chuabuuchau.com.vn,chuabuuchau, chua buu chau, chùa bửu châu, chua buu chau cu chi

Phần III - 2. Chữ Tâm kia mới bằng ba chữ Tài

MỤC LỤC

Hôm nay, chúng tôi được ban tổ chức trường hạ Hưng Phước mời đến thuyết giảng một thời pháp đến cho Chư tôn đức trong khóa An cư Kiết hạ tại chùa. Nếu chúng tôi nhớ không lầm thì đến cho năm nay, chúng tôi đã có khoảng hơn 10 năm được mời thuyết giảng từ một đến hai lần trong mỗi mùa hạ. Lần trước thì chúng tôi đi Mỹ, nên tưởng năm nay không có duyên thuyết giảng với quý chư tôn đức trong trường hạ Phật giáo quận 3.

Hôm nay cũng là ngày rằm tháng 6 năm Ất Mùi (2015). Theo truyền thống Nam Tông, ngày rằm là ngày lễ khởi sự cho mùa dâng y tắm mưa nhập hạ, nên Nam Tông nhập hạ sau quý thầy Bắc Tông hai tháng, ngày nhập hạ chính thức là 16 tháng 6 đến 15 tháng 9. Và ngày rằm tháng 6 theo truyền thống Nam Tông là ngày đức Bồ tát giáng trần. Đêm đó, hoàng hậu Maya nằm mộng thấy có con voi 6 ngà, húc vào trong bụng bà thì bà mang thai thái tử Sĩ Đạt Đa. Rằm tháng 6 cũng là ngày Bồ tát bỏ cung vàng điện ngọc đi tu. Ngày rằm cũng là ngày theo truyền thống Pāli, Ngài thuyết bài kinh Tứ diệu đế để khai ngộ cho năm anh em Kiều Trần Như. Ngài chọn vùng đất Ba-LaNại là vùng đất thiêng. Vùng đất Ba-La-Nại thì thiên nhiên rất đẹp, vùng sinh khí vượng, có sơn thủy hữu tình, có dòng sông Hằng linh thiêng. Theo truyền thống, Đó là cái nôi khởi thuỷ giáo pháp của nhiều đời Chư Phật.

Trong bốn thánh địa: Nơi Phật chuyển pháp luân, nơi Phật thành đạo, nơi Phật Níp-Bàn và nơi Đản sanh (tứ động tâm), đều có chùa Việt Nam. Ở tại nơi Đức Phật đản sanh là Nepal có hai ngôi chùa Việt là Linh Sơn và Việt Nam Phật Quốc của HT. Huyền Diệu. Nơi Phật thành đạo có khoảng bốn ngồi chùa: Chùa của Việt Nam Phật quốc, chùa Viên Giác, ngôi thứ ba là ngôi chùa của một vị sư (Khất sĩ) đang xây dựng, ngôi thứ tư của sư bà Khiết Minh đang xây. Nơi đức Phật Níp-Bàn có một ngôi chùa Việt tên là Linh Sơn hiện nay Ni trưởng Trí Thuận trụ trì. Địa danh chuyển pháp luân, năm 2014 đánh dấu một ngôi chùa Đại Lộc do chúng tôi làm viện chủ, thượng toạ Tiến sĩ Tường Quang trụ trì, thành lập khoảng năm năm qua, có tượng Phật bằng đá với thế chuyển pháp luân lớn nhất thế giới. Vì tượng ngồi cao 24m bằng đá, tay Phật trong tư thế giơ lên ám chỉ diễn giảng khi Ngài thuyết pháp, rất khó tạo. Nếu làm bằng đá thì sự kết cấu rất khó, tượng có trọng tải 700 khối đá cánh tay phải có khoảng 6 tấn đá. Cho nên sự tải lực kết cấu để dính hài hòa là điều cực kỳ khó.

