chuabuuchau.com.vn,chuabuuchau, chua buu chau, chùa bửu châu, chua buu chau cu chi

Phần VI - 2. Điều Ngự Trượng Phu

MỤC LỤC

“Thiện thay đức Phật tuyệt vời
Với lòng từ mẫn giảng lời diệu ngôn
Độ người đoạn tuyệt mê hồn
Dứt trừ cuộc sống sanh tồn khổ đau.

Thiện thay chánh Pháp nhiệm mầu
Dẫn đường giải thoát khổ sầu tử sinh
Vẹt trừ u tối quán minh
Chứng tri an trú tuệ minh rạng rời.

Thiện thay tăng chúng lánh đời
Theo chân từ phụ sa rời đọa xa
Tự mình tu vượt phong ba
Mà cùng hướng dẫn người ra khỏi đời.”

 
Đệ tử thành kính tán dương ân đức Tam Bảo, là Phật bảo, Pháp bảo và Tăng bảo, do nhờ uy lực Tam Bảo, xin gia hộ toàn thể Chư tôn đức Tăng Ni; toàn thể chư thiện nam tín nữ được năm điều hạnh phúc: sống lâu, sắc đẹp, an vui, sức mạnh và luôn có trí huệ sáng suốt. Mong cho 5 điều an lành này hằng gia tăng đến toàn thể quý vị.

Kính thưa toàn thể đại chúng, hôm nay là ngày tổ chức khóa tu niệm Hồng danh Đức Phật định kỳ lần thứ 57 tại Thiền viện Thiện Minh - huyện Long Hồ, tình Vĩnh Long, đồng thời cũng là ngày mà toàn thể đất nước Việt Nam đang tưng bừng tổ chức Đại lễ 2 tháng 9 - ngày Quốc Khánh nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Ngày Quốc Khánh là ngày lễ trọng đại trong năm vậy mà quí vị vẫn dành thời gian về đây tham dự một ngày tu niệm Hồng danh Đức Phật “Araham Sammā Sambuddho” thì quả thật vô cùng phước báu và vinh dự cho ban tổ chức khoá tu. Sư đại diện Ban tổ chức xin tán dương công đức Tăng Ni và quý Phật tử gần xa. Cầu nguyện Tam Bảo luôn gia hộ Tăng ni và Phật tử luôn an lạc, mọi việc hanh thông.

Niệm Hồng danh Đức Phật “Araham Sammā Sambuddho” là để giúp chúng ta thanh lọc than tâm của mình. Chúng ta niệm nhiều, niệm liên tục và niệm thường xuyên thì sẽ đạt được phép lạ, huyền diệu trong cuộc sống, đồng thời nó sẽ giúp cho tâm chúng ta được tĩnh lặng. Niệm Phật cũng như là một phương tiện giúp cho chúng ta cảm thấy hanh thông, nhẹ nhàng, và sảng khoái. Chúng ta loại trừ được tham, sân, si; bớt đi cái tâm sanh khởi sự cau có, nóng nảy, cố chấp, và ngã mạn. Phương pháp niệm Phật cũng là phương pháp giúp cho chúng ta tỉnh giác trong đời sống hàng ngày. Chúng ta niệm Hồng danh Đức Phật tương tự như chúng ta đang xem biểu tượng đức Phật như là một tấm gương để soi vào trong cuộc sống thường nhật. Để chúng ta biết dừng lại trước những sanh khởi gây phiền não cho mình và cho người. Do đó, Hôm nay sư sẽ giảng đề tài: ĐIỀU NGỰ TRƯỢNG PHU.

Điều Ngự Trượng Phu là một trong 10 danh hiệu của Phật như là: Như Lai; Ứng Cúng; Chánh Biến Tri; Minh Hạnh Túc; Thiện Thệ; Thế Gian Giải; Vô Thượng Sĩ; Điều Ngự Trượng Phu; Thiên Nhân Sư; Phật, Thế Tôn, thường được nhắc đến trong các bài kinh. Lại nữa, Chư tăng Ni trong Phật giáo thường tán dương 10 Hồng danh này vào các thời khoá công phu chiều và sáng. Thông thường, chúng ta đọc “Đức Thế tôn hiệu Điều Ngự Trượng Phu (Puriṣadamasāratthi) bởi Ngài là đấng tế độ những người hữu duyên nên tế độ”.

