chuabuuchau.com.vn,chuabuuchau, chua buu chau, chùa bửu châu, chua buu chau cu chi

Phần III - 6. Thập quán Sa Môn hạnh

MỤC LỤC

Hạnh của người xuất gia là đề tài giảng cho tăng ni nhưng phật tử vẫn nghe được. Quý vị vào chùa tu muốn trở thành phật tử cũng là có tâm lý xuất gia. Tiếng phạn phật tử là Buddhasatta. Phật là sáng suốt, tử là con. Con Phật là người đi theo Phật .Và phật tử nghĩa là mình quyết định quy y Phật Pháp Tăng, đi theo con đường giác ngộ của Phật. Cô Diệu Huấn biết chúng tôi trong chuyến đi Ấn Độ, nay cô ấy tổ chức xe đưa đón mọi người đến chùa Bửu Quang để quý vị biết thêm một ngôi tổ đình có truyền thống từ lâu đời của Phật giáo Nguyên thủy Theraveda Việt Nam.

Xuất gia trong Phật giáo có 3 nghĩa: Xuất thế tục gia, xuất phiền não gia và xuất tam giới gia. Xuất thế tục gia hiểu nôm na là cạo đầu, mặc áo cà sa, sống ở chùa. Xuất phiền não gia nghĩa là mình phải thanh lọc tâm. Khi chưa tu thì tánh nóng nảy nay xuất gia tập bớt nóng. Xưa tham thì nay bớt tham, xưa tướng xấu thì nay sửa tướng đẹp một chút. Xuất tam giới gia: mục đích người tu là xuất dục giới, sắc giới và vô sắc giới để nhập Niết bàn chứng đạo quả. Chúng ta còn trong tam giới là còn đau khổ, còn vô thường. Chúng ta đang ở cõi dục. Nếu người tu thiền đắc sơ thiền đến Tứ thiền gọi là nhập 16 cõi Phạm thiên sắc giới. Tu bốn đề mục Vô sắc: Không vô biên xứ, Thức vô biên xứ, Vô sở hữu xứ, Phi tưởng phi phi tưởng xứ, đương nhiên những vị này đã nhập 4 tầng thiền vô sắc.

Trong tam giới, theo tạng Pali ta có 31 cõi. 11 cõi dục giới, 16 cõi sắc giới và 4 cõi vô sắc giới. Cho nên chúng ta tu để đạt mục đích cao hơn là thoát ra tam giới, đạt trạng thái vô tham, vô sân, vô si. Đối với người phật tử, khi đi chùa lạy Phật nghe kinh, mặc áo lam cũng có nghĩa là mình xuất thế tục gia ngay lúc đó. Bữa nay bỏ nhà vô chùa tu một ngày, có khó chịu ai cũng âm thầm mỉm cười, có gì không vui thì cố tập vui. Thời Đức Phật, khi thành đạo thì những người đệ tử của Phật xuất gia theo dạng thiện lai tỳ khưu tức là bằng hình thức, Phật gọi: Hãy vào đây là tỳ kheo, tiếng Phạn Ehibhikkhu, người hữu duyên tự nhiên tóc rụng, là người tu theo mệnh lệnh, là đủ phước duyên. Sau này có nghi thức xuất gia. Có người ban đầu xin Phật xuất gia, Phật cho đi tu liền, có người đi tu về bị cha mẹ phản đối. Cho nên về sau Phật mới ra điều lệ ai đi tu thì phải có sự đồng ý của cha mẹ. Từ đó đến nay trong Giáo hội vẫn thực hiện điều này. Bây giờ người đi tu phải tự điền vào mẫu đơn, cha mẹ ký vào, có trụ trì chùa xác nhận, đại diện Phật giáo quận, thành phố ký vào. Bên cạnh đó cũng có giấy khám sức khỏe mới nhất. Như vậy người xuất gia phải ở trong chùa tập làm giới tử, học kinh kệ, học đi đứng, học làm công quả. Ở chùa, cái bếp là nơi lắm chuyện nhất. Giới tử ở đó tập làm công quả mà không thấy ai phản ứng chứng tỏ là không lắm chuyện thì cho tu là an toàn. Nhưng vấn đề ở đây quan trọng là cần có một tổ chức hoàn hảo, trong môi trường đó, họ tự động chuyển hóa rất đẹp. Chính tổ chức đó là môi trường giúp cho người tu chuyển hóa.

