chuabuuchau.com.vn,chuabuuchau, chua buu chau, chùa bửu châu, chua buu chau cu chi

Phần III - 4. Pháp Bố Thí

MỤC LỤC

Trong kinh điển nhà Phật, pháp bố thí theo truyền thống Hán tạng đứng đầu trong lục độ; truyền thống Pali cũng đứng đầu trong thập độ. Đây là hai phương pháp, hai cách thức giúp ta áp dụng trong đời sống tu hành để đi thẳng đến sự giác ngộ và giải thoát. Muốn thành Phật chúng ta phải bố thí. Không bố thí chúng ta không thành Phật. Trong đời sống của người cư sĩ tại gia thì có 3 pháp tu học và thực hành: bố thí, trì giới, tham thiền. Ở ba pháp này bố thí cũng được xếp hàng đầu. Bố thí là pháp mà Phật quan tâm, Ngài luôn đưa lên hàng đầu để người xuất gia cũng như Phật tử tại gia tu hành, nhờ đó mà giác ngộ.

Tiếng Phạn, bố thí là Dàna, có nhiều nghĩa: Thứ nhất là cho, thứ hai là cho để cầu sự giác ngộ. Nếu cho mà cầu sự giác ngộ thì không mong có lại. Thí dụ trong đời, anh giúp tôi, tôi giúp anh, giống như vay trả qua lại vậy. Nhà mình có đám giỗ, đám cưới, hồi trước bạn bè mời mình tham dự, nay mình mời lại. Trong chùa cũng vậy, khi có lễ trụ trì này mời trụ trì kia. Trong Phật giáo, pháp bố thí là cho mà không cầu, giống như mình cho mà mình không vụ lợi, cho không mong trả ơn, không mong người ta đáp lại. Nếu mình thực hiện bố thí với cái tâm như vậy thì gọi là Dàna parami. Tức là bố thí đến bờ giác ngộ.