Có một số người họ quan niệm Đức Phật là toàn giác và toàn năng. Toàn giác nghĩa là Ngài tự giác ngộ “4 Thánh Đế”. Toàn năng nghĩa là Ngài ban phước, tha tội cho những người xung quanh. Nhưng xin thưa với quí vị, qua Hồng danh Điều Ngự Trượng Phu, chúng ta thấy rằng Đức Phật Ngài chỉ là một bậc toàn giác. Ngài giác ngộ 4 thánh đế và Ngài đem ra giáo hóa chúng sanh để chúng sanh thực hành theo giáo pháp có 4 thánh đế đó. Mục đích của việc thực hành 4 thánh đế là để giúp cho bản thân những chúng sanh thực hành đó được hết khổ, để được chấm dứt sanh tử luân hồi. Còn nghiệp duyên của chúng sanh thì nó vẫn sẽ tự vận hành theo nghiệp duyên từng chúng sanh.

Cho nên, Đức Phật Ngài chỉ tế độ những người hữu duyên nên tế độ, còn những người nào không có duyên với Ngài thì Ngài cũng không tiếp độ. Theo kinh điển ghi chép lại thì vào thời Đức Phật, quí vị thấy có những người thân của Đức Phật bị hại nhưng Ngài cũng không có động thái cản ngăn những chuyển biến đó. Dù Ngài thành Đạo, chứng quả Phật nhưng dòng họ Thích Ca của Ngài bị chu diệt bởi người cháu tên Vidudabha nhưng Ngài cản ngăn 2 lần. Lần thứ ba Ngài quán thấy nghiệp và quả nghiệp của dòng Ngài, nên Ngài không cản ngăn nữa mà để nó tự vận hành.

Bên cạnh đó, Đề bà đạt đa (Devadatta) và vua Thiện Giác (Suppabuddha) là những người thân ở trong gia quyến nhưng quá tham đắm, phạm ngũ nghịch đại tội, nghiệp lực nặng nề, kết quả là bị đất rút. Chúng ta thấy đức Phật cũng không tế độ được. Từ những minh chứng trên cho thấy rằng Đức Phật - Ngài chỉ tế độ cho những người hữu duyên nên tế độ. Qua những dẫn chứng trên, người Phật tử phải tuyệt đối tin nhân quả, nghiệp báo. Trong kinh điển Pali, Điều Ngự Trượng Phu ở đây có 4 lớp nghĩa:

- Ngài chỉ tế độ cho những người có duyên lành với Ngài
- Cách tế độ của Ngài
- Phương pháp tế độ của Ngài
- Những lời giáo huấn của Ngài.

Chỉ tế độ cho những người có duyên lành với ngài: Trước khi giảng giải về ý nghĩa “có duyên lành”, sư cũng muốn giải thích sâu thêm một chút về ý nghĩa của Hồng danh Điều Ngự Trượng Phu cho quí vị rõ. Trượng Phu ở đây có nghĩa là một nam nhân. Một vị Chánh đẳng chánh giác thì phải là nam nhân chứ không phải nữ giới. Phải khẳng định một cách chắc chắn rằng: Chánh Đẳng Chánh Giác từ các vị phật quá khứ, hiện tại, hay vị lai thì đều là nam giới. Có 3 phẩm vị Phật là Phật Thinh Văn Giác (Savakabuddha); Phật Độc Giác (Paccekabuddha); và Phật Chánh Đẳng Chánh Giác (Sammasambuddha). Phật Thinh Văn Giác (Savakabuddha) là có cả nam và nữ, nhưng Phật Độc Giác (Paccekabuddha) và Phật Chánh Đẳng Chánh Giác (Sammasambuddha) thì duy nhất chỉ có nam. Cho nên Hồng danh Điều Ngự Trượng Phu ở đây là ám chỉ một đấng nam - đấng trượng phu có đủ 32 tướng tốt và 80 tướng phụ. Trượng phu này còn có ý ám chỉ về sự thông thái, về thần thông của vị này là quảng đại, về hình dáng tướng mạo bên ngoài thì đủ các tướng đẹp của một nam nhân.

