chuabuuchau.com.vn,chuabuuchau, chua buu chau, chùa bửu châu, chua buu chau cu chi

Phần VII. Tổng kết

1. VẤN ĐÁP

1- Hỏi: Niệm Phật và tu các công hạnh có cần hồi hướng không?

Đáp:
Niệm Phật A Di Đà và tu tập hai hạnh chánh và phụ thì không cần phải hồi hướng riêng biệt. Còn tu tập tạp hạnh cần phải hồi hướng mới thành nghiệp vãng sanh (xin đọc phần 5, mục 3, Chuyên tu chánh hạnh).

2- Hỏi: Tu Tịnh nghiệp có cần diệt tham, sân, si không? Nếu cần thì làm sao?

Đáp:
Tham, sân, si (tà kiến) là tam độc cần phải diệt trừ. Đối với hành giả Tịnh Độ chỉ cần duy nhất một câu A Di Đà Phật. Vạn đức hồng danh nầy có công năng diệt tội, sanh phước, tăng trưởng thiện căn và chuyển tám thức thành bốn (4) trí, thành Phật còn có dư. Khi niệm sân vừa móng khởi hay đã khởi hiện hành (đã nổi cơn sân) chỉ cần nhiếp tâm niệm Phật là xong. Vì tâm một lúc không thể làm hai việc, niệm Phật thì niệm sân tự diệt. Bởi vậy Cổ đức dạy: “Không sợ niệm khởi, chỉ sợ giác chậm”.

3- Hỏi: Người chuyên tu Tịnh nghiệp có cần tụng kinh sám hối như Lương Hoàng Sám và Thủy Sám không?

Đáp: Đối với hành giả chuyên tu tịnh nghiệp tụng những kinh sám hối ấy không phải là chánh hạnh, mà là tạp hạnh.

Pháp sư Tịnh Không nói:

-“Niệm Phật là sám hối. Khi niệm Phật tinh tấn thường thấy bệnh nghiệp hiện tiền, đó là một hiện tượng chuyển nghiệp, đem tội nặng của quá khứ biến thành tội báo nhẹ hiện tại. Vì nguyện lực lớn hơn nghiệp lực”. “Khi có tâm sám hối, thề không tái phạm, tức là đã sám hối”, “Phải đoạn ác tu thiện mới đúng nghĩa sám hối”.

- “Thật ra, hết thảy kinh pháp đều là vì tiêu nghiệp chướng, nhưng nếu nghiệp chướng quá nặng thì tất cả hết thảy kinh pháp đều mất tác dụng chẳng thể tiêu trừ tội nghiệp, nhưng vẫn còn có cách riêng để tiêu trừ”.

- “Trong sách Quán Kinh Trực Chỉ là sách chú giải kinh Quán Vô Lượng Thọ, Ngài Từ Vân Quán Đảnh nói:

“Hết thảy tội nghiệp chẳng thể tiêu sạch được, tối hậu, chỉ có niệm A Di Đà Phật mới có thể thật sự tiêu tai”.

Liên Trì Cảnh Sách nói: “Muốn tiêu trừ nghiệp chướng phải niệm Phật, lễ Phật. Dùng nhất niệm vạn đức hồng danh chí tôn vô thượng để trung hòa tất cả vọng niệm và thói xấu tham, sân, si từ vô thủy kiếp đến nay. Những nghiệp chướng nặng nề này sẽ dung hòa vào câu thánh hiệu Nam mô A Di Đà Phật, được đức Phật A Di Đà đại từ đại bi và tất cả chư Phật trong muời phương hộ niệm, che chở, bao bọc, giúp tiêu trừ nghiệp chướng của chính mình. Lễ Phật chính là mỗi ngày chuyên lạy Phật A Di Đà để sám hối nghiệp chướng của chúng ta”.

Vả lại, Quán Kinh nói: “Niệm một câu A Di Đà Phật diệt được trọng tội sanh tử tám mươi ức kiếp”.

Vậy niệm Phật là đã sám hối rồi, dành thì giờ tụng kinh sám hối nói trên để niệm Phật, lễ Phật A Di Đà vừa được diệt hết thảy tội, vừa được tiếp dẫn vãng sanh Cực Lạc có tốt hơn không?

4- Hỏi: Người tu Tịnh nghiệp tụng kinh A Di Đà và các kinh Đại thừa khác được không?

Đáp:
Nói chung tụng kinh Phật, trì các chú ngữ là quý rồi, xét riêng hành giả chuyên tu Tịnh nghiệp thì:

- Tụng kinh A Di Đà là chánh hạnh mà nghiệp phụ.

Niệm Phật A Di Đà là chánh hạnh mà nghiệp chánh.

- Còn tụng các kinh khác, dù là kinh Đại thừa cũng là tạp hạnh.

Vả lại, danh hiệu A Di Đà Phật là vua các chú (Tuyết Hư Lão Nhân Tịnh Độ Tuyển Tập). Vậy niệm A Di Đà Phật là cao tột, thù thắng hơn trì tụng bất cứ chú ngữ nào khác (hãy đọc Phần 4, mục 2 Công đức niệm Phật).

Liên Trì cảnh Sách dạy: “Niệm Phật chính là tụng hết thảy kinh. Một câu Nam mô A Di Đà Phật là tinh hoa cô động của ba tạng kinh điển”.