Mùa an cư đầu tiên, đức Phật khởi điểm bài kinh chuyển pháp luân thuyết đúng ngày trăng tròn tháng sáu. Ngài thuyết độ năm vị Kiều Trần Như, sáng ngày 16 hôm sau đánh dấu mùa an cư thứ nhất. Sau một tuần thì Ngài thuyết vô ngã tướng kinh, dẫn nhập cho năm vị Kiều Trần Như vào dòng thánh tứ quả. Và ngày rằm tháng 6 còn có ý nghĩa là Đức Phật nhiếp phục ngoại đạo. Trong cuộc đời vị Chánh đẳng Chánh giác có lần phải sử dụng song thông nhiếp phục ngoại đạo. Ngài có hồng danh Thiên Nhân Chi Đạo Sư, làm thầy loài người và trời. Thời đó có 92 tôn giáo nên ai cũng tự xưng có Tam Bảo giáo chủ, bậc thánh. Lúc đó, Phật Ngài nhiếp phục ngoại đạo vào hạ thứ 7. Tức là thành Phật khoảng 7 năm sau có cuộc gặp gỡ các vị giáo chủ ngoại đạo. Trong 92 tôn giáo có 6 tôn giáo nổi cộm nhất, có đồ chúng đông đảo nhất, có thế lực lớn mạnh nhất. Ngài gặp gỡ để nhiếp phục bằng song thông cùng lúc phun lửa và nước từ thân thể. Ngài đã dùng thần lực trí tuệ để nhiếp phục. Sau khi nhiếp phục ngoại đạo xong thì theo truyền thông Nam Tông ghi lại rằng Ngài nhập hạ thứ bảy trên cung trời Đạo Lợi. Chúng tôi nhắc lại một ít dữ liệu bên truyền thống Pāli để thấy rằm tháng 6 có ý nghĩa như vậy.

Hôm nay, chúng tôi chia sẻ trong mùa An cư nói về toàn bộ đời tu chúng ta đều xoay quanh hai tâm thiện và bất thiện. Từ ‘tâm’ ở trong Phật giáo theo tiếng Pāli gọi là citta. Định nghĩa tâm khác nhau: Tâm là biết, là thấy, hay tâm là một sự cảm nhận. Citta có nhiều nghĩa nhưng nghĩa chính là biết. Tâm là biết cảnh. Nếu mà tâm mình biết cảnh chung quanh, mình nhìn một cảnh nếu mình thích cảnh đó, quá thích là tâm mình đang tham đắm trong cảnh đó, hay không thích là sân. Tâm bắt cảnh chẳng hạn như nhìn. Cho nên mình phải thu thúc là vậy. Thấy người ta đi, ngồi, nói mình nhìn thì mình thấy chứ đừng nên tham hay sân. Chẳng hạn ngồi nói chuyện với quý thầy, thấy nhiều người ngủ quá, thì bắt đầu tâm mình đâm ra bực bội, khó chịu vì mình nghĩ đã bỏ thời gian đến nói chuyện mà người ta ngồi ngủ gục. Nhìn cảnh đâm ra bực, rồi khó chịu gọi là tâm bắt cảnh xấu sanh ra tâm sân.

Chúng ta nhìn cảnh tốt, cảnh hoan hỷ thì thành thân thiện. Sở dĩ Phật dạy mình thu thúc, thấy biết thấy, nghe biết nghe, thấy mang tâm chánh niệm không có sân, không tham. Giống như trong kinh pháp cú có mẩu chuyện rất thú vị. Một hôm, Đức Phật đi thuyết pháp cho một hội chúng chỉ có năm người. Đại đức Ānanda đứng bên hầu quạt, Phật đang thuyết thì Ngài thấy năm người hành giả có những biểu hiện khác nhau: Ông thì ngủ, ông thì ngồi nhìn trên trời, ông thì ngồi mà tay chân móc móc, ông thì ngồi giống như bẻ cây, tay không yên, như khỉ, chỉ duy nhất một ông chăm chú nghe.

