đến sự lương thiện.

Tai sao? Vì đời sống của mình phải lương thiện thì mình mới được làm người. Do mình làm thiện thì mình mới sanh được làm người. Nếu mình làm ác thì mình sanh làm súc sanh, ngạ qủy, atula. Người có nghĩa là hỷ xả, từ bi. Vì chúng ta làm người mà không có tâm từ bi, hỷ xả thì không thể làm người được. Đức Phật dạy, người có tâm lương thiện mới sanh được làm người. Nhưng do hòan cảnh sống, tâm tánh ta dần dần trở nên tham sân si, ta đánh mất đi lòng từ bi, hỷ xả thì con người ta tự động mất đi những tinh hoa cao quý của mình. Có những người làm người nhưng thật ra họ đang sống như thể loài ngạ quỷ, súc sanh, atula. Quý vị hãy quan sát chung quanh sẽ dễ nhận ra điều đó. Chẳng hạn có người gây ra tội ác như bác sĩ của cơ sở giải phẩu thẩm mỹ Cát Tường (Hà Nội). Chỉ vì làm hỏng ca giải phẫu dẫn đến khách hàng tử vong, bác sĩ này liền đem xác khách hàng quăng xuống sông. Như vậy, hôm qua còn là bác sĩ, ngủ một đêm thức dậy bị công an tới còng tay dẫn vào trại giam, bác sĩ biến thành tội phạm trong tù, mất quyền của con người chỉ trong tích tắc. Đó là một ví dụ điển hình để chúng ta suy gẫm.

Có người sống như ngạ quỷ với hình dáng xấu xí, gớm ghiếc. Có người trên khuôn mặt hoặc cả người họ đầy những khối u rất đáng thương. Có người sống đói khát, lay lắt, hằng ngày phải bới thùng rác tìm chút thức ăn dư thừa sót lại để sống qua ngày. Có người khùng khùng điên điên sống như ngạ quỷ. Có người sống như súc sanh. Sư kể quý vị nghe một câu chuyện về người điên. Ở xã Mỹ Lung, huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ có bà Phùng Thị Nở nhốt con trai tên là Năm như nhốt loài thú dữ nguy hiểm. Đầu tiên gia đình xích chân Năm bằng sợi dây xích chó nhưng anh ta đã từng phá tan mấy chục sợi dây xích như vậy. Sau đó gia đình đã lồng mấy sợi dây xích vào nhau nhưng Năm vẫn phá được và bỏ đi lang thang 6 tháng mới bị bắt đưa trở về nhà. Bà mẹ nhờ người ta làm cũi nhốt Năm. Cái chuồng cũi vừa cao, vừa rộng, anh Năm bị nhốt và được cho ăn như người ta cho con chó, con mèo ăn. Anh Năm vệ sinh, ăn uống tại chỗ nên lâu ngày những cây gỗ bị mục, anh ta lại trốn ra và vác dao đi khắp làng. Bà mẹ lần này cố gằng gom tiền xây cho con cái chuồng kiên cố bằng xi măng. Chuồng xây rộng khoảng gần chục mét vuông, cửa làm bằng tấm ván nên lâu ngày bị mục, Năm lại thoát ra được ra ngoài. Lần này, bà mẹ lại nhờ người ta đóng cửa bằng gỗ chắc chắn, lại thêm đóng hằng hà sa số đinh từ ngoài vô trong. Cánh cửa biến thành bàn chông khổng lồ khiến cho người điên không cách chi thoát ra được. Tuy chưa lần nào lao thẳng đầu vào cái “bẫy” đinh chết người ấy nhưng trong cái chuồng xi măng tối đen như nhà ngục đó, rất nhiều lần anh Năm va quẹt người vào những đầu đinh dài nhọn hoắt, nên trên người anh đầy vết trầy xước, lở loét. Kể từ khi bắt đầu bị giam nhốt, anh Năm không một mảnh vải che thân. Như vậy quý vị biết là đã mấy nghìn ngày qua anh Năm bị coi như một loài thú dữ tàn độc. Con người sống trong sự giam nhốt như vậy có khác gì loài súc sanh tội nghiệp. Chúng tôi xem tư liệu thời Nhật Bản sang Việt Nam, dân ta chạy xích lô, kéo chiếc xe như kéo cày với người ngồi trên xe. Hình ảnh đó y chang như trâu bò kéo xe vậy, Dân ta bị bóc lột đô hộ nên vô cùng cực khổ. Con người vất vả kiếm sống như trâu bò súc sinh vậy.