Bổn phận của người xuất gia, trong kinh nhật tụng Phật dạy có 10 hạnh của người xuất gia, tăng ni đọc mỗi ngày để quán tưởng. Ta nghe để phản chiếu lại chính mình, phật tử nghe để hoan hỷ với hạnh của người tu:

“Xuất gia nghi mạo khác đời,
Sống nương đàn Việt thảnh thơi cửa thiền.”

 
Người xuất gia tướng mạo khác thường. Đầu cạo trọc, mặc áo cà sa. Chúng tôi khi còn nhỏ gặp các sư ở chùa Siêu Lý (Vĩnh Long) về thăm nhà thấy mặc áo ngộ ngộ. Sau gia đình bên nội cũng có mời mấy sư cô về nhà. Thấy người đi tu mặc y áo lạ quá. Vì mình mặc y áo theo Phật, nghi mạo khác thường nên khi làm gì mình nhớ mình đại diện cho Phật Pháp Tăng nên cũng phải thu thúc lục căn. Đón xe buýt, trước kia nếu bị trễ xe là chạy theo la chới với, nhưng giờ tu rồi thì ta không chạy nữa. Nghi mạo khác thường cho thấy tư cách của người tu. Người tu phải ở chùa, sống nương cửa thiền, tu tâm dồi mài kinh sử, làm phước thiện để sửa đổi tâm tánh của mình.

“Tư cách bổn phận cần chuyên,
Oai nghi giới hạnh không phiền đến ai.”

 
Tư cách bổn phận luôn phải trau dồi. Người xuất gia phải có tư cách, người phật tử phải có tư cách. Tu phật phải có tư cách, thanh thoát nhẹ nhàng giống như là tư cách thoát tục. Những người tham gia khóa thiền ở Miến Điện về có sự thay đổi từ cách đi, cách ăn, cách nói. Bổn phận Phật tử tư cách phải luôn luôn trau dồi, mang tính chất hướng thiện, làm những chuyện tốt cho bá tánh, cho đạo pháp. Nếu những điều mình làm mang tiếng cho đạo, cho chùa thì không làm. Hãy làm những điều tốt đời tốt đạo. Bổn phận tư cách phải trau dồi liên tục, sửa đổi oai nghi tế hạnh, sống ở chùa không làm phiền tới ai. Nếu có làm phiền phải sửa đổi. Người tu giống như cánh nhạn bay vào không gian mà không làm phiền tới ai. Nếu oai nghi tế hạnh làm phiền hội chúng, phật tử thì phải sửa đổi. Phật Hoàng Trần Nhân Tông có câu nói: “Bình thường là đạo”. Bình thường là người đi tu sống ở chùa, mà không làm ai phiền mình hết là bình thường, là đạo. Ở nhà đi đến đâu người ta cũng hoan hỷ, đó là bình thường.

“Nếu đồng phạm hạnh chê bai,
Sớm lo cảnh tỉnh miệt mài tu thân.”

 
Nếu tu sống chung với mọi người mà người ta chê bai đánh giá mình liên quan tới pháp và luật thì người tu mau mau “Cảnh tỉnh miệt mài tu thân”. Không cần đính chính bào chữa mà phải lo tu, hoặc nhìn lại tâm của mình. Người ta phê bình mình thì mình phải nhìn lại mình. Người đời thường đính chính, bào chữa. Người tu bị đánh giá thì không cần bào chữa, hãy nhìn cái tâm bất thiện, khó chịu, tư cách đạo hạnh của mình. Nếu người ta đánh giá mình đúng theo pháp và luật thì mình phải sửa đổi. Tu là bắt chước, là sửa đổi. Nếu thấy đồng phạm hạnh của mình có những tấm gương hay thì mình phải bắt chước, tự nhiên mình sẽ tốt, trong sáng, lành mạnh.

“Nhân vật yêu mến xa gần,
Vô thường tan hợp, xoay vần hợp tan.”