Đại đức Ānanda hầu Phật thấy vậy, nên khó chịu. Đại đức Ānanda nghĩ Phật là bậc thầy của trời người mà mấy ông này không tôn trọng Phật gì hết. Nhưng Phật lại xem như không có chuyện gì xảy ra. Ngài vẫn nhiệt tình hăng say thuyết pháp đầy đủ ý nghĩa gọi là hội đủ cụ túc pháp để độ năm hành giả. Kết thúc thời thuyết, đại đức bạch Thế Tôn rằng tại sao Ngài là thiên nhân sư, có mười hồng danh cao quý: Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn mà Ngài thuyết đối tượng nghe có năm người, dường như họ xem thường Ngài, không thật tâm nghe. Nhưng tại sao Đức Thế Tôn lại bình tĩnh, khoan thai, nhẹ nhàng thuyết pháp độ họ được. Phật nói: Này Ānanda, nhiệm vụ chúng ta là giảng giải giáo pháp để họ hiểu, họ ngộ, còn tâm tánh mỗi người mỗi khác vì năm người này có hoàn cảnh, môi trường khác nhau, trước khi họ tái sanh làm người là năm chủng loại khác nhau. Người ngồi nghe pháp mà ngủ vì 500 kiếp về trước làm rắn, vừa được tái sanh làm người cho nên rắn ngồi đâu ngủ đó. Như Lai thấy họ ngủ cũng mừng vì họ từ rắn sanh làm người mà có lòng tin Tam Bảo, ngủ nhưng vẫn nghe. Cho nên mình có đi dạy học, thuyết pháp mà thấy ai ngủ thì coi như rắn tái sinh lại để mình thông cảm. Còn người ngồi mà ngó trên trời vì 50 kiếp trước làm ông thầy địa lý xem thiên văn nên kiếp nàyngồi nhìn trời nhìn sao là bình thường, chủng loại của họ, nghiệp duyên của họ. Phật biết kiếp tánh ông ta như vậy nên ổng nhìn trời nhìn sao thì kệ họ. Ông mà ngồi nghe pháp mà tay chân không yên, nhướn lên ngồi xuống được Phật nói là 500 kiếp trước làm con khỉ. Khỉ vừa tái sanh làm người nên tay chân không yên. Cho nên quý vị thấy có nhiều người, kể cả người xuất gia cũng vậy, tánh hay lăng xăng, đứng ngồi không yên. Mà thôi kệ, tu rồi cũng từ từ điềm tĩnh. Nhiều khi do thói quen, thường cận y duyên. Ông ngồi nghe mà tay chân móc đất vò vò có 500 kiếp làm kiếp con giun. Giờ ông sanh làm người nhưng thói quen vẫn còn.

Con người chúng ta cũng vậy, Đức Phật dạy tâm con người chi phối tất cả. Nếu mà chúng ta hành động thiện thì sanh làm người hoặc trời. Nếu làm bất thiện thì tái sanh bốn đường ác đạo: địa ngục, súc sanh, ngã quỷ, atula. Trong kinh tạng gọi là noãn sanh, thai sanh, thấp sanh và hóa sanh. Noãn sanh, thai sanh, thấp sanh thì mắt thường thấy được. Giống như con gà, vịt tái sanh vô quả trứng trước rồi nở ra gà con, vịt con. Thấp sanh là mấy con vi sinh, giun sán. Thai sanh là con người, con chó, con mèo. Hóa sanh thì mắt thường không thấy được. Hóa sanh là khi mình vừa tắt thở, nhưng ác quá nên hóa sanh hỏa ngục chẳng hạn. Mình sống thất nhân thất đức quá, nóng nảy, chửi cha mắng mẹ, chuyên đi đánh nhau, giết người thì chết hóa sanh là atula. Do hành động với tâm sân hận nên chết sanh làm atula. Địa bàn atula ở gốc cây to, miếu đền, hang đá, ngã 3, ngã 4 đường. Nhiều khi mình đốn cây mà không xin phép là các thần atula phản ứng với mình liền. Trong chùa chúng tôi, mỗi khi có cây to nào bị mối, mục, gãy đổ gây nguy hiểm mà chúng tôi muốn đốn bỏ đều tụng kinh chỗ cây đó cho mấy vị hoan hỷ mà dời đi chỗ khác ở. Nếu con người sống mà lòng tham nhiều quá, tham vô độ, tham ăn, tham tài, tham tình, tham sắc, không biết bố thí cúng dường, không biết cho đi thì vừa chết thì hóa sanh làm ngạ quỷ. Ngạ quỷ có đầu nhỏ, bụng to, ăn bao nhiêu cũng không thể no hay không thể ăn uống gì được. Con người mà tham nhiều quá, si nhiều quá, thì vừa chết là sanh trở lại làm thú. Mà sanh làm thú cũng có dạng hóa sanh, noãn sanh, thai sanh vì có những chủng loại thú mà mắt thường không thấy được. Chủng loại gọi là dạ xoa cũng là hóa sanh. Nói tóm lại con người chúng ta có các cảnh giới này do tâm chúng ta.