Liên Tông thập nhất Tổ Tĩnh Am đại sư, Liên Tông Thập nhị Tổ Triệt Ngộ đại sư, Pháp sư Tịnh Không đồng dạy: “Niệm Phật phải niệm không xen tạp không gián đoạn”. Liên Tông Bát Tổ Liên Trì đại sư dạy: “Bí quyết của niệm Phật là niệm nhiều, niệm không xen tạp không gián đoạn” Tụng kinh là xen tạp gián đoạn quá nhiều rồi.

Vã lại trong bốn mươi tám đại nguyện của Phật A Di Đà có nguyện nào nói tụng bao nhiêu biến kinh để được Ngài tiếp dẫn đâu? mà nguyện thứ mười tám nói: Niệm mười niệm là được Ngài tiếp dẫn. Vậy thì tụng kinh và niệm Phật cái nào hợp với bản nguyện của Đức Phật A Di Đà, hợp với lời dạy của chư Thầy, Tổ, cái nào trọng yếu hơn?

Hành giả dành thì giờ tụng kinh để niệm Phật (bốn chữ hay sáu chữ chuyên nhất, gắn gọn dể nhập tâm hơn), niệm nhiều huân trưởng hạt giống Phật càng lớn, đạt Bất niệm tự niệm bảo đảm vãng sanh, đúng chí nguyện của mình, đúng bản nguyện của đức từ phụ Di Đà, đúng lời chỉ giáo của đức Bổn sư Thích Ca, đúng sự mong chờ của chư Thầy, Tổ còn chần chờ, chọn lựa gì nữa?

5- Hỏi: Người tu Tịnh nghiệp có bắt buộc phải thọ Tam qui, ngũ giới không?

Đáp:
Không bắt buộc, nhưng nếu đủ điều kiện nên thọ.

Luật dạy:

“Quy y Phật khỏi đọa địa ngục,
Quy y Pháp khỏi đọa ngạ quỷ,
Quy y Tăng khỏi đọa bàng sanh (súc sanh)”.

Vậy thì thọ Tam qui sẽ không bị đọa ba đường ác.

Nếu thọ thêm Ngũ giới, giữ gìn trọn vẹn, sẽ có vô lượng phước. Đây là thắng duyên giúp hành giả dễ tiến tu, sớm thành tựu Tịnh nghiệp.

6- Hỏi: Người tu Tịnh nghiệp có bắt buộc phải ăn chay trường không?

Đáp:
Không bắt buộc, nhưng hành giả Tịnh Độ quyết tâm vãng sanh Tây Phương Cực Lạc, thành Phật độ chúng sanh mà còn ăn thịt chúng sanh là thiếu tâm từ bi.

Tâm này không tương ứng với tâm Phật nên khó vãng sanh phẩm vị cao. Tổ thứ tám Liên Trì đại sư dạy: “Ác lớn nhất là sát sanh”. Ăn chay là ngưng sát sanh, ngừng được nghiệp sát. Vậy ăn chay được càng nhiều ngày càng tốt, trường chay là quý nhất. Lại nữa, Tổ cũng dạy:

“Trong các hạnh thiện, phóng sanh là bậc nhất”. Vì sao?

Vì chúng sanh tham sống, sợ chết. Phóng sanh là cứu mạng sống chúng sanh, là mình tự tu Tứ vô lượng tâm (từ, bi, hỷ, xả), tự tu lục độ (bố thí tài, bố thí pháp, bố thí vô úy) và tự sám hối (chuộc tội sát sanh trước đây). Hưởng phước đức hiện đời là không bệnh hoạn, được sống lâu. Nếu hồi hướng vãng sanh Cực Lạc thì đã chuyển phước đức thành công đức. Công ít mà phước nhiều, nhân nhỏ mà quả to. Không cần phải chờ ngày lễ lớn phóng sanh chim, cá mà hằng ngày nên phóng sanh kiến, dán, ruồi, muỗi,… khi chúng vào nhà cũng tốt lắm rồi.

7- Hỏi: Niệm Nam mô A Di Đà Phật (sáu chữ) và niệm A Di Đà Phật (bốn chữ) cách nào tốt hơn?

Đáp: Xét nghĩa:

- Danh hiệu là A Di Đà Phật.

- Nam mô là quy mạng, là quay về nương tựa.

- Niệm Nam Mô A Di Đà Phật (sáu chữ) là nói quay về nương tựa Phật A Di Đà, tỏ lòng thành kính dễ cảm ứng hơn.

- Niệm A Di Đà Phật (bốn chữ), ngắn gọn dễ nhập tâm hơn. Còn việc thành kính là do ở tâm.

Liên Trì đại sư nói: “Ngài dạy đại chúng niệm Nam mô A Di Đà Phật, còn Ngài thì niệm A Di Đà Phật”.

8- Hỏi: Phản văn, văn tự tánh là sao?

Đáp:
Là quay cái nghe lại, nghe tự tánh mình niệm.

Ngƣời đạt Bất Niệm Tự Niệm, nghe tự tánh mình niệm Phật bằng tánh nghe mới đúng nghĩa phản văn, văn tự tánh.

9- Hỏi: Nhập tâm và Bất Niệm Tự Niệm có khác nhau không? Nếu có, khác chỗ nào?