 
Người tu nhìn con người của chúng ta. Những người chung quanh ta đều chịu chung số phận vô thường. Người chê, người khen ta đều quán tưởng đều là vô thường, thay đổi, không tồn tại. Người khen chết, người chê chết, mình cũng chết. Ai cũng chịu chung vô thường, khổ, vô ngã. Như vậy ta không buồn phiền tức giận. Thông thường con người ta được khen thì thích, bị chê thì ghét, khó chịu. Giữa người thích và người không thích, người tu phải nhìn bằng lăng kính vô thường. Quán như thế để tha thứ, để bình tâm tu tốt.

“Nghiệp là tài sản đa mang,
Nghiệp là quyến thuộc lại càng chớ khinh.”

 
Nghiệp là hành động thiện và ác. Hôm nay quý vị đi chùa là gieo được hạt giống thiện. Tu thiền, nghe pháp là phước thanh cao, là nghiệp đại thiện. Nghiệp là tài sản đa mang, thiện cũng mang, ác cũng mang. Cho nên người tu có trí thì họ siêng năng làm thiện vì họ biết mỗi hành động thiện cho quả thiện.

Bồ tát sợ nhân, chúng sanh sợ quả. Bồ tát có trí sợ nhân bất thiện, còn phàm phu tục tử chúng ta sợ quả bất thiện. Nếu có quả bất thiện trổ thì học cách vui nhận. Nghiệp là quyến thuộc, không bao giờ ta bỏ được. Giống như con, cha mẹ, anh em, chồng vợ chúng ta là quyến thuộc chúng ta. Con dù xấu thì vẫn là con của mình. Cho nên nó gắn liền với chúng ta. Hành động thiện ác cũng là quyến thuộc gắn bó với ta như hình với bóng. Những người bạn đưa chúng ta tới nấm mồ, tới nơi hỏa táng mà thôi. Người thân thương lắm thì quyến luyến trong tâm một tuần, hai tuần, một tháng, hai tháng lâu dần sẽ quên trong dĩ vãng. Nhưng đức Phật dạy, có hai người bạn luôn theo sát ta suốt quá trình sanh tử luân hồi, đó là người bạn thiện và người bạn ác. Người tu tin nhân quả nghiêp báo. Tạo nhân tốt thì có quả tốt. Ngược lại tạo nhân xấu thì có quả xấu. Tất cả những môn nghệ thuật như phim ảnh, văn học đều nói lên tính nhân quả, nghiệp báo trong đời sống.

“Nghiệp là sở ỷ, sở sinh,
Nhân quả thiện ác phân minh nhiệm mầu.”

 
Trong Trung bộ kinh có bài kinh về phân biệt nghiệp. Trong Tương Ưng bộ kinh có nhiều phẩm Phật nói về nghiệp. Kinh Pháp cú có 423 câu kinh, bài đầu tiên nói về lập trường học thuyết Phật giáo nói lên nhân quả. Người tu không tin nhân quả là lỗi đạo, không sợ nhân quả là nguy hại to. Người tin nhân quả sẽ siêng năng trong điều thiện, hăng hái trong việc hành đạo. Người tu sáng công phu, chiều công phu. Có những bài kinh đọc đi, đọc lại. Nhiều khi tâm mình giải đãi, dễ duôi, công phu không đầy đủ. Phật dạy: “Dễ duôi là con đường tử, không dễ duôi là con đường bất diệt”. Một người hành đạo, ngày nào cũng công phu, hành thiền nhìn gương học là ta phục rồi. Tu là hành chớ không nói nhiều. Tu là tự thiết lập cho mình pháp thiện. Tu là làm những việc lặp đi lặp lại, nói lên hạnh tu siêng năng trong chánh pháp, chớ xem thường sự lặp đi lặp lại. Chúng ta có thể không cúi đầu trước những người thao thao bất tuyệt nhưng có thể rung động trước những người không bỏ công phu, có tâm tu hành niệm phật mỗi ngày. Lời nói không đẹp bằng hành động.

“Ngày đêm thấm thoắt bóng câu,
Làm gì xứng hạnh tầm cầu vô sanh.”