Nếu người có bố thí, trì giới, tham thiền thì sanh làm người trời. Người có tâm thiền, có tu thiền thì chết sanh vào 16 cõi phạm thiên. Người có tu thiền vô sắc không vô biên, thức vô biên, vô sở hữu, phi tưởng phi phi tưởng xứ thì chết sẽ hóa sanh trở thành chư thiên Vô sắc giới. Người tu thiền định đạt sơ thiền đến tứ thiền thì sau khi hết tuổi thọ hóa sanh vào 16 cõi phạm thiên. Theo truyền thống Pāli tạng thì ta sanh tử luân hồi trong 31 cõi. Dục giới có 11, Sắc giới có 16, Vô sắc giới có 4. Nhưng mục đích đức Phật là muốn chúng ta đạt được níp-bàn chứ đừng đi lang thang trong 31 cõi ấy. Còn sanh trong 31 cõi là còn sanh tử luân hồi, còn phiền não. Quả vị Níp-Bàn không nằm trong 31 cõi này. Níp-bàn là từ được Tàu âm từ tiếng Pāli gọi là ‘nibbana’, tiếng Sankrit là ‘nivana’. Tàu âm lại đọc là níp-bàn. Từ gốc trong tiếng Phạn thì chữ nivana. Ni là không. Vana là ái. Tức là không ái là Níp-Bàn. Không ái là không còn dính mắc trong 31 cõi đó là Níp-Bàn.

Bên Thái, bậc thầy gọi là acha. Người Miến gọi là sayadaw. Người Việt gọi là thầy. Bên Nam Tông kêu bằng sư. Còn ngoài miền Bắc gom hết lại gọi là sư thầy. Mình tu trên 20 năm lên Thượng tọa, hơn 40 năm lên Hòa thượng gọi là sư thầy. Từ achan, sayadaw, thầy hay sư xuất phát từ tiếng Pāli là ‘garu’. Ga là bóng đêm, ru là xóa. Như vậy, sư thầy xuất gia chúng ta có nhiệm vụ duy nhất là xóa bóng đêm cho đệ tử, tín đồ, người thân của chúng ta. Nhiệm vụ như vậy nên người ta mới kính, mới gọi bạch sư, bạch thầy. Bóng đêm là gì? Là vô minh và ái dục. Bậc thầy chúng ta phải chỉ cho đệ tử mình thấy đâu là bóng đêm, đâu là vô minh, ái dục và mình phải tu pháp thiền tứ niệm xứ, bát chánh đạo để xóa bóng đêm. Nhiệm vụ chính của bậc xuất gia chỉ có như vậy, không làm được là thiếu bổn phận sư thầy. Người xuất gia tham gia thời khóa trong mùa an cư kiết hạ nhằm gia tăng việc học, việc tu để có đủ lực, phước, đức để mình chỉ cho người ta con đường giải thoát giác ngộ. Chủ yếu người tu là huân tập cho mình có nhiều tâm thiện, có được phước đức. Cho nên tâm thiện để tu.