Đáp:
Khác nhau, khác ở chỗ cạn, sâu.

Nhập tâm, hành giả chỉ nghe tiếng niệm Phật của tự tánh mình trong thời gian ngắn nào đó (còn gián đoạn, chưa nghe được toàn thời gian lúc thức, còn non cạn) tạm gọi là bước đầu của Bất Niệm Tự Niệm.

10- Hỏi: Như Thầy nói khi trợ niệm mà thần thức của bệnh nhân bị điên đảo, lãnh hội không nổi, không niệm Phật theo, hoặc ý thức bệnh nhân ngưng hoạt động trước giờ lâm chung, hai trường hợp này sẽ mất phần vãng sanh. Vậy thì thân nhân phải làm sao đây?

Đáp:
Có hai giải pháp:

Giải pháp 1:

- Trưởng ban hộ niệm phải liên hệ với thân nhân của bệnh nhân tìm hiểu nguyên nhân tệ trạng này, do ác nghiệp gì, hay bệnh nhân còn bận bịu, dính líu, thắc mắc, uẩn khúc điều gì? Từ đây khéo léo khai thị giải tỏa, mở gút cho bệnh nhân.

- Toàn ban hộ niệm cùng thân nhân của bệnh nhân thay mặt bệnh nhân thành khẩn bái sám nghiệp chướng.

Khi nhận thấy hai việc trên mang lại hiệu quả tốt, nghĩa là tệ trạng trên được cải tiến khả quan, thì xúc tiến hộ niệm như thường lệ.

Nếu giải pháp một không thành công, bệnh nhân ra đi trong tình trạng hôn mê, thì chỉ còn cách áp dụng giải pháp 2.

Giải pháp 2:

1) Nhờ quý Thầy chân tu giới hạnh thanh tịnh, thành khẩn cầu siêu và khai thị hương linh.

2) Thân nhân làm Phật sự như ăn chay, niệm Phật A Di Đà, phóng sanh, bố thí, cúng dường Tam Bảo, ấn tống kinh sách, Pháp thí băng dĩa, thuyết giảng giáo lý Phật, v.v… Thành khẩn hồi hướng cho hương linh nầy siêu sanh Cực Lạc.

11- Hỏi: Có cần phải có nhiều Thầy không?

Đáp:
Cần nội dung hơn hình thức, chất lượng hơn số lượng, vì các lẽ sau:

- Vị Thầy chân tu, giới hạnh thanh tịnh, mà thành khẩn nguyện cầu, mới được chư Phật, chư Bồ Tát cảm ứng, cộng thêm lòng nguyện cầu thiết tha của thân nhân.

- Thần thức (hương linh nhờ cởi bỏ thân ngũ ấm) nên rất sáng suốt, đối với vị Thầy phạm trai phá giới, phàm phu chúng ta không biết nhưng họ biết hết. Khi họ biết rồi, đâu có kính nể nghe theo lời khai thị. Mặt khác họ oán ghét, khởi niệm sân hận, mà sân hận là nhân ba đường ác. Trường hợp này là bị phản tác dụng, không thăng mà bị đọa, rất nguy hiểm cần chú ý.

Vậy thì:

- Ba Thầy mà có một Thầy không thanh tịnh thì đâu tốt bằng chỉ có một Thầy thanh tịnh.

- Ba Thầy mà đều là Thầy thanh tịnh thì dĩ nhiên là tốt hơn một Thầy.

12- Hỏi: Trợ niệm cách nào để có kết quả tốt?

Đáp:
Ban trợ niệm không nên cứng ngắt theo sách vở mà phải khéo léo uyển chuyển niệm Phật và khai thị sao cho thích hợp với tâm lý, ước muốn, nguyện vọng của bệnh nhân hay hương linh.

Về niệm Phật, niệm bốn chữ hay sáu chữ, giọng nào (bình thường hay Hải Triều Âm…) nên niệm vừa phải tránh quá nhanh hay quá chậm. Nhất là người hấp hối phải niệm rành rẽ, rõ ràng và chậm rãi để bệnh nhân có khả năng tiếp nhận mà niệm theo. Trường hợp này, không nên đọc văn hồi hướng (sau phần niệm Phật) vì tâm thần bệnh nhân lúc này quá yếu, không tiếp thu được lời văn dài dòng khó hiểu, mà chỉ nên dành thì giờ này liên tục niệm thánh hiệu Phật A Di Đà.

Về khai thị, vị thầy được đương nhơn kính trọng hoặc người được đương nhơn thương yêu nhất (như vợ, chồng, cha, mẹ, con cháu,…), khai thị đúng ước muốn, nguyện vọng chánh đáng của người bệnh thì kết quả sẽ tốt nhất. Ví dụ, ông chồng quá yêu mến, quyến luyến bà vợ thì bà vợ cần khai thị ngắn gọn như sau (mà kết quả tối đa như ý): “Anh ráng niệm Phật theo em, để rồi anh với em đồng vãng sanh Cực Lạc thành Phật cứu độ cha mẹ cùng các con của mình, nhen anh”.

Xong rồi là niệm Phật, năm, mười, hai mươi câu, rồi lặp lại lời khai thị trên. Làm nhiều lần như thế, cho đến hơi thở cuối cùng. Sau giờ lâm chung, trước bàn thờ hương linh cũng phải khai thị như vậy, rất tốt.