Bây giờ là về thuật ngữ Hữu duyên. Hữu có nghĩa là có, duyên ở đây là cần phải giúp đỡ. Chúng ta từng nghe về điển tích cổ có câu thơ là:

“Hữu duyên thiên lý năng tương ngộ
Vô duyên đối diện bất tương phùng”
tạm dịch là:

“Có duyên ngàn dặm xa còn gặp
Không duyên trước mặt vẫn cách lòng”

 
Vô duyên ở đây có thể được ví như là quanh năm suốt tháng mình gặp họ, nhưng mình không có duyên với họ. Ở thời Đức Phật, có rất nhiều người nhà ở gần chùa Kỳ viên nhưng họ không thích Ngài, họ không thích Phật pháp. Họ đối diện với Phật pháp nhưng lại không có duyên để Ngài tế độ. Ngoài đời, vô duyên thậm chí gần như là đối nghịch nhau. Những người mà đối nghịch với nhau thì: “Bốn mắt nhìn nhau tóe hận thù”. Đã không ưa, không thích nhau thì gặp nhau là buồn bực, là phiền não, là sân si. Cho nên, người đã không có duyên với mình mà mình vẫn cố gặp, cố tế độ cho người thì cũng vô ích. Trong khi đó, có những người ở cách xa ngàn dặm. Đi lại vướng mắc khó khăn nhưng họ có duyên với Đức Phật, họ nghe những danh tiếng về Ngài nên vẫn cố thu xếp, tạo mọi điều kiện thuận lợi để được tới đảnh lễ Ngài, thỉnh Pháp của Ngài, hay còn được Ngài tế độ.

Duyên ở đây còn có nghĩa như là duyên nợ. Giống như: Vợ chồng là duyên nợ; cha mẹ con cái là duyên nợ; sở hữu nhà cửa, đất đai, cũng là duyên nợ… Có những thửa đất hay ngôi nhà có duyên với mình thì mình gặp là ưng ý liền. Mình mua một cách lẹ làng; mình ở cũng thấy ấm êm, hanh thông, suôn sẻ; rồi đến lúc mình bán cũng thấy nhanh chóng, gọn gẽ. Vợ chồng, cha mẹ con cái cũng vậy; cũng có cái duyên thì kiếp này mới gặp, mới sống chung trong một ngôi nhà.

Trong Phật giáo nói hữu duyên cũng như là nói về một ngôi chùa - nơi cư ngụ của Đàn Na Tín Thí. Một vị trụ trì có tâm như thế nào thì tiếp độ hàng cư sĩ tại gia như thế đó. Cho nên vị trụ trì này với người phật tử phải có duyên với nhau thì vị trụ trì đó mới tiếp độ cho người phật tử đó biết quay về nương tựa vào 3 ngôi Tam bảo được.

Để gọi là hữu duyên thì phải dựa trên nhiều cơ sở. Duyên từ trong xa xưa nhiều tiền kiếp là thân bằng quyến thuộc với nhau; là huynh đệ, thầy trò với nhau; là người trao ơn và trả ơn với nhau… Chính những cái duyên này nên bây giờ gặp lại, dù chưa nói chuyện mà chỉ ngó qua ánh mắt, ngó qua tướng đi, ngó qua giọng cười… là tự động mình thấy mến chân mến tay với người đó, là tự động mình thấy có duyên lành với người đó, thấy quí mến người đó, và cảm thấy là cần phải qui tập lại để cùng tu học với nhau. Đây gọi là hữu duyên từ trong nhiều tiền kiếp.

Đức Phật Ngài còn giảng một điều quan trọng nữa là những người có Duyên trong Phật giáo còn phải dựa trên 10 cơ sở, đó là tâm của những người đó phải biết: bố thí, trì giới, tham thiền, cung kính, phục vụ, hồi hướng, tùy hỉ công đức, giảng pháp, nghe pháp, cải tạo tri kiến. Ai hội đủ 10 cơ sở này thì được xem như là người có duyên lành với Phật pháp. Khi mà tâm của một người từ trong nhiều tiền kiếp xa xưa hội tụ đủ 10 yếu tố này thì nay tái sanh trở lại làm người họ sẽ cảm thấy bình an, hòa hợp với những người cũng có duyên lành trong Phật pháp như họ.