Người như atula, tâm tánh như hung thần, dạ xoa, ác quỷ, luôn đánh đập, chửi rủa, mắng nhiếc, không từ ái. Những nhà khoa học nói do tinh cha, huyết mẹ tái tạo nên con người. Phật thì nói do thức tái sanh. Theo kinh tạng Pali, con người vừa tắt thở là đi tái sanh liền. Vừa tắt thở, cảnh nào hiện ra trong tâm người đó là họ tái sanh theo cảnh đó. Ngay lúc mình hấp hối, cảnh nghe pháp tái sanh, hoặc cắt cổ gà tái sanh. Vậy do lộ trình tâm ta quyết định thức tái sanh. Cho nên hành động phải lặp đi lặp lại nhiều, ví dụ như niệm Phật, ta niệm Phật mỗi ngày, lặp đi lặp lại việc niệm Phật, việc lặp đi lặp lại hành động niệm Phật đó hằng ngày để giờ phút cận tử mình vẫn hay biết để có thức tái sanh quyết định vào cảnh lành. Nếu không thì giờ phút cuối mình không nhớ được, bị đọa đày, bị đau khổ sẽ không còn nhớ. Con người có nam và có nữ. Chưa biết nam phước nhiều hay nữ phước nhiều hơn. Nhưng trong kinh nói bậc Chánh đẳng chánh giác thì không có người nữ, chỉ có người nam. Như vậy nam phước nhiều hơn. Nữ có thể thành Phật Thinh Văn Giác. Ai phát nguyện thành Phật Độc Giác thì phải nguyện sanh thành người nam. Vì do đặc tính của người nữ nhiều tham ái. Người nữ nặng về đức tin. Dân gian nói: Người nữ mít ướt là bẩm sinh, ương bướng là sở trường, thất thường là thói quen, hay ghen là chuyên môn, giận hờn là năng khiếu. Người nam chơi là chính, học là phụ, yêu là nghĩa vụ, tán gái là bản năng, lăng nhăng là bản chất.

Đức Phật phân ra 6 tâm tánh: Tham, sân, si, tầm, giác, tín. Đức Phật dạy cho chúng ta pháp tu để đối trị các tánh này. Có người nặng tâm tham. Tham tình, tiền, tham vặt. Có người tới nhà người ta thấy cái gì ngộ ngộ là ăn cắp vặt nhưng ở nhà thì không thiếu món gì. Tham thì cuộc đời chìm trong đau khổ. Ái nhiều cũng khổ. Người nào ái nhiều thì mê gái đẹp, mê trai đẹp, sự mê này lộ ra ngoài. Những người này Phật dạy pháp tu quán tử thi để đối trị tâm tham, để thấy bản chất cái đẹp cũng không thật, chỉ là thây ma hôi thối. Đó là đề mục quán tử thi. Chúng tôi chưa bao giờ quán tử thi, nhưng khi đưa đám tang, phật tử lấy cái y treo lên cái hàng, tụng kinh quán tưởng, xong rồi đem cái y đó về mặc hằng ngày để nhắc mình nhớ đây là y tử thi. Mặc y tử thi để nhắc nhở mình sự chết, sự vô thường của cuộc đời. Chúng tôi có thời gian sống ở Luân Đôn tu tập. Tại đây có nhiều dịp chứng kiến tử thi. Khi có người chết, các sư trong chùa muốn quán tử thi nên xin xác người chết để trong chùa một tuần lễ để chiều chiều tăng, ni tụng kinh và nhìn tử thi để quán sự chết. Có những vị sư cô muốn quán cái chết bèn bắt ghế ngồi thiền cạnh tử thi. Sáng hoặc chiều công phu quý vị tăng ni đều đi diễu quanh tử thi (đã chích phọc môn). Có một hôm sư phải trực chánh điện. Sáng mai người ta sẽ đem quan tài ra khỏi chùa. Hôm đó sư một phen khiếp đảm, sợ hãi. Trời Luân Đôn 5 giờ sáng lạnh thấu xương. Trực chánh điện là phải đốt nhang, đánh chuông. Sư rón rén bước vô chánh điện mở đèn. Nhưng do không tìm thấy remode nên đá trúng cái ghế tưởng là thây ma nên sợ thất kinh hồn vía. Người có tánh tham phải quán tử thi, quán thân mình bất tịnh, chỉ là đất nước gió lửa mà thôi. Thân này dù bên ngoài đẹp đẽ cách mấy mà ba ngày không tắm là hôi rình. Cái mũi con người là để ngửi. Thúi cũng ngửi, thơm cũng ngửi. Người 3 ngày không tắm mũi ngửi biết khí dơ.