Người xuất gia mình có ba cái quý. Quý thứ nhất là làm sao để có tâm sáng suốt. Tu để tâm sáng. Tâm sáng thì mình mới thấy được, phân biệt được chánh tà. Tu để tâm mình có nhiều đức, nhiều phước thì tâm mình rộng lớn. Tâm mình lớn thì mới chiêu hiền đãi sĩ được. Tâm không lớn thì mình mà thấy xung quanh có ông nào giỏi thì diệt hết, không cho ở cùng. Tâm lớn chiêu hiền đãi sĩ, thỉnh các vị Hòa thượng, cao tăng làm bóng mát đại tùng lâm phước đức. Mình tu muốn có đức nhiều thì tâm phải rộng. Tâm rộng lớn để có khả năng thông cảm và tha thứ. Mình sống trong cộng đồng, tổ chức trong trường hạ, trong chùa mà tâm nhỏ thì không có khả năng thông cảm và tha thứ. Sống phải có thông cảm và tha thứ thì mới quy tụ được. Mục đích tu để có phước có đức lớn để có tâm định, để kiên định lập trường. Mình sống không có lập trường. Mình lãnh đạo mà không có kiên định thì dễ bị lung lay. Mình tu mà nghe người này nói thế này, chọt thế nọ mà không có lập trường kiên định thì dễ lung lay. Mình làm lớn mà không có lập trường kiên định thì hỏng việc hết. Tu có phước đức để huân tập tâm sáng. Tâm sáng để phân biệt chánh tà. Ngó biết người này người kia thế nào. Để có được đức tính ấy thì phải thiền định. Người mà thiền định nhiều, công phu, công quả nhiều thì phước đức vô lượng vô biên và khi đó tâm mình sẽ lớn, rộng, có định và sáng.