Ngược lại, đối với người (dù tại gia hay xuất gia), bệnh nhân không ưa hay chán ghét, oán hận thì tuyệt đối không cho gặp mặt. Vì gặp mặt, bệnh nhân sanh phiền não, khởi niệm sân hận là nhân của ba đường ác, rất nguy hiểm.

Về lời văn khai thị, văn phải ngắn gọn, lời phải rành rẽ, rõ ràng, điều hoà, truyền cảm, ý phải đáp ứng nguyện vọng chánh đáng của bệnh nhân.

13- Hỏi: Ai là người khai thị hữu hiệu nhất?

Đáp:
Theo thứ tự ưu tiên sau: quý Thầy ngộ đạo (tâm thanh tịnh). Người niệm Phật đạt niệm lực được tương tục (Bất Niệm Tự Niệm sâu). Người được yêu quý, kính trọng. Người có tín tâm sâu, thành khẩn khai thị đúng pháp. Như hiện nay ở Việt Nam có một vị cư sĩ chuyên tu Tịnh Độ đạt Bất Niệm Tự Niệm sâu, là Trưởng ban Hộ niệm. Ông đã hộ niệm rất nhiều nơi (kể cả các tỉnh xa) đều có kết quả tốt như ý (có triệu chứng được vãng sanh Cực Lạc).

14- Hỏi: Nhiếp sáu căn là sao?

Đáp:
Kinh Lăng Nghiêm nói: “Nhiếp trọn sáu căn, Tịnh niệm nối tiếp, đắc Tam Ma Địa bậc nhất”. Sáu căn là gì? Là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Tại sao phải nhiếp? Sau đây là lý do:

Ý nghĩa

Người xưa dạy: “Sáu căn là sáu tên giặc (lục tặc) cũng là (lục thông) cửa sổ mở sáu phép thần thông” hoặc “Sáu căn không dính mắc sáu trần là giải thoát”.

Mắt thấy sắc đuổi theo, chấp chặt nên khổ đau. Tai nghe tiếng đuổi theo, chấp chặt nên khổ đau. Mũi, lưỡi, thân, ý cũng vậy. Muốn hết khổ đau, tâm được an định thì sáu căn phải được thu nhiếp (không chạy theo sáu trần: Sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp). Tịnh niệm là niệm thanh tịnh… Thanh tịnh ở đây là không hoài nghi, ngoài Thánh hiệu A Di Đà, không xem tạp Thánh hiệu nào khác, không tham sân si…

Tam Ma Địa là chánh định, đối với Tịnh Độ Tông là Nhất Tâm Bất Loạn.

Thực hành: từ cạn đến sâu.

Cấp I: Nhiếp sáu căn là sáu căn vẫn tiếp xúc và hay biết mọi sự mọi việc nhưng không dính mắc, chấp chặt, đuổi theo sáu trần. Cụ thể, mắt nhìn tượng Phật để nhiếp nhãn căn vào Phật. Tai nghe tiếng niệm Phật để nhiếp nhĩ căn vào Thánh hiệu Phật. Mũi ngửi mùi hương cúng Phật để nhiếp tỷ căn vào cảnh giới Phật. Lưỡi niệm Phật để nhiếp thiệt căn vào Thánh hiệu A Di Đà. Thân ngồi nghiêm trang để nhiếp thân căn vào cảnh giới Phật. Ý nhớ nghĩ ghi nhận tâm thanh của Thánh Hiệu.

Người xưa dạy:

Thấy sắc không mê sắc,
Nghe tiếng chẳng nhiễm tiếng,
Sắc tiếng đều không ngại,
Mới đến Pháp vương thành.
Như mù mắt không nhìn ngoại cảnh,
Như điếc tai chẳng thính mảy may,
Càng không dao động càng hay,
Người ngồi tịnh tọa việc ngoài xem không.
Lưỡi vướng vị ngon, tai vướng tiếng,
Mắt theo hình sắc, mũi theo hương,
Lênh đênh làm khách phong trần mãi,
Ngày hết, quê xa vạn dặm đường.

- “Chế tâm nhất xứ, vô sự bất biện” nghĩa là Cột tâm một chỗ, không việc gì chẳng xong.

Cấp II: Ý trì là niệm Phật bằng ý (xem phần 4, Cách trì danh). Niệm bằng ý vẫn có tiếng. Bây giờ lắng lòng nghe tiếng Phật hiệu, gọi là “Phản văn, văn Phật hiệu”.

Nghe không phải là nghe bằng lỗ tai (nhĩ căn) mà nghe bằng tánh nghe (căn tánh, chơn tâm, cũng gọi là chơn như, còn gọi là bổn tánh).

Cấp III: Tập như trên lâu ngày chày tháng thành thục sẽ nhiếp (đóng) trọn vẹn nhĩ căn.

Lục căn dung thông (liên quan) lẫn nhau. Chỉ cần nhiếp thành tựu một căn, thì năm căn còn lại cũng thành tựu. Như Cổ đức dạy: “Nhất tu, nhất thiết tu”, nghĩa là thành tựu một là thành tựu tất cả. Đạt đến trình độ này mới đúng nghĩa nhiếp trọn vẹn sáu căn. Khi nhiếp trọn vẹn sáu căn và niệm Phật không gián đoạn, là đạt Nhất tâm bất loạn. Ban đầu là Sự nhất tâm bất loạn, sau là Lý nhất tâm bất loạn, thì vãng sanh Thật Báo Trang Nghiêm Độ (Thượng Phẩm).