Hoặc có những người sân dữ lắm. Tướng học cho thấy người sân có bàn chân to, bước chân nặng, cử chỉ nặng ví dụ như rót nước để xuống bàn nặng nề. Người sân thường la hét, chửi rủa. Người có tánh sân si nếu không biết chuyển hóa tâm tánh, sau này chết sanh làm atula. Do sân si nhiều quá ta sẽ sa đọa khổ cảnh. Đức Phật dạy người sân nhiều nên tu thiền luyện các đề mục xanh, vàng, đỏ, trắng, từ bi hỷ xả để chuyển tâm, có tình thương, thấy người khác khổ mình xót xa, Hãy tập thấy người bạn mình xây được căn nhà đẹp mình hoan hỷ chúc mừng họ. Đó là bỏ tánh ghen tỵ. Có người không chúc mừng còn nói xấu chủ nhà làm mất đi tâm hỷ. Tu là phải có tâm xả, phải biết buông bỏ, Người tâm sân phải tu từ, bi, hỷ, xả.

Tánh si, tánh tầm là gì? Si là u mê, đần độn, tỷ lệ thông minh quá thấp. Tánh tầm là hay tìm kiếm, tìm hiểu, tới nhà ai như là điều tra, hỏi có mấy vợ, có mấy công đất, có mấy con muốn biết cái này, cái kia. Tánh tầm là vậy. Kinh dạy người có tánh si, tánh tầm phải tu đề mục sổ tức quan. Đó là do tánh người còn si nên sự hiểu biết thông minh của họ ít nên họ tập đếm hơi thở. Hít thở vào, thở ra một, hít thở vào thở ra hai hoặc ngồi đếm 123456789 rồi 987654321. Ngồi thiền đếm số để tập trí nhớ, linh hoạt, tỉnh thức của mình, để chuyển hóa tâm si mê của mình. Người có tánh tầm là không sống trong hiện tại. Sổ tức quan là phương pháp để kéo họ về trong hiện tại. Đức Phật dạy người có tánh giác là người quá thông minh, sâu sắc. Thường những người có tâm tánh giác nhiều thì tỷ lệ thành công không cao. Có câu nước trong không có cá. Nước đục thì cá chết. Chẳng hạn mình sống trong gia đình nếu chi li, tính toán quá khiến người thân phiền não. Chồng quá quan tâm thương yêu khiến cho bà vợ ngộp thở. Cho dù tánh giác quá sâu sắc nhưng có những việc hãy tập làm lơ. Người ta nói đôi khi nhớ chỉ là quên một ít, còn lãng quên là nhớ đến tận cùng. Đôi khi khóc chỉ là buồn chút, còn nụ cười là tê tái cả lòng đau. Có những người ngày xưa học rất thông mình nhưng cuối cùng lại không thành đạt cao. Họ đi làm nhiều khi trái nghề. Có những người thời đi học không ai để ý nhưng bây giờ lại nên danh nên phận. Tâm lý học nói thiên tài là một chuỗi dài của kiên nhẫn, còn thông minh chỉ có 5%. Người có tánh giác phải quán về sự chết, dạy quán niết bàn. Niệm niết bàn là niệm đặc tánh của niết bàn, tịnh tịnh, vắng lặng, chân như, vô niệm, vô tham, vô sân, vô si. Hoặc ngồi niệm tôi chết, bà chết, ông chết, niệm về sự chết. Đức Phật dạy hằng ngày nên niệm sự chết để bớt đi tánh lăng xăng của mình. Văn hóa Việt Nam rất kỵ nói về sự chết. Nhất là ngày tết mà nói về sự chết. Nhưng ở Ấn Độ người ta chúc tết thì lại chúc chết sao cho đúng với già trẻ trong già đình. Ví dụ họ chúc ông bà chết trước, rồi mới đến con cháu chết sau. Con người thường quay vòng trong sanh lão bệnh tử. Con mà chết trước cha mẹ là tre già khóc măng non, là bất hạnh của gia đình. Niệm niết bàn, niệm tử hoặc niệm tứ đại, bốn đặc tính của tứ đại để đối trị lại tánh của mình, hoặc niệm vật thực, quán tưởng trước khi ăn, đang ăn, sau khi ăn, quán vật thực trong ngày để thấy sự biến đổi của vật thực. Ngoài ra còn niệm 4 đề mục vô sắc là niệm bốn tâm: không vô biên xứ, thức vô biên xứ, vô sở hữu xứ, phi tưởng phi phi tưởng xứ.