Do đó, những người có duyên lành về Phật pháp trong nhiều tiền kiếp với Đức Phật thì ngài mới tế độ. Còn những ai không hội đủ duyên lành với Ngài thì gặp Ngài cũng như không. Ngoài ra, những người mà hữu duyên để Đức Phật tiếp độ phải là người có thực hành đủ 10 pháp độ trong một thời gian dài. Khi họ thực hành 10 pháp độ (bố thí, trì giới, xuất gia, trí tuệ, tinh tấn, nhẫn nại, chân thật, quyết định, tâm từ, và tâm xả) một cách đầy đủ, trang nghiêm, và thanh tịnh thì khi họ gặp Đức Phật họ nghe Ngài nói một câu kệ, dạy một bài pháp, hay kể một câu chuyện là có thể họ đã bừng ngộ.

Cách tế độ: Mỗi người tìm đến với Phật pháp theo mỗi cách khác nhau. Ví dụ như có những người tìm về với Phật giáo vì:

- Họ thích hoạt động từ thiện xã hội
- Họ có lòng tin với người này, với người kia
- Họ theo truyền thống của gia đình
- Họ gặp biến cố trong cuộc sống
- Họ muốn tìm học hỏi, nghiên cứu, tìm hiểu sâu vì triết lý nhà Phật
- Họ ái mộ sự hi sinh của Đức Phật nên muốn noi theo tấm gương của Ngài v.v.

Do nhiều duyên khởi khác nhau nên tâm tánh của những người tìm về với Phật pháp cũng khác nhau. Trong kinh Pháp cú có tích chuyện như sau:

Có một lần, khi Đức Phật thuyết pháp cho 5 người nghe, có Ānanda là thị giả, hầu quạt Đức Phật 1 bên. Còn 5 vị kia:

Một vị ngủ triền miên, ngủ từ đầu chí cuối (1);
Một vị thì chỉ ngó mây, nhìn trời (2);
Một vị thì tay chân ngọ ngoạy không yên (3);
Một vị thì tay bốc cái nọ, bẻ cái kia (4)
 
Vậy là chỉ có một người chú tâm kính pháp và nghe pháp. Còn 4 người còn lại có thái độ thờ ơ, phóng tâm và mất kiên nhẫn. Dẫu vậy, Đức Phật Ngài không tỏ thái độ gì mà vẫn tiếp tục an nhiên, tự tại với bài pháp của mình. Ānanda cảm thấy buồn bực, khó chịu và cuối thời pháp đó Ānanda đã bạch với Thế tôn về những suy tư, thắc mắc của mình. Đức Phật mới dạy rằng: này Ānanda, sở dĩ Như lai có tâm bất động như vậy là do Như Lai nhìn được căn tánh của 5 người kia. Người (1) nghe pháp mà ngủ từ đầu đến cuối là vì 500 kiếp trước người đó là kiếp con rắn; đến kiếp này được tái sanh làm người mà có chịu ngồi nghe pháp là tốt rồi. Vì 500 kiếp làm rắn nên vừa nghe vừa ngủ là chuyện bình thường. Người (2) nghe pháp mà cứ ngó lên trời là vì người này có nhiều kiếp làm thầy thiên văn địa lý. Người (3) nghe pháp mà tay chân ngọ ngoạy không yên là vì 500 kiếp trước người đó là kiếp con giun. Người (4) nghe pháp mà tay bốc cái nọ, bẻ cái kia vì 500 kiếp trước người đó làm con khỉ đột. Vậy nên, ta cần biết thông cảm với tâm tánh của mỗi người vì cái tâm tánh của họ bị ảnh hưởng từ cái căn tánh trong nhiều tiền kiếp trước. Không ai giống ai, không chủng loại nào giống chủng loại nào, không tánh khí nào giống tánh khí nào. Đức Phật Ngài phân ra có 6 loại tánh khí:

3 bất thiện tánh: Tánh tham, tánh sân, tánh si
3 thiện tánh: Tánh tín, tánh giác, tánh tầm.

Con người sẽ có những tánh khí khác nhau như thế này nên cần biết rõ để cảm thông hay tế độ cho họ để đạt được kết quả.