15- Hỏi: Con quy y với vị Thầy, Thầy con tu chứng được vãng sanh Cực Lạc vậy con có được vãng sanh theo Thầy con không? Và bạn con lầm lỡ quy y với tà sư. Khi tà sư bị đọa, vậy bạn con có bị đọa theo vị tà sư đó hay không?

Đáp:
Cả hai đều KHÔNG. Người xưa nói: “Ông tu, ông chứng, bà tu, bà đắc” và “Tội ai làm nấy chịu”. Luật nhân quả đấy “Tự tác hoàn tự thọ”, nghĩa là tự mình làm, tự mình chịu, không ai thay thế cho ai được cả.

16- Hỏi: Nguyện thứ 19 nói: “Lúc tôi thành Phật, thập phương chúng sanh phát Bồ Đề Tâm, tu các công đức, nguyện sanh về cõi nước tôi, đến khi lâm chung, nếu tôi chẳng cùng đại chúng hiện trước người đó, thời tôi không thủ ngôi Chánh Giác”. Như vậy thì con phát Bồ Đề Tâm, thỉnh thoảng chủ nhật con đến chùa làm công quả, cúng dường Tam bảo, tụng kinh, niệm Phật, bái sám gọi là tu công đức. Nếu công đức nhiều thì ở phẩm vị cao, công đức ít thì vãng sanh ở phẩm vị thấp, phải không Thầy?

Đáp:
Kinh A Di Đà nói: “Không thể lấy chút ít căn lành, phước đức, nhân duyên mà được sanh về cõi Cực Lạc”. Do vậy Cổ đức dạy: “Công đức nói ở nguyện thứ 19 là công đức rốt ráo, như bố thí phải là Bố Thí Ba La Mật” (rốt ráo). Nên Nhị Tổ Thiện Đạo đại sư nói trong Quán Kinh Sớ, đây là Tạp tu (cách nói trên), ngàn ngƣời tu chỉ có năm, ba người vãng sanh mà thôi.

Vả lại, trong kinh Đại Thừa Vô Lượng Thọ Trang Nghiêm Thanh Tịnh Bình Đẳng Giác Kinh (do Ngài Hạ Liên Cư hội tập) có thêm đoạn văn nhƣ sau: “Phụng hành sáu Ba La Mật kiên cố bất thoái, nhất tâm niệm tôi, ngày đêm chẳng ngớt”. Điều này chứng tỏ rằng công đức nói trên phải là công đức rốt ráo (Ba La Mật), đồng thời phải nhất tâm niệm Phật ngày đêm không gián đoạn mới chắc được vãng sanh.

17- Hỏi: Vậy thì phải tu sao để được bảo đảm vãng sanh?

Đáp:
Phải chuyên tu Chánh hạnh, Chánh nghiệp như đã trình bày ở phần 5 (Chuyên tu chánh hạnh trang 75).

18- Hỏi: Tu Tịnh Độ thuộc Tiểu thừa hay Đại thừa?

Đáp:
Giáo pháp Tiểu thừa không có tịnh độ. Vậy là thuộc Đại thừa. Nhưng nếu người niệm Phật cầu vãng sanh Cực Lạc mà không phát tâm cứu độ chúng sanh, như vậy là không có Bồ Đề Tâm, thuộc căn tánh Tiểu thừa.

Không đúng đại nguyện của Phật A Di Đà nên không được vãng sanh.

19- Hỏi: Vậy sao kinh nói ở Cõi Cực Lạc có Thanh Văn, Duyên Giác nhiều vô số kể?

Đáp:
Những vị nầy trước tu theo Tiểu thừa (Nguyên Thủy) sau phát tâm hướng Đại thừa (thượng cầu hạ hóa), nghĩa là trên thì cầu thành Phật đạo, dưới là giáo hóa (độ) chúng sanh nên được vãng sanh.

20- Hỏi: Kinh nói từ Thập Tín trở lên phải tu hai đại A tăng kỳ kiếp (vô số kiếp) mới đạt giai vị Bát Địa Bồ Tát (Bất Động Địa Bồ Tát) thì đắc Tam bất thối (Vị bất thối, Hạnh bất thối và Niệm bất thối). Kinh A Di Đà lại nói: “Này Xá Lợi Phất! Những chúng sanh sinh về Cực Lạc là hàng A Bệ Bạt Trí”. A Bệ Bạt Trí là Bất Thoái Chuyển. Vậy hai kinh đó có trái ngược nhau không?

Đáp: Không trái ngược nhau. Kinh trước nói Bất Thối về địa vị tu hành. Kinh A Di Đà nói bất thối về nơi chốn (Xứ Bất Thối). Người sanh về Tây Phương Tịnh Độ không có năm thoái duyên, không bị lùi sụt.

Năm thoái duyên là:

1) Yểu mệnh và lắm bệnh.
2) Có người nữ và sáu trần gây ô nhiễm
3) Giao du với ngƣời làm ác, tức là gặp ác trí thức.
4) Có tâm bất thiện (tâm ác).
5) Thường không gặp Phật.