Trong lục độ và thập độ có chia pháp bố thí ra làm ba loại: Bố thí đến bờ kia, bố thí đến bờ trên, bố thí đến bờ cao thượng. Trong kinh văn Pali là: Itipiso bhagava dana Parami, Itipiso bhagava Dana upaparami, Itipiso bhagava Dana Paramattha Parami sampanno. Nghĩa là Bố thí đến bờ kia, Bố thí đến bờ trên và Bố thí đến bờ cao thượng. Bố thí đến bờ kia là bố thí tiền bạc, của cải, vợ và con. Bố thí đến bờ trên là bố thí một phần trong cơ thể. Bố thí đến bờ cao thượng là bố thí sinh mạng. Trong chú giải có giải thích thêm, bố thí đến bờ trên nghĩa là bố thí tiền bạc, của cải, ngọc ngà châu báu, vợ và con để mong cầu quả vị Thinh Văn giác. Bố thí một phần trong cơ thể là bố thí đến bờ trên để mong cầu quả vị Phật Độc Giác hay Bích Chi Phật. Bố thí cả sinh mạng là bố thí đến bờ cao thượng để cầu quả vị Phật Toàn Giác. Trong chú giải Phật nói có 3 hạng Phật: Phật Thinh Văn, Phật Duyên Giác, Phật Toàn Giác. Sở dĩ có 3 hạng Phật khác nhau do thực hành lục độ và thập độ khác nhau, hạnh bố thí khác nhau. Ta thấy có điều rất khó là muốn thành Phật Thinh Văn Giác phải trải qua ngưỡng cửa là bố thí mà phải bố thí tiền bạc, của cải, sự nghiệp, vợ và con mới được. Nếu không trải qua ngưỡng đó thì không thành Phật. Cuộc sống của ta vẫn mãi là phàm phu tục tử. Trong lịch sử tiền thân Phật Thích Ca, cách với kiếp thành Phật khoảng 7 kiếp, Đức Phật đã tu hạnh bố thí vợ và con. Thái Lan có bộ phim nội dung nói về thái tử Tu Đại Noa bố thí vợ và con. Khi xem chúng ta không thể ngừng rơi nước mắt vì cảm động trước hạnh thí thiêng liêng, cao thượng của một bậc đại nhân là thái tử Tu Đại Noa. Nếu không phải là Phật tử, chưa hiểu nhiều về triết lý Phật giáo, khi xem phim có thể có người không làm sao hiểu nổi lý do gì lại đem vợ và con đi cho người khác. Từ đó dễ có những suy nghĩ tiêu cực về Phật giáo. Ngày nay, ai đem vợ và con bố thí cho kẻ khác không chừng bị thưa ra Hội Phụ nữ. Cho nên trước khi Tu Đại Noa bố thí hai đứa con, Ngài đã là thái tử trong hoàng cung, lúc ấy có gì quý giá, ai xin Ngài cũng cho. Trước khi thái tử Tu Đại Noa bị vua cha đày vô rừng sâu thì Ngài sống ở hoàng cung rất tự do, muốn làm gì cũng theo ý mình. Vương quốc của thái tử Vessantara (đất nước của thái tử Tu Đại Noa) xưa nay được phồn thịnh cũng một phần nhờ có cặp tượng bách chiến bách thắng. Cho nên những lão Bà la môn biết như vậy, và biết thái tử thực hành hạnh bố thí nên họ lợi dụng điều này đến xin cặp tượng. Thái tử gật đầu đồng ý cho cặp tượng bách chiến bách thắng này liền. Khi Thái Tử vừa hứa cho cặp tượng, Ngài vừa gật đầu đồng ý thì Ngài lấy một ly nước đổ xuống đất. Điều này biểu hiện tâm ý dứt khoát, như nước đổ xuống đất, không thay đổi, phản ánh tâm lực mạnh mẽ, kiên quyết của bậc cao nhân. Qua đó, chúng ta thấy một người muốn thành Phật phải có tâm quyết định cao. Vấn đề nhân bản ở đây là vợ và con, hoặc tài sản là những gì quý nhất trong cuộc đời mà ta chưa xả bỏ thì tâm đó chưa phải là tâm Phật, không thể thành Phật được. Mà tài sản, vợ con một khi ta đã quyết định xả bỏ thì tâm đó là tâm của Phật. Dính mắc là phàm phu. Phật khác phàm phu ở chỗ này. Khi thái tử Tu Đại Noa đem cho hai đứa con thì lão già nhận hai đứa con của Ngài rồi bèn nghĩ rằng: hai đứa trẻ này là lá ngọc cành vàng, con nhà hoàng tộc nên phải răn đe chúng một bài học để sau này dễ sai bảo hơn. Ông ta liền đánh hai đứa trẻ ngay trước mặt thái Tử để dằn mặt. Ông ta lấy gậy đánh đứa em thì đứa anh đưa lưng ra đỡ. Ông ta đánh đứa anh thì đứa em đưa lưng ra hứng lấy trận đòn. Ngay lúc đó Bồ tát Tu Đại Noa nghĩ mình vừa thực hành hạnh bố thí cao thượng, nhưng thấy con bị đánh Ngài quá đau xót. Vì con là núm ruột, là dòng máu huyết thống của Ngài. Chịu không nổi khi chứng kiến cảnh con bị hành hạ, thái Tử rút gươm ra. Ngay khi đó Ngài quán tưởng tất cả chúng sanh ở dưới địa ngục, ngạ quỷ, atula đang bị khổ sở, bị tù đày, đói khát, tất cả chúng sanh ở bốn đường ác đạo đó đang cần bàn tay cứu vớt của Ngài, cần chiếc thuyền bát nhã của Ngài để giúp họ vượt qua bờ mê. Mà muốn thành tựu con thuyền bát nhã, Ngài phải thành tựu hạnh bố thí. Nghĩ đến đây, gươm của Ngài chui vào vỏ lại. Chúng ta hiểu đó là pháp chướng duyên Ngài phải vượt qua.

Phật dạy người bố thí muốn phước nhiều phải có tâm thí, vật thí và đối tượng thí:

- Tâm thí: Khi làm phước thiện, bố thí ta phải vui vẻ, hoan hỷ, phải cười. Người bố thí phải vui cười. Nếu đem của đi cho mà mặt chụ ụ, tiếc của là không được. Cho mà mặt hằm hằm thì phước giảm. Trong việc làm phước cần có 3 nụ cười biểu hiện cho 3 sự hoan hỷ. Thứ nhất, trước khi làm phải cười, phải hoan hỷ. Giống như thí chủ ngày hôm nay cúng dường cho khóa tu này thì mấy ngày trước đó đã phải vui vẻ, tươi cười chuẩn bị hoa, quà, tiền bạc để cúng dường đến đại chúng tăng. Đó là cái cười trước khi làm. Thứ hai là cười đang khi làm bố thí cúng dường. Ví dụ, tất cả quà đã sẵn sàng, khi tác bạch thì thí chủ phải cười một cái. Cười đúng lúc, đúng nơi như vậy, kiếp sau có nụ cười đẹp. Nụ cười thứ ba rất quan trọng, là nụ cười sau khi làm. Nụ cười này có được lâu chừng nào tốt chừng đó. Có thể một tuần, một tháng, một năm sau khi chúng ta nhớ lại việc làm phước hôm nay mà ta vẫn cười tươi thì coi như tâm thí viên mãn, việc làm ta thành tựu. Nhưng nếu mình về mà nghe mấy bà tám bàn ra bàn vô, đại ý như sao không làm từ thiện mà cúng cho tăng ni, sao không cúng chùa này mà cúng chùa kia, chùa này phật lớn, chùa kia phật nhỏ. Nếu bị mấy câu đó nó làm cho lùng bùng lỗ tai thì nụ cười thứ ba trong tâm mình không trọn vẹn. Do vậy, chúng ta biết ai có bệnh “bà tám” thì né ngay cho khỏe. Có nói chuyện với ai thì hãy nói những chuyện trong pháp và luật, tránh những chuyện dèm pha, nói xấu. Thời gian chúng ta không có nhiều, do vậy, chúng ta dành thời gian cho tu tập, ai làm ta phiền lụy thì ta né là an toàn nhất. Quý vị thử nghĩ xem, tự nhiên trong mùa hạ, tâm tư đang trong sáng, bình yên, gặp bà tám nói một câu trên trời dưới đất, tự dưng tâm mình bị ô nhiễm. Cho nên người tu phải tìm nơi bình yên, né tránh những người nói nhiều, những “bà tám”, “ông nổ”, vì nếu ta không tiếp độ được họ thì tốt nhất ta “kính nhi viễn chi” nghĩa là né cho xong.