 
Thời gian qua mau, sự sống ta giảm bớt. Vậy ta làm gì cho đạo. Vô sanh: vô tham, vô sân, vô si. Hướng về quả đạo Niết bàn là công phu hành thiền giữ giới. Làm như vậy ngày này qua ngày nọ ta sẽ đến gần quả vị Phật. Hãy làm những gì có ích lợi cho cộng đồng, bá tánh, làm những gì giúp lợi lạc cho người chung quanh ta vui vẻ, nếu làm cho họ phiền não đêm ta ăn năn với lương tâm. Ta quán chiếu tâm ta mỗi ngày, làm gì tốt cho chung quanh, đồng hành với bá tánh.

“Trong không tịnh xứ tinh cần,
Độc cư thiền tịnh phá dần tham sân.

 
Biết đạo là một điều khó. Xuất gia là một điều khó. Không biết hành thiền là một điều khó hơn. Pháp cú Phật dạy dù sống trăm năm mà không có thiền định không bằng một ngày có thiền định. Người sống trăm năm mà trong dễ duôi, sân si không bằng người có hành thiền, bớt tham sân si. Người tu hãy dành thời gian công phu niệm phật, hành thiền cho nhiều.

“Tu hành pháp bậc cao nhân,
Ngộ thánh tri kiến giả chân tỏ tường.”

 
Người tu phải đạt thánh sản trong Phật giáo. Trong thế gian có nhiều của quý nhưng không gì quý bằng ân đức Phật Pháp Tăng. Tài sản sẽ vô thường, cho nên người tu phải tìm thánh sản, đó là niềm tin, giới hạnh, trí tuệ, bố thí, hổ thẹn tội lỗi, ghê sợ tội lỗi, chánh niệm. Những người xuất gia có tin nhân quả nghiệp báu. Quý vị tới đây tu thiền là có hạt giống thánh sản trong tâm. Niềm tin này hình thành trên nhân quả nghiệp báo. Nhờ có thánh sản này mà ta “Ngộ tánh tri kiến liễu chân tỏ tường”. Cuộc đời ai cũng phải chết, già, bệnh. Nếu mình làm tốt sẽ để lại tiếng thơm, làm xấu sẽ để tiếng xấu.

“Đến khi sanh mạng vô thường,
Các đồng phạm hạnh tư lường hỏi han.
Xét mình tâm đã bình an
Ra đi chẳng thẹn cùng hàng sa môn.”

 
Người tu ra đi, nếu tu tốt ra đi thanh thản. Người không tu tốt lúc nào cũng biểu hiện tham sân si. Làm trụ trì mặt hằm hằm, không thấy cười, cuối cùng sẽ sống một mình, giống như lửa nóng. Người tu đạt đến chừng mực nào đó thì tâm thông cảm lớn, tâm tha thứ cao nên có thể mình cười, thoải mái, tha thứ, thông cảm được. Người tu là những bậc lãnh đạo tinh thần nên phải có tư cách, đạo hạnh, tâm vị tha .Có buồn cũng phải cười khi gặp mọi người. Nếu họ đến gặp mình để muốn mình chia sẻ nhưng mình than trước rồi thì người ta cũng chẳng dám xin mình một lời khuyên. Những bậc cha mẹ cũng vậy, mình lãnh đạo tinh thần cho con cái thì phải có tư cách đạo hạnh con cái mới nghe lời. Trong kinh Trưởng lão tăng kệ giới thiệu những tấm gương các vị thánh thời đức Phật, những thánh ni, mỗi người là một tấm gương tuyệt vời, một bài học về cuộc đời của họ. Khi họ thành đạo họ có phương pháp tu rất hay. Hãy tìm đọc “Chú giải trưởng lão ni kệ” hoặc “Những người con gái của Đức Phật”.