Phương pháp tế độ: Đức Phật tế độ những người ở: Nam Thiện Bộ Châu, Bắc Câu Lưu Châu, Đông Thắng Thần Châu, Tây Ngưu Hóa Châu. Những chúng sanh ở 4 châu này đều được Ngài tiếp độ. Đồng thời, Ngài cũng tiếp độ đến những chúng sanh vô hình, và các hàng chư thiên v.v. Ngôn ngữ để Đức Phật tiếp độ là tiếng Pāli, ngôn ngữ này phổ biến và dễ nghe. Loài thú cũng nghe; Chư thiên cũng nghe; Càn Thát Bà cũng nghe; Phạm thiên cũng nghe. Trong nhiều kinh điển có kể lại rằng Ngài cũng đã từng tế độ con Rồng, Dạ xoa, Phạm thiên và các loài Chúng sanh. Ngoài ra trong các thời Pháp có viết lại rằng, Đức Phật vẫn dành thời gian ban đêm để tế độ hàng Chư thiên.

Lời giáo huấn: Những chúng sanh có duyên với Đức Phật thì Ngài huấn thị 3 giáo huấn căn bản là: không làm các điều ác; hãy làm các điều thiện; giữ tâm ý trong sạch. Không làm các điều ác nghĩa là giữ thân, khẩu, ý trong sạch. Thân trong sạch là không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm. Khẩu trong sạch là không nói dối, không sử dụng các chất say, không nói lời chửi rủa đâm thọc, không nói lời độc ác. Ý trong sạch là không tham, không sân, và không si. Làm các điều thiện nghĩa là Ngài dạy con người tránh xa các điều ác và làm những việc mang lại lợi ích cho người, lợi ích cho mình, và lợi ích cho toàn thể. Giữ tâm ý trong sạch là biết thanh lọc tâm. Để thanh lọc tâm thì cần phải biết bố thí, trì giới, tham thiền. Những người có đủ các điều lành như bố thí, trì giới, tham thiền thì mới thăng hoa được. Đức Phật dạy rằng:

- Người có tâm bố thí thì sẽ có phước giàu sang (phước vật),
- Người có trì giới thì sẽ có phước đạo đức (phước đức),
- Người có tham thiền thì sẽ có phước trí huệ thông minh, sáng suốt (phước trí).

Để giữ được tâm ý trong sạch - thanh lọc tâm có hiệu quả thì Đức Phật dạy cần phải hành thiền và nghe pháp. Để hành thiền và nghe pháp có hiệu quả thì có 5 điều mà người tu không được dễ duôi:

- Có giới hạnh tốt (giữ đạo đức)
- Biết thu phúc lục căn
- Biết tiết độ cho sự ăn uống (chừng mực vừa phải)
- Luôn luôn tỉnh thức (ít ngủ mê)
- Tin tiến hành đạo (siêng năng tu tập cho pháp thiện sanh khởi).

* Kết lại: Thời pháp hôm nay giảng đề tài: ĐIỀU NGỤ TRƯỢNG PHU. Sở dĩ Ngài có Hồng danh này là vì Ngài: - Chỉ tế độ cho những người hữu duyên với Ngài - Cách Tế độ - Phương pháp tế độ - Lời giáo huấn. Cho nên mỗi người phật tử cần phải biết học pháp, hành thiền tạo các cơ hội cho các duyên lành sanh khởi để cho kiếp này hay các kiếp về sau chúng ta còn có duyên lành với phật pháp. Gặp được 1 vị Phật tổ trong kiếp vị lai và chứng ngộ đắc quả trước những lời dạy của Ngài./.

Giảng đường: Thiền Viện Thiện Minh
Khoá tu Thiền Niệm phật lần thứ 57 ngày 20 tháng 7 năm Ất Mùi (2/9/2015).

Ghi giảng: Phật tử Quang Đức.

Giảng sư

Kết nối

Tổng số truy cập
Thông tin: 22.918
Pháp Âm: 28.011
Đang truy cập
Hôm qua: 18985
Tổng truy cập: 4.628.130
Số người đang online: 501
hosting gia re , web gia re tron goi , thiet ke web tron goi tai ho chi minh, binh duong, vung tau, ha noi, ca nuoc , thiet ke web tron goi gia re