- Vật thí: Bố thí là có phước. Chẳng hạn cúng bông hoa, y phục cho phước đẹp đẽ. Bố thí đèn đuốc cho mặt sáng. Bố thí xe thuyền cho sự an vui. Bố thí vật thực cho sức lực. Làm cái gì thì nhận quả phước tương ứng cái đó. Vật thí cao thượng quả báu cao thượng. Vật thí nhiều phước nhiều. Trong chú giải, Phật dạy muốn có phước nhiều thì phải có vật thí cộng với tâm thí. Vật thí nhiều mà tâm thí ít thì phước cũng sẽ bị giảm. Ví dụ, khi một ngôi chùa bắt đầu xây dựng thì luôn có những Phật tử cúng dường. Người thì muốn cúng dường tượng Phật. Họ nói cúng tượng Phật cho có phước vì ai vô chùa cũng lạy Phật. Có người thích cúng dường xây chánh điện. Ai đã hùn phước xây giảng đường này xem như người đó đại phước. Vì chánh điện này có sức chứa rất lớn, đông đảo tăng ni hành giả về đây tu tập, chuyển hóa đến bờ giác ngộ. Ai cúng dường xây dựng giảng đường này phước báu nhiều quá. Vật thí có 4 loại: Chỗ ở, y phục, thực phẩm, thuốc men. Trú xứ trong chùa là những nơi như chánh điện, liêu cốc, tăng xá, nhà bếp. Cúng trú xứ, chỗ ở cho phước nhiều. Vật thí thứ hai là cúng vật thực. Cúng một bữa ăn cho chúng tăng phước cũng rất lớn. Mùa an cư ở đây hơn 200 tăng ni và phật tử, ai cúng dường bữa ăn phước báu vô lượng vô biên. Bởi vì các chư tăng ni, hành giả giữ đời sống phạm hạnh, họ sẽ tiến hóa trên con đường Phật pháp thì người cúng dường phước báu vô lượng. Nếu chúng ta có điều kiện thì nên cúng dường một bữa ăn cho tăng chúng, còn không có thì nên rủ người khác cùng làm. Vật thí thứ ba, đó là cúng dường y phục tức cúng vật dụng cho tăng ni. Tháng 7 là mùa cúng pháp y cho tăng ni Phật giáo Bắc tông. Do đó chúng ta nên hùn phước cúng dường y. Trong luật tạng Pali, người nào cúng dường y có hai quả phước thù thắng: Phước hữu lậu là sanh ra kiếp nào cũng đẹp, nếu cúng dường nhiều thì tái sanh có khi thành hoa hậu, không thì cũng màu da tươi sáng, giọng nói đẹp lòng người. Giống như ni sư trụ trì ở đây chắc xưa kia cúng dường nhiều lắm, nhìn xa thấy hảo tướng rồi. Cho nên ta hãy nên cúng dường pháp phục. Có người cho rằng người tu cần gì đẹp. Nên nhớ Đức Phật Thích Ca có 32 tướng tốt và 80 vẻ đẹp. Cho nên tu đừng có hủy hoại sắc của mình nghe. Từ chỗ đó ta thấy những người đến với Phật Thích Ca là đa diện chớ không phải là nhất diện. Có người quý mến vẻ đẹp của Phật mà đến tu với Ngài như ông Mác Cá Lí. Ông này thấy 32 tướng tốt và 80 vẻ đẹp của Phật, tỏ lòng ái mộ nên quyết định bỏ tôn giáo Bà la môn để xuất gia, muốn được mỗi ngày nhìn dung nhan của Phật. Có một câu chuyện lãng mạn như vậy đó. Cho nên ông Mác Cá Lí xuất gia tu hành nhưng trải qua một thời gian dài không có tiến triển. Một hôm đức Phật Thích Ca kêu ông Mác Cá Lí và nói: “Nhà ngươi vào đây tu là để chuyển hóa, để bớt phiền não, chấm dứt sanh tử luân hồi. Cho nên vào tu chớ không phải để ái luyến dung nhan Như Lai. Nếu còn ái luyến như vậy ta sẽ đổi đi chỗ khác không cho ở chung một ngôi chùa nữa”. Ông Mác Cá Lí nghe Phật nói vậy buồn lắm, giống như kẻ thất tình, ông ta bèn bỏ đi và có ý muốn tự tử. Ông đi lên núi cao, đứng trên đỉnh cao nhất rồi ông nói: “Kính bạch Đức Thế Tôn, đệ tử vào đây xuất gia để được nhìn dung nhan Đức Thế Tôn, mà Đức Thế Tôn nay không hoan hỷ còn muốn đuổi đệ tử đi nơi khác, nên Mác Cá Lí này chỉ còn cách nhảy xuống núi, xin Đức Thế Tôn chứng giám cho lòng Mác Cá Lí”. Nói xong ông ta phi thân nhảy xuống núi. Phật dùng thần thông hiểu được tâm tư của Mác Cá Lí, Ngài bèn bay đến đưa tay đỡ Mác Cá Lý đang rơi giữa không gian và nói bài kệ rằng: “Vạn pháp vô thường, tất cả các pháp đều hoại diệt và Mác Ca Lí chớ nên dính mắc, say đắm”. Ngay đó, Mác Ca Lí chứng đắc đạo quả giữa không gian trên bàn tay Phật. Câu chuyện với những tình tiết thật lãng mạn. Đó là vị thánh đệ tử duy nhất của Đức Phật đắc đạo giữa hư không. Ngoài ra, chúng ta thấy cũng có những người theo Phật Thích Ca vì sùng kính Ngài. Trước khi đi tu, Phật là một Thái tử, là bậc đế vương nhưng đã bỏ tất cả nhung lụa, quyền uy mà chọn cuộc sống rày đây mai đó, làm bạn với trăng thanh gió mát, trở thành kẻ hành khất. Ngài ý thức con đường giác ngộ nên buông bỏ tất cả. Chính vì vậy người ta quý kính đức hạnh của Phật mà đi học Phật. Có người đi tu theo Ngài vì thấy Ngài có trí tuệ thần thông quảng đại. Phật có thể dùng thần thông lên trời, xuống biển dễ như lật bàn tay. Nên có người vì ngưỡng mộ thần thông của Phật mà tu theo Ngài. Do vậy, có rất nhiều lý do để người ta xuất gia theo Phật. Có người nói tu không nên đẹp, vì thế nhiều khi cả tháng trời không dám soi gương. Hãy nhớ, chúng ta là con Phật nên phải giống Phật. Đức Phật có 32 tướng tốt thì ta cũng phải có ít nhất một tướng tốt. Trong luật tỳ kheo, Phật cấm không cho xuất gia những người một mắt, cụt tay, cụt chân, người dị tướng. Điều đó cho thấy tăng đoàn của Ngài rất thanh tịnh. Tăng đoàn của Phật dành cho những người thực tu thực học. Vì nếu cụt tay, cụt chân vô tu trong Giáo hội, đàn na tín thí người ta hiểu lầm nói những điều không hay thì gây nên khẩu nghiệp. Cho nên đúng theo luật Phật người cụt tay, cụt chân, thiếu tứ chi thì không được phép xuất gia. Như vậy những người xuất gia đa phần là những người đẹp tướng. Vật thí thứ ba mà người cư sĩ tại gia cúng dường cho tăng ni là thuốc chữa bệnh. Quý vị cúng dường thuốc liên quan tới y học. Tứ vật dụng gồm có chỗ ở, thực phẩm, y phục và thuốc chữa bệnh. Đó là 4 loại vật thí người cư sĩ tại gia nên cúng dường cho chúng tăng xem như phước thù thắng.