Tướng mạo quý nhất là chánh đại. Chư Phật quá khứ, hiện tại, tương lai có 32 tục lệ giống nhau. Tục lệ chư Phật thì hay. Chúng tôi gợi ý cho các chư tôn đức tìm hiểu 32 tục lệ chư Phật. Chư Phật quá khứ, hiện tại, tương lai đều giống nhau. Trong đó có tục lệ là trước khi thành Chánh đẳng giác phải có vợ con rồi đi tu hay có tục lệ vị chánh đẳng giác phải có 32 tướng tốt. Vị nào không có thì không phải chánh đẳng chánh giác. Chúng ta phải nghiên cứu 32 tục lệ này giống như đề tài tiến sĩ và thạc sĩ vì quý ở chỗ là các vị Phật đều giống nhau như vậy. Như vậy, tướng mạo chúng ta phải là chánh đại. Tức là tướng mình phải phương phi, đoan chính, tướng chánh giác, hay con người mình là sa-môn phải quang minh chánh đại, không rụt rè, không nhát, mình phải anh dũng, đại hùng đại lực, đại từ bi. Tướng người xuất gia mình đi phải thẳng, không đi gù lưng. Ngồi học thẳng lưng, công phu cũng phải thẳng lưng, ngồi thiền phải thẳng lưng chứ ngồi gù gù thì đến 60 tuổi là khòm hết. Phải có tướng như sư tử. Tướng đi sư tử rất oai. Trong 32 tướng có tướng trượng phu để nói lên rằng người tu mình là chánh nghĩa, thân, khẩu, ý trong sạch nên mạnh dạn, hùng dũng trước đám đông. Mình không ăn trộm ăn cắp gì hết nên phải hiên ngang. Thể hiện tướng đệ tử Phật. Mình đi mà có tướng gù gù thì người ta nói mình chết nhát, đi mà rụt rè là tướng chết nhát. Quý thứ 3 là ngôn ngữ phải giản dị và chân thật. Chúng ta phải giản dị nhưng uyên thâm, có nét chân thật. Nếu người tu mà đánh mất đi sự chân thật, tâm mình giả dối thì thành vô nghĩa. Mình sanh ra và lớn lên ở miền tây thì mở miệng ra có giọng miền tây ngọng ngọng lớ lớ. Mở miệng ra là biết ở miệt dưới lên. Mỗi một vùng miền có ngữ điệu riêng. Nếu để ý nghe quen thì đoán được. Ra Hà Nội học, sợ bị chọc quê nên cố sửa cho nó giống dân thủ đô. Nhiều khi mình cố sửa nhưng không được, thành ra cái giọng mình đớt đớt luôn, nghe lãng xẹt không biết thành dân miền nào. Tốt nhất, thói quen không xấu thì không sửa. Đời tu phải giản dị, có gì xài nấy chứ không phải sửa tướng, sửa chân, sửa tay gì hết. Quý thầy thấy mỗi vùng miền có nét riêng. Những người ở miền Trung nước Việt mình có thổ âm của họ lai Chăm pa. Tại vì vùng đó là vùng Chăm pa, người Việt sống với họ thì phần nào cũng chịu ảnh hưởng. Người miền Nam lại có một số từ hằng ngày ảnh hưởng Campuchia. Chẳng hạn người ta nói tui đi chùa một mình ên à. Chữ ‘ên’ là tiếng Miên. Bên Phật giáo Nam tông hay dùng chữ ‘liêu cốc’ để chỉ cho cái phòng mình ở. Nếu quý vị tra từ điển thì chữ ‘cốc’ không có trong từ điển. Chúng tôi tìm hiểu được theo tiếng Pāli thì cái cốc ông sư ở gọi là ‘Kuti’. Cho nên qua bên Ấn Độ thấy chỗ ở của đức Phật để là GhandhaKuti. Người Khrmer gọi từ kuti là ‘cót’. Tăng xá gọi là Samanacót. Qua Việt Nam từ cót thành ‘cốc’. Cho nên, liêu là tiếng Việt, cốc là tiếng Miên. Trong thời buổi này, ngôn ngữ ta ảnh hưởng Mỹ quá nhiều. Điện thoại reng, bắt lên nói: alo, anh khỏe không? ‘Alo’ là Mỹ rồi. Dòng chảy ngôn ngữ của Việt Nam chịu ảnh hưởng bởi Trung Quốc, Pháp, Mỹ vì theo lịch sử ghi lại là mình bị những nước này đô hộ trong thời gian rất dài.

Có ông nọ sống thời Pháp thuộc. Ổng nói một câu là hết nửa câu pha tiếng Pháp vào rồi. Cho nên người nào biết tiếng Pháp thì hiểu hết ý ổng. Ai mà rặc Việt thì hiểu không hết. Mình chịu ảnh hưởng tiếng Mỹ vì công nghệ hiện đại bây giờ toàn là tiếng Mỹ, tiếng Anh. Họ là người đã phát minh, chế tạo ra các phần mềm, máy móc cho toàn nhân loại sử dụng. Chẳng hạn trong vi tính, hệ điều hành toàn là tiếng Mỹ, mình quen sử dụng rồi nên vào cấu hình rất dễ nhận dạng, dễ làm hơn nhiều khi dịch ra tiếng Việt. Trong vi tính từ ‘file’ được dịch Việt là ‘tệp’. Nhiều khi có người nói mở cái file ra thì mình hiểu liền chứ nói mở cái tệp ra là đơ đơ cái mặt liền. Mình phải có công đoạn làm quen, phải học thì mới hiểu. Chúng tôi nói một chút về khía cạnh ngôn ngữ để cho thấy có lúc mình cũng cần phải giữ nguyên bản sắc dân tộc vùng miền nhưng cũng có lúc phải có sự giao thoa. Nhiều khi mình bảo thủ quá cũng không được vì lúc đó nói không ai hiểu ý mình.