Ở Cực Lạc không có năm thoái duyên nầy cho nên chúng sanh ở đây đều được bất thối.

21- Hỏi: Thế nào là cực trọng nghiệp và ảnh hưởng việc tái sanh ra sao?

Đáp:
Cực trọng nghiệp là nghiệp hết sức lớn. Có hai loại: Thiện và bất thiện (ác). Người niệm Phật đạt Lý nhất tâm bất loạn là thiện cực trọng nghiệp. Trong lúc thân còn ở Ta Bà mà thần thức đã vãng sanh Cực Lạc như trường hợp Thừa Viễn đại sư, Tổ thứ ba Liên tông. Về thân xác muốn xả bỏ hay lưu giữ là tùy ý gọi là sinh tử tự tại.

Ngƣời phạm tội ngũ nghịch là giết cha, giết mẹ, giết A La Hán, làm thân Phật ra máu hay phá hòa hợp Tăng là Ác cực trọng nghiệp. Tội này sa địa ngục A Tỳ (Địa ngục vô gián). Minh Tuệ tôi đã chứng kiến một vị chưa chết mà nửa đêm bị quỷ sứ hành hạ đủ cách.

22- Hỏi: Thế nào là tích lũy nghiệp, ảnh hưởng ra sao?

Đáp:
Tích lũy nghiệp là nghiệp tích lũy nhiều đời, nhiều kiếp cộng với kiếp hiện tại. Tích lũy nhiều thành cực trọng nghiệp, ít thì ra Cận tử nghiệp.

23- Hỏi: Cận tử nghiệp là gì?

Đáp:
Là nghiệp trước giờ lâm chung.

24- Hỏi: Người tu hành có bị cận tử nghiệp chi phối không?

Đáp:
Cũng có, cũng không. Có hai trường hợp:

1) Những vị tu hành chứng đạo, đắc đạo như Tịnh Độ tông thì niệm Phật đạt Lý nhất tâm bất loạn hay Lý niệm Phật tam muội, thì tự tại vãng sanh. Thiền Tông thì nghiệp sạch tình không, Mật Tông thì tam mật tương ứng (ba nghiệp thân, khẩu, ý hoàn toàn thanh tịnh) tùy nguyện tái lai. Những vị đắc quả A La Hán thì nhập Niết Bàn.

2) Ngoài những vị nói trên đều bị cận tử nghiệp chi phối, điển hình:

- Vua A Kỳ Đạt suốt đời hộ trì Tam Bảo như cất chùa, nuôi tăng, v.v… Giờ chót bị người hầu làm rớt cây quạt vào mặt, nổi sân rồi chết, sanh làm con rắn mãng xà.

- Thiền sư công phu đắc lực, những ngày cuối cùng thương mến chăm sóc bụi mía trước am, để rồi chết sanh làm con sâu trong thân cây mía.

- Vị Ưu bà tắc nọ trước khi thân hoại mạng chung, vì quá yêu thương vợ nên tái sanh làm con dòi trong mũi vợ.

- Vua A Dục Ka (Asoka) đã từng xây cất 84.000 cảnh chùa, 84.000 tháp đền, đài thọ chi phí cho kỳ kiết tập kinh điển lần ba. Khi sắp lâm chung, vua ra lệnh đem của cải trong kho ra bố thí trọng đại để làm phƣớc trước khi chết. Vị quan giữ kho phản đối. Nhà vua tức giận rồi chết, đầu thai làm con rắn độc trong vườn ngự uyển, chờ cơ hội thuận tiện cắn chết ông quan giữ kho để trả thù.

25- Hỏi: Quán Kinh dạy hành giả Tịnh Độ tu Tam phước. Quý Thầy cũng khuyến khích Phật tử tu Tam phước. Vậy tu Tam phước có bảo đảm vãng sanh không?

Đáp:
Theo Quán Kinh Tứ Thiếp Sớ: Tam phước là Tán Thiện, tu 13 phép Quán mới là Định Thiện. Quán Kinh Sớ quyển bốn nói rằng công hạnh có hai loại: Chánh và tạp. Tam phước thuộc tạp hạnh. Nhị Tổ Thiện Đạo đại sư nói: “Người tu tạp hạnh, ngàn người tu chỉ có năm ba người vãng sanh”.

Tam phước Đức Thế Tôn dạy trong kinh Quán Vô Lượng Thọ nhưng cuối kinh, Ngài phó chúc niệm Phật A Di Đà, đâu có phó chúc tu quán hay tu tam phước đâu?

Vậy thì cái nào chánh yếu?

26- Hỏi: Hành giả Tịnh Độ phải tu sao để được bảo đảm vãng sanh?

Đáp: Trong kệ niệm Phật, Hòa thượng Trí Tịnh nói:

“Người niệm Phật phải đạt tầng công phu thấp nhất là Bất Niệm Tự Niệm mới bảo đảm vãng sanh”. Muốn đạt Bất Niệm Tự Niệm phải chuyên tu Chánh hạnh, Chánh nghiệp theo sự dạy bảo của Nhị Tổ Thiện Đạo (Xin xem phần 5, Chuyên tu Chánh hạnh, trang 75).

27- Hỏi: Có cần lần chuỗi để niệm Phật không?