Trong Trung Bộ Kinh có bài kinh nói về công tử Ratthapala[7]. Ngài tu thành bậc A La Hán. Một hôm Ngài ôm bình bát đến trước nhà mình[8] để khất thực. Ông cha không nhận ra con trai của mình mà chỉ thấy một ông thầy chùa nên sanh tâm ghét, người nhà không ai đặt bát nên Ngài bỏ đi. Một lát sau gặp cô gái người làm trong nhà đem cháo thiu đi bỏ. Ngài nói hãy đổ vô bát của bần đạo. Người tớ gái đem cháo tới đổ vào bát chợt nhìn mụt ruồi trên mặt người tu thấy quen quen, nhìn dưới chân thấy quen quen, nhìn lên mặt thấy quen quen. Người tớ gái bèn chạy về nhà báo tiểu chủ đã về. Ngài đại đức nhận bình bát xong bèn tìm gốc cây ngồi ăn. Nếu người phàm phu thì sẽ tủi lắm vì vốn là dòng dõi giàu sang, về thăm nhà không nhìn mà còn nguyền rủa, nên phải ngồi ăn cháo thiu, mà cháo đó là của nhà mình. Nhưng đại đức là bậc thánh, Ngài nghĩ đến chuyện tế độ nên xem như không có gì xảy ra. Ngài ăn vừa xong thì gia đình kéo nhau đến. Ông cha giựt bỏ cháo thiu rồi nói sao đi về thăm nhà mà không vô nhà? Ngài đại đức ôn tồn nhã nhặn nói: Bần đạo bây giờ là vô gia cư, không nhà, sống nhờ bá tánh, đi khất thực là hạnh của sa môn, sống nương mọi người để phá bản ngã. Ông cha nói thôi mời con đi về nhà. Đại đức nói để ngày mai. Ông cha hiểu ý nói để ngày mai gia đình mời con về thọ trai. Hôm đó đại đức về vườn thượng uyển ở.

Trong lúc đó ông cha kêu những người vợ trước kia chuẩn bị, trang điểm khéo; kêu gia nhân chuẩn bị trước châu báu lụa là. Sáng đó ăn cơm xong, ông cha kéo tấm màn ra nói, đây là châu báu lụa là, đây là các vợ con, hãy kế tục sự nghiệp của ta. Những người vợ nắm níu đại đức. Ngài nói: Này các hiền tỷ đừng phiền nhiễu bần đạo mà mang tội. Rồi Ngài nói một bài kệ: sắc sẽ tàn úa theo thời gian, những người phàm phu thì còn dính mắc còn những bậc thánh thì xem đó như là một ổ đầy khổ lụy. Sau đó Ngài xoay qua nói với cha: tài sản này nó là một sự lo âu, là chướng duyên phiền não. Có người hiểu Ngài thì tỏ ngộ chân lý, người không hiểu thì oán trách.

Đức vua Korreyya biết công tử Ratthapala đã xuất gia, không bị danh lợi, không bị sắc dục và tài sản chi phối. Hay tin một gương thoát tục trong vương quốc của mình nên vua đến gặp Ngài đại đức.

Nhà vua: Ta được nghe công tử đã đi tu, là đệ tử của đức Gotama, trở về không bị cám dỗ bởi sắc dục, bởi tài sản. Nhưng nguyên do nào đại đức có được?

Ngài đại đức: Tâu đại vương, bần đạo đi tu vì được biết thế giới là vô thường đi đến hủy diệt; thế giới là vô hộ vô chủ; thế giới là vô sở hữu, phải từ bỏ tất cả để rồi ra đi; thế giới là thiếu thốn, khao khát, nô lệ cho tham ái, bần đạo được nghe, được hiểu và liễu tri những điều đó từ lời dạy của đức Phật, đó là sự thật của cuộc đời này, cho nên bần đạo đi tu.

Nhà vua: Thế giới vô thường đi đến hủy diệt là sao?

Ngài đại đức: Ngày xưa Đại vương khỏe mạnh, nay già yếu, tóc bạc, da nhăn, lưng mỏi. Tâu đại vương, đó là thế giới vô thường đi đến chỗ hủy diệt là vậy.

Nhà vua: Thế giới vô hộ vô chủ là sao?

Ngài đại đức: Không ai làm chủ được mình, mà mình cũng không làm chủ được ai. Đau một mình, mình tự chịu lấy, đâu có ai muốn bịnh nhưng phải bịnh. Tâu đại vương, đó là thế giới vô hộ, vô chủ là vậy.