- Đối tượng thí: Khi mình bố thí là có phước. Có người hỏi: Con thấy sư thầy đó đi bát, con bố thí nhưng sau biết sư thầy giả, vậy có phước hay không? Vẫn có phước. Tại sao? Đức Phật dạy mình bố thí cho loài thú bằng tâm từ, tâm bác ái thì 500 kiếp không nghèo. Bố thí 10 lần cho loài thú như vậy thì không bằng 1 lần cho con người không có giữ giới (sáng ăn xin, chiều đánh bài hoặc sáng ăn xin, chiều đi nhậu). Mà bố thí 10 lần cho người không giới không bằng 1 lần cho người có giới. Người có giới là những hành giả, phật tử tu bát quan trai, thọ ngũ giới, tu thiền, niệm phật, tu phật thất. Ai bố thí cúng dường cho những người này, phước thù thắng. Nhưng bố thí cho những người phàm phu nhiều như vậy không bằng cho những người có tuệ giác, có đạo lực, có phạm hạnh, có thần thông chứng được đạo quả. Cho nên Phật dạy bố thí là có phước nhưng phước nhiều hay phước ít còn do đối tượng thí. Chẳng hạn quý vị đi từ thiện ở ngoài 10 lần không bằng cúng dường 1 lần cho chúng tăng, những người thực tu thực học, cúng dường cho cha mẹ, cho người có 5 giới, 8 giới, giới bồ tát. Cúng vậy mới được lợi lạc, được thanh tịnh, phước mới nhiều. Cho nên tán dương thí chủ đã chọn chùa Long Vân hằng năm để bố thí cúng cho chúng tăng trong mùa an cư. Đây là sự chọn lựa rất hợp lẽ đạo.

Như vậy, cúng dường có ý nghĩa, phước vô cùng cao thượng. Phật dạy, bố thí cúng dường đến cho chúng tăng hay bố thí cúng dường mà hội đủ ba yếu tố, ba điều kiện là tâm thí, vật thí, đối tượng thí thì phước báu vô lượng, vô biên. Phật dạy: “Người bố thí cúng dường hợp pháp, hợp đạo nhiều cho phước nhiều giống như nước mà chảy trên cao xuống dưới thấp”, giống như ta trồng một cây, khi hội đủ nhân duyên mùa màng thì cây đó không phải trái một mùa mà nhiều mùa, không chỉ có trái một năm mà nhiều năm. Khi một vị tu thiền định nếu đắc đạo quả, ai đến cúng dường sẽ có phước báu nhiều. Chuyện ngày xưa kể rằng khi Ngài Xá Lợi Phất xả thiền duyệt, có hai vợ chồng Bà La Môn nghèo nhưng đã phát tâm hoan hỷ cúng dường Ngài một bữa cơm trưa. Người chồng dù không thấy vợ đem cơm cho mình vì cơm này đã cúng dường Ngài Xá Lợi Phất vẫn sanh tâm hoan hỷ đem tăm xỉa răng cúng dường Ngài. Có thể nói cúng dường cho một vị thánh tăng đã nhập thiền duyệt thì phước báu vô lượng vô biên, muốn cái gì có cái đó. Chiều hôm đó, hai vợ chồng Bà La Môn làm ruộng, cuốc đất tới đâu thì thấy vàng tới đó. Hết khối vàng này đến khối vàng khác, toàn là vàng ròng Vua Ba Tư Nặc hay tin bèn cho lính của hoàng gia tới phong tỏa thửa ruộng, cho đây là tài sản quốc gia, không cho hai vợ chồng đem vàng về nhà. Vua sai lính chuyển vàng về hoàng cung nhưng khi mang đi thì vàng biến thành đất. Chỉ có hai vợ chồng người Bà la môn này mới đem được vàng đi về thôi. Câu chuyện này giống như truyện thần thoại có ý nói phước ai nấy hưởng.