Cho nên cái quý của con người là tập luyện tu cho tâm sáng, cho tâm thiện. Khi tâm thiện có, tâm sáng có, tướng chánh đại có, ngôn ngữ giản dị và chân thật, đó là những tinh hoa, cái quý trong cuộc sống. Nếu mình không tu tập để có tâm thiện thì bất thiện sẽ xen kẽ. Hằng ngày ta làm thiện ác trùng trùng điệp điệp. Quý vị xem tác phẩm Tây du ký của Ngô Thừa Ân thấy chỉ có một Đường Tăng đời Đường du học nhưng tại sao lại có Trư Bát Giới tham ăn mê gái, rồi ông Sa Tăng lại cần cù, ít nói, còn con khỉ Tôn Ngộ Không có cái tâm thiện và thần thông biến hóa giỏi. Các nhân vật này ám chỉ cho con người Đường Tăng khi du học Ấn Độ cũng có những lúc tâm bất thiện của ông khát vọng vẻ đẹp, có lúc tà niệm, có lúc nghĩ xấu. Lúc nào ông nghĩ xấu, tà niệm, thất niệm là hình ảnh Trư Bát Giới; lúc nào siêng năng lọc, siêng năng đào luyện, siêng trau dồi thì là tâm Sa Tăng. Đường Tăng có một cái tâm chánh niệm. Tâm ấy ám chỉ Tôn Ngộ Không. Cho nên mình xem tác phẩm đó thấy yêu quái xuất hiện thì lúc đó không có Tôn Ngộ Không. Điều đó ám chỉ con người chúng ta nếu có tu, có chánh niệm, có tỉnh thức thì ác pháp không xâm nhập được, yêu quái không bao giờ xuất hiện được. Nếu mình siêng năng trong thiền, siêng công phu, siêng năng trong chánh pháp thì yêu quái không xâm nhập. Vì tâm thiền, tâm chánh niệm giống như ánh sáng, tà niệm giống như bóng tối.

Cho nên 3 cái kiêng của người tu là cái khí kiêng hung hăng nói bậy. Trong bát chánh đạo, người tu phải có chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng. Người tu mà nói bậy, độc ác, thô lỗ thì gọi là tu bậy. Nên mình luyện cái khí, ngôn ngữ không bậy, không nói điều không chánh ngữ. Thà người tu không nói được chánh pháp thì im lặng. Chúng ta phải biết im lặng như bậc thánh. Người tu sống gần người thế nhiều quá hay nói chơi với người thế nhiều quá thì mất đi cái uy của ông tăng. Ông tăng mình hòa hợp nhưng không hòa tan. Tại sao trong giới luật không cho người xuất gia ngồi ăn cơm chung cư sĩ? Vì mình xuất gia phải có oai nghi chánh hạnh. Mình ngồi chung nhiều khi họ xem thường mình. Mình ngồi chung thì họ tưởng bác mình. Ban đầu kêu thầy, sau kêu anh, rồi hồi lâu kêu thằng hồi nào không hay. Người xuất gia phải có khoảng cách với cư sĩ vì mình dạy đạo cho họ, hướng dẫn họ tu thì họ phải kính, trọng nể mình. Có sự kính nể thì dạy đạo mới có hiệu quả. Và ngôn ngữ mình đối với họ tuyệt đối phải có chánh ngữ, dù nói chơi cũng không được. Ông sư thầy mà nói chơi nhiều sẽ mất đi cái phong thái người xuất gia thì dạy đạo không có kết quả cao. Chẳng hạn khi bực bội lên rồi rủa, mắng, xách mé người ta nói con này, bà kia, thằng đó là không được. Người xuất gia thì ngôn ngữ phải thận trọng. Ngôn ngữ phải có từ bi hỷ xả, văn chương tục tĩu tuyệt đối không được sử dụng. Bậc thầy phải tuyệt đối dùng văn phong, ngôn ngữ mang tính đạo vị nhằm chuyển hướng giáo dục. Mình có thể nói vui chứ không thể nói tục. Nếu có đệm từ thêm tiếng thì mô Phật, lành thay chứ đừng có dùng những từ ngữ không có trong từ điển. Tiếng Việt mình rất phong phú, bóng bẩy. Nên người tu phải có khí là bớt đi sự hung hăng, dùng ngôn ngữ đạo vị, của thiền môn để mang vẻ từ bi bác ái phù hợp với người xuất gia, và lối đó cũng là cách giáo dục người đi sau.