Nhà vua: Thế giới là vô sở hữu phải từ bỏ tất cả để rồi ra đi là sao?

Ngài đại đức: Đại vương có bao giờ nghĩ tài sản, sự nghiệp của đại vương sẽ theo và tồn tại với đại vương mãi mãi không? Hay đến lúc nào đó, đến với thế gian hai bàn tay trắng, ra đi cũng hai bàn tay trắng. Tâu đại vương, đó là thế giới vô sở hữu đều phải từ bỏ tất cả rồi ra đi là vậy.

Nhà vua: Thế giới là thiếu thốn, là tham ái cho nô lệ là sao?

Ngài đại đức: Lòng tham ái con người vô tận. Nếu đại vương nghe nói đâu có vương quốc nào, binh mã yếu, đất nước tài nguyên phong phú, có khả năng là đại vương cử tướng lãnh đến đánh phá chiếm đoạt về cho lãnh thổ của mình. Tâu đại vương, đó là thế giới tham ái cho nô lệ và vậy.

Quán thấy thế giới này vô thường, quán thấy không ai làm chủ được mình, quán thấy già bịnh chết, quán thấy lòng ham con người vô bờ bến nên bần đạo mới đi tu.

Hôm nay quý vị đến hành thiền, nghe pháp. Chúng tôi có duyên lành thuyết pháp về thập quán sa môn hạnh, giúp cho quý vị quán chiếu đời sống tu của mình để làm cho tốt, cho đúng theo giới luật của Phật, đồng thời nhắc nhở chúng ta đúng pháp, đúng luật, tiếp nối truyền thừa của Phật, làm tấm gương cho đại chúng noi theo. Kết quả tu tập của một người tu được biểu hiện nơi cách sống, nơi sự đối xử với mọi người, với chúng sanh ngày. Chúng ta thấy người xuất gia ngày càng tinh tế trong phạm hạnh, ngày càng sâu sắc trong oai nghi, ngày càng vị tha trong đối nhân xử thế, chúng ta biết người xuất gia đó là người tu đúng pháp và luật, là người có tiến bộ. Ngược lại, nếu chúng ta thấy người xuất gia còn nhiều hời hợt trong ứng xử với mọi người, còn nhiều dèm pha, lắm chuyện, điên đảo thị phi, còn nhiều ích kỷ, tham sân si, còn nhiều tính toán lợi ích cá nhân, chúng ta biết người tu ấy chưa có thiền định vững vàng, có thể đổ vỡ thập sa môn hạnh, có thể không đi trọn con đường tu hành đã chọn. Cho nên, Thập sa môn hạnh là bài học đạo đức mà người xuất gia cũng như Phật tử phải nên hàn tập, biến thành nếp sống hằng ngày của chúng ta. Đây là bài học phạm hạnh Phật dạy cho chúng ta không chỉ đời này mà cho cả đời sau, sau nữa./.

Giảng đường: Tổ đình chùa Bửu Quang – Thủ Đức.
Khóa tu một  ngày ngồi thiền, học pháp và vấn đáp pháp cho chư tăng và tu nữ, tổ chức định kỳ mỗi tháng.
Sau này khóa tu có thêm sự tham gia của các phật tử Sài Gòn do gia đình cô Diệu Huấn trợ duyên.
____________

[7]. Ngài đại đức Ratthapala là một vị thánh. Quê hương của Ngài ở thủ đô New Dehli. Tại quê hương này, Phật thuyết bài kinh Tứ Niệm Xứ.

[8]. Chúng tôi có một lần ghé nơi Phật thuyết kinh Đại niệm xứ (quê hương của Ngài đại đức Ratthapala), xứ Kú Rú, thủ đô New Dedhi bây giờ, đây vẫn đang là những đồi đất hoang vắng.

Giảng sư

Kết nối

Tổng số truy cập
Thông tin: 22.918
Pháp Âm: 28.011
Đang truy cập
Hôm qua: 18985
Tổng truy cập: 4.627.913
Số người đang online: 485
hosting gia re , web gia re tron goi , thiet ke web tron goi tai ho chi minh, binh duong, vung tau, ha noi, ca nuoc , thiet ke web tron goi gia re