Tánh tín: Người này gặp cái gì cũng tin, vô chùa tin Phật, vô Lăng Ông Bà Chiểu tin ông, xuống Châu Đốc tin bà chúa Xứ, lên núi tin tiên, mê tín di đoan, tu ít, cầu nguyện nhiều. Những người này cúng một nải chuối xanh nhưng nguyện xin đủ thứ thì Phật nào dám ăn. Con người do có phước mới làm được việc này việc kia. Đi chùa lạy Phật là tưởng nhớ công đức của Phật, tánh trí tuệ của Phật, học nơi nhân cách của Phật, không phải để cầu nguyện xin xỏ cái này cái kia. Phật là một biểu tượng để mình lạy và noi gương để sống tốt cho mình, là biểu tượng để khi nhìn ta bớt đi tham sân, ta siêng năng làm việc thiện, tu tập, bố thí, trì giới, tham thiền. Ta làm những công đức đó ta mới có phước chứ không phải van xin Phật mà có được phước vì Phật không phải là vị toàn năng ban ơn. Quý vị hãy nương vào tự thân của mình, hạnh phúc hay đau khổ là do chúng ta. Đến với đạo Phật là để học cách nhìn vào tâm tánh trong sáng, từ bi hỷ xả của ta. Nếu đi chùa tâm tánh còn nhiều ô uế, nhỏ mọn, ích kỷ, tỵ hiềm, tật đố, tham sân si thì coi như chưa đi đúng con đường Phật dạy. Cho nên người tín nhiều dễ đi vào mê tín dị đoan. Phật dạy chúng ta nhiều cách tu, người này tu đề mục niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, người khác tu niệm A Di Đà Phật hoặc Árá Hăn Sâm Ma Sâm Bút Thô. Có người niệm 10 hồng danh đức Phật: Nam mô Ứng cúng, Chánh biến tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Niệm đến nhất tâm, đi kinh hành niệm ra tiếng. Ngồi thiền niệm trong tâm. Niệm Phật niệm Pháp niệm Tăng, niệm Giới, niệm Thí, dành cho người có tánh tín, tật bệnh tiêu trừ, tà ma không quấy phá, ít bệnh hoạn, có tiền nhiều. Niệm Phật có phước nên tiền phát sanh. Con người tu niệm Phật sống giản dị, biết đủ nên tiền nhiều. Người không biết tu, tham gia tiệc nhậu 10 triệu đồng, 5 triệu đồng là chuyện thường. Có người bỏ ra 50 triệu đồng để làm đẹp, nhưng hùn phước xây tháp 1 triệu đồng thì về kể lể cho người này người kia. Tu là biết tri túc, biết dùng đồng tiền đúng chỗ, đúng nơi.

Chúng ta biết tâm tánh con người đa dạng, mỗi người mỗi tánh. Điều quan trọng là ta thấy những đề mục Phật dạy tương phản với tâm tánh của con người. Tham ái quán tử thi. Sân quán từ bi hỷ xả. Qua những tánh này dạy cho ta bài học phàm phu tục tử còn đầy phiền não, tham sân si. Tu là để chuyển hóa tâm tánh. Nếu không chuyển hóa, thanh lọc thân tâm của mình thì bản tánh của mình không thay đổi. Giang sơn dễ đổi bản tánh khó dời. Người tu phải tin Phật Thích Ca nhờ tu, nhờ hành thiền mà chuyển hóa từ thân phàm tục thành bậc vĩ nhân, từ tham sân si thành trí tuệ từ bi. Ngài làm được thì ta làm được. Ta phải thanh lọc thân tâm, chuyển hóa thân tâm. Bài học con người bị sự biến hoại của thời gian và không gian, thân người là một chuỗi của sanh già bệnh chết, làm người ai cũng trải qua chuỗi mắc xích này. Ta quán chiếu con người ta như vậy để tu nhiều hơn, chuyển hóa nhiều hơn. Quán chiếu thân này già, bệnh chết để siêng năng trong thiện pháp, làm nhiều hạnh lành để chuyển hóa thân tâm. Ham tu nhiều cho bớt tham, ta tham tiền, tham danh lợi, tu là bớt đi lòng tham, thể hiện hạnh bố thí. Ai có phước sống chung với người hay bố thí thì mừng lắm, vì người có tâm bố thí thì tham ít, ta không sợ vì họ dám bố thí thì họ không tham. Bài pháp đến đây cũng vừa phải lẽ với thời gian. Chúc quý vị thân tâm an lạc, tinh tấn trong giáo pháp, gặp nhiều thuận duyên trong cuộc sống./.

Giảng đường: chùa Thanh Long
Tỉnh Bình Dương ngày 14/04/2014.

Giảng sư

Kết nối

Tổng số truy cập
Thông tin: 22.918
Pháp Âm: 28.011
Đang truy cập
Hôm qua: 18985
Tổng truy cập: 4.628.076
Số người đang online: 543
hosting gia re , web gia re tron goi , thiet ke web tron goi tai ho chi minh, binh duong, vung tau, ha noi, ca nuoc , thiet ke web tron goi gia re