Kiêng của người xuất gia là kiêng tâm hẹp hòi. Đức Phật dạy tâm phải từ bi hỷ xả, tâm biết buông bỏ, tâm thể hiện hạnh xả ly. Vì mình buông bỏ, xả ly thì đó là bài học để người khác cảm thấy thiện mà học. Tâm phàm phu là ích kỷ, nhỏ mọn, tỵ hiềm, kiêu căng. Người tu phải xả ly, buông bỏ. Tinh túy của người tu là quan tâm, hương vị là giúp đỡ, vẻ đẹp là cho đi.

Kiêng thứ ba là kiêng tài bộc lộ. Mình có tài có đức để người ta tôn vinh mình nhưng mình phải biết khiêm tốn. Người tu thể hiện có tài, có đức, có uy, đó là chướng ngại pháp. Cho nên trong 4 pháp Bất cộng trụ - Ba la di của tỳ kheo có một pháp là cấm khoe pháp cao nhân, được ghép vô trọng tội.

Truyền thống Nguyên thủy là người rơi vào trường hợp khoe pháp cao nhân thì thiếu tư cách tỳ kheo, không còn tỳ kheo nữa. Bên truyền thống Pāli xếp vào giới cấm thứ tư. Cấm khoe pháp cao nhân là chưa đắc thiền mà nói ướm, nói ngang nói dọc để người ta cho mình là đã đắc thiền, chưa đắc thần thông mà nói là mình có thần thông, chưa đạt đạo quả mà nói xa nói gần giống như là mình đắc đạo hôm qua rồi vậy. Người khoe pháp cao nhân không tiến bộ trong con đường xuất gia. Cho nên mình không nên bộc lộ bất cứ điều gì cho dù có tài hay không có tài. Bản chất người xuất gia là biết khiêm tốn. Người xuất gia không khiêm tốn, tự mãn khoe tài thành ra mình là người khoe pháp cao nhân.

Tóm lại, hôm nay, chúng tôi có duyên lành được ban tổ chức trường hạ Phật giáo quận 3 mời đến chùa thuyết giảng chia sẻ lý đạo. Quý vị đây là chư tôn đức đã xuất gia nhiều năm và cũng là những giảng sư nên phần chia sẻ của chúng tôi để đóng góp cho trường hạ chùa Hưng Pháp nhằm động viên khích kệ tinh thần và chia sẻ tinh thần học pháp. Trước khi dứt lời, chúng tôi xin chúc quý vị thân tâm an lạc, có sức khỏe để tu học tốt vào mùa an cư kiết hạ năm 2559. Sau khi an cư, mong rằng quý thầy tiếp tục trở về trú xứ của mình hoằng dương chánh pháp được thuận lợi kiết tường./.

 Giảng đường: Chùa Hưng Phước
Trường hạ Phật giáo quận 3 ngày 30/7/2015 (15/6 Ất Mùi).
Ghi giảng: Tu nữ Quang Kiến.

Giảng sư

Kết nối

Tổng số truy cập
Thông tin: 22.918
Pháp Âm: 28.011
Đang truy cập
Hôm qua: 18985
Tổng truy cập: 4.628.122
Số người đang online: 563
hosting gia re , web gia re tron goi , thiet ke web tron goi tai ho chi minh, binh duong, vung tau, ha noi, ca nuoc , thiet ke web tron goi gia re