Trong thực tế, ở thành phố có người cách đây khoảng 20, 30 năm, họ mua nhà ở quận 1 chừng 20 cây vàng. Nhưng tới năm 2008 họ bán được 4000 cây vàng. Cho nên chúng ta hiểu câu chuyện hai vợ chồng Bà la môn ngày xưa cày tới đâu thấy vàng tới đó là ý nói người có đầy đủ phước duyên, khi phước trổ thì hưởng phước lộc thôi. Quý vị thấy nhà to lớn thì người có đức độ, uy quyền ở đó. Cây cao lớn thì thần lớn ngự trị. Chùa lớn thì trụ trì đại duyên, đại phước ở giống như chùa Long Vân đây. Nhìn ngôi chùa thì chúng ta biết bề dày của người lãnh đạo, bề dày tu học của đại chúng ở đây. Phải đủ phước duyên mới làm được như vậy. Chúng tôi nhìn cảnh chùa này chúng tôi quý mến ni sư trụ trì và chúng tăng ở đây nhiều hơn. Cuộc đời một người xuất gia có khi đến chết cũng không lập được một kiểng chùa nào hoặc không đủ phước duyên xây được chùa lớn hoặc xây được thì cũng nhứt tăng nhứt tự mà thôi. Còn chùa Long Vân thì chùa to phật lớn mà chúng tăng hành giả đến đây tu tập nhiều, đó là phước đức vô lượng, vô biên. Chùa Kỳ Viên thời đức Phật do Trưởng giả Cấp Cô Độc cúng dường có thể chứa 10 ngàn nhà sư thời đó. Quý vị đi Ấn Độ bây giờ vẫn còn thấy đất đai của khu vực chùa Kỳ Viên hãy còn mênh mông rộng lớn. Cổng chùa Kỳ Viên xưa lịch sử ghi lại to lớn hùng vĩ đến độ những ngoại đạo muốn chất vấn Phật Thích Ca khi đi ngang qua cái cổng chùa đồ sộ, tự nhiên sợ hãi, lông tóc dựng ngược trước sự hùng vĩ, uy nghiêm của chùa nên phải bỏ xuống tà ý.

Nói tóm lại, bố thí có 3 yếu tố: Tâm thí, vật thí và đối tượng thí. Khi quý vị bố thí tứ vật dụng là quý vị đã làm cho đời sống được an vui, đầy đủ, giảm bớt sự khổ, tạo ra nhân duyên giữa mình với Phật pháp, giữa chúng sanh với Phật pháp để họ sẽ được tiếp độ khi nhân duyên đã được hội tụ đầy đủ. Chúng ta thực hành pháp bố thí, mỗi thờ điểm đều là tùy thuận nhân duyên. Cho nên người bố thí phải hoan hỷ vui cười khi bố thí, hãy khởi tâm thí vô lượng. Tức là cũng tự biết rằng con đường vô thượng không thối chuyển, nửa ngón chân cũng không lui lại, dù có phải xả bỏ thân mạng, thọ mạng, đời này, đời sau. Con đường này trùng trùng thiên ma, ngoại ma, trùng trùng chướng duyên (như Thái tử Tu Đại Noa đã từng vung gươm lên) nhưng ta vẫn dùng một tâm bi vô lượng, một tâm vô ngã thanh tịnh để đi qua ngưỡng cửa của Pháp bố thí này vậy. Nếu chẳng thể khởi tâm vô thượng bồ đề, cũng chẳng thành tựu PHẬT ĐẠO./

Giảng đường: chùa Long Vân, Đồng Nai.
Khóa tu Phật thất (Mùa an cư) dành cho các Phật tử lần thứ 47.

Giảng sư

Kết nối

Tổng số truy cập
Thông tin: 22.918
Pháp Âm: 28.011
Đang truy cập
Hôm qua: 18985
Tổng truy cập: 4.628.254
Số người đang online: 533
hosting gia re , web gia re tron goi , thiet ke web tron goi tai ho chi minh, binh duong, vung tau, ha noi, ca nuoc , thiet ke web tron goi gia re