Đáp:
Mục đích lần chuỗi là để:

- Cột tâm ý vào hột chuỗi, không cho khởi vọng niệm, vọng tưởng.

- Đếm được số câu niệm Phật, cố niệm cho đủ số đã ấn định, tránh lười biếng giải đãi.

Vậy lần chuỗi rất cần cho những vị mới tập niệm Phật. Nhưng nếu không khéo, niệm lâu thành thói quen (tập khí) thì miệng niệm, tay lần chuỗi mà ý tự do phóng túng nghĩ tưởng lung tung đủ thứ, hoặc vì muốn cho đủ số, cố gắng niệm quá nhanh, miệng niệm lia lịa, tay lần chuỗi liền tù tì, mà tâm không bắt kịp tiếng. Trường hợp này miệng niệm Phật, tay lần chuỗi mà tâm không có Phật, gọi là hữu khẩu vô tâm. Tổ Đức Nhuận bảo: “Niệm như vậy cho bể cuống họng cũng hoàn không”. Nghĩa là vô ích. Vậy lần chuỗi phải chân thật, tránh làm lấy lệ, biểu diễn. Mặt khác, ý theo dõi đếm số là bị phân tâm.

Tay lần chuỗi, làm thân động, thân động thì tâm động theo (không an định). Vì những lý lẽ trên, hành giả niệm Phật lâu rồi không cần dùng chuỗi. Nếu muốn tính số câu Phật hiệu đã niệm thì tốt hơn nên dùng đồng hồ tính thời gian đã niệm.

28- Hỏi: Kinh Quán Vô Lượng Thọ dạy tu Tam Phước. Phước thứ ba là Phát Bồ Đề tâm. Vậy làm sao Phát Bồ Đề tâm?

Đáp:
Bồ Đề là tên khác của quả vị Phật. Bồ Đề tâm là tâm làm Phật. Phát Bồ Đề tâm là phát khởi cái tâm trên cầu thành Phật đạo, dưới giáo hóa chúng sanh (thượng cầu hạ hóa). Đấy là Bồ Đề tâm nguyện.

Có một số ít chùa thực hiện lễ Phát Bồ Đề tâm theo nghi thức đặc biệt.

- Tịnh Độ tông Thập nhất Tổ Tĩnh Am đại sư dạy:

“Tướng trạng Bồ Đề tâm có tám loại, đó là: Chánh, tà, chân, ngụy, đại, tiểu, thiên viên”. Nên đọc Khuyến Phát Bồ Đề Tâm Văn.

- Tịnh Độ tông cửu Tổ Ngẫu Ích đại sư dạy: “Ngƣời niệm Phật A Di Đà cầu nguyện vãng sanh Cực Lạc để thành Phật cứu độ hết thảy chúng sanh. Đó là đương nhiên đã phát Bồ Đề tâm rồi.

29- Hỏi: Bồ Đề tâm hạnh là sao?

Đáp:
Bồ Đề tâm hạnh là những thiện hạnh nhằm mục đích thành Phật độ chúng sanh.

Nó rộng lớn bao trùm lục độ vạn hạnh của Bồ Tát.

Hành giả tu 52 giai vị Bồ Tát (Thập Tín, Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng, Thập Địa, Đẳng Giác, Diệu Giác) đều tu Bồ Đề tâm hạnh để thành Phật. Niệm Phật là hạnh chánh của Bồ Đề tâm hạnh.

30- Hỏi: Người ăn thịt mà niệm Phật và người ăn chay mà không niệm Phật, ai hơn ai?

Đáp:
Người niệm Phật hơn người kia.

31- Hỏi: Công danh, sự nghiệp tột đỉnh. Giàu sang phú quý nhất đời. Đài sen chín phẩm ở Cực Lạc. Nên chọn cái nào?

Đáp:
Người xưa nói: “Công danh cái thế, màn sương sớm. Phú quý kinh nhân, giấc mộng dài”. Tạm dịch: “Công danh tột đỉnh trên đời này cũng chỉ là màn sương sớm mai (mặt trời mọc, sương tan tức khắc). Giàu sang đến nỗi người phải kinh sợ cũng chỉ là giấc mộng dài mà thôi (giả không thật, không dài lâu). Đài sen chín phẩm (vãng sanh Cực Lạc) là chuyển phàm thành Thánh, tu hành không thối chuyển, một đời thành Phật. Chọn cái nào, tùy ở quý vị quyết định.

32- Hỏi: Hạnh khởi giải tuyệt là thế nào?

Đáp:
Bắt đầu công phu phải buông bỏ mọi kiến giải (hiểu biết), kể cả kiến giải Tịnh Độ. Ví như, dù là tảng đá hay cục vàng, (kiến giải Tịnh Độ) cũng vẫn che ngăn sức chiếu soi của gương sáng (Phật tánh, Đại Viên Cảnh trí).

33- Hỏi: Người chuyên tu Tịnh Độ có nên đọc thêm nhiều kinh sách hay nghe băng thuyết pháp để mở rộng thêm kiến thức không?

Đáp: Hành giả chuyên tu Tịnh Độ chỉ cần học hiểu, nắm vững phương pháp hành trì là đủ rồi. Điều quan yếu là dũng mãnh tinh tấn hành trì đạt tối thiểu là Bất Niệm Tự Niệm, để bảo đảm vãng sanh. Nên dùng hết thời gian học hỏi, mở rộng kiến thức để hành trì, niệm Phật chứng đạt sở nguyện bảo đảm vãng sanh vẫn tốt hơn. Trong Niệm Phật Tông Yếu, Pháp Nhiên thượng nhơn bảo: “Tu Tịnh Độ môn thì trở lại ngu si để vãng sanh”. (Câu đáp 87 trang 201).

Pháp sư Tịnh Không nói: “Đối với những người đầy đủ thiện căn, phước đức, nhân duyên, họ chẳng có hoài nghi, công phu chẳng xen tạp thì chuyên niệm Phật là đủ rồi, nghe giảng kinh có ích gì? (Nghĩa là không cần nghe giảng kinh nữa)”. (Ý nghĩa chân thật của Bổn Nguyện Niệm Phật trang 80).

Chúng ta thấy trong “Vãng sanh luận” và “Tịnh độ thánh hiền lục”, từ xưa đến nay có người cho đến một bộ kinh cũng không biết, trọn đời chỉ niệm câu A Di Đà Phật, họ cũng đã đứng vãng sanh hoặc ngồi mà vãng sanh. (Điển hình nhất là học trò của Đế Nhàn pháp sư, dốt không học gì cả chỉ chuyên niệm Phật A Di Đà, ba năm sau, đứng mà vãng sanh).

Liên Trì Cảnh Sách dạy: “Học hết tất cả học vấn thế gian không bằng không biết một chữ, chuyên niệm một câu Nam mô A Di Đà Phật“.

Nên nhớ:

- Thế trí biện thông là một trong tám nạn.

- Đa văn như Ngài A Nan vẫn thọ nạn sắc dục bởi Ma Đăng Già.

- Đừng cậy vào một ít học thức, địa vị thế gian, học được một ít kinh điển Đại Thừa, chấp chặt vào danh từ ngôn ngữ ấy, tự cho mình là giỏi hơn mọi người, rồi đàm huyền luận diệu với bạn đạo và quý Thầy, Sư cô, khởi tâm cống cao ngạo mạn, lên mặt chê bai chỉ trích Tăng, Ni thất học, ngu dốt... Thật là tội lỗi vô cùng! Tệ hại hơn, là Sở tri chướng này sẽ tự làm chướng ngại, ngăn chặn đường tiến tu của mình. Vì vậy chư Tổ dạy: “Hạnh giải phải tương ứng”. Hiểu biết như vậy, Minh Tuệ tự nhủ và hôm nay cũng khuyên quý vị, hãy bắt chước ngu phu, ngu phụ lão thật niệm Phật, hầu được vãng sanh Cực Lạc, để được “Tận mặt gặp Di Đà, lo gì không khai ngộ”.

- Minh tâm kiến tánh không phải do học rộng hiểu nhiều, mà do hành trì chứng đắc.

34- Hỏi: Hành giả chuyên tu Tịnh Độ khi lâm bệnh có cần niệm Phật Dược Sư hay tụng kinh Dược Sư để trị bệnh không?

Đáp:
Kinh Vô Lượng Thọ nói Phật A Di Đà là vua trong các vị Phật (Phật trung chi Vương). Vậy thì Phật Dược Sư trị lành bệnh, chẳng lẽ Phật A Di Đà trị bệnh không được sao?

Vả lại nếu niệm Phật Dược Sư, tụng kinh Dược Sư là tạp tu, bị xen tạp và bị gián đoạn rồi.

Vậy thì niệm Phật A Di Đà, nhất cử không những lưỡng tiện mà là vạn tiện (được lành bệnh, lại thêm được vãng sanh Cực Lạc).

35- Hỏi: Một người suốt đời làm ác, phút lâm chung niệm A Di Đà Phật, có được vãng sanh không?

Đáp:
Được vãng sanh vì đáp ứng đúng đại nguyện của Đức Phật A Di Đà, nhưng thử hỏi có mấy ai niệm được? Thiên, thiên nan, vạn, vạn nan, ức, ức, ức, người chưa từng có một. Hành giả tu Tịnh nghiệp yếu, chưa đạt Bất Niệm Tự Niệm, còn chưa bảo đảm vãng sanh (như đã nói ở phần 3). Kế đến, người thiện mà chưa tu Tịnh Độ, giờ phút lâm chung cũng không tài nào niệm Phật được.

Huống hồ gì người suốt đời làm ác.

36- Hỏi: Tổ thứ chín Ngẫu Ích đại sư dạy: “Vãng anh hay không là do có Tín, Nguyện hay không. Còn phẩm vị cao hay thấp là do công phu sâu hay cạn”. Vậy thì hành giả chỉ có Tín, Nguyện mà không có Hạnh được bảo đảm vãng sanh hay không?

Đáp:
Tín và Nguyện, Tổ dạy đây là Tin sâu, Nguyện thiết. Có tin mới có nguyện, nguyện mà không hành là nguyện suông (không tha thiết), coi như không có nguyện, nên không vãng sanh.

Ví như, quý vị ở Mỹ lâu năm, nhớ cha mẹ hay con cháu ở Việt Nam, khát khao, ao ước, muốn (nguyện) về Việt Nam, nhưng chỉ muốn suông, không có thông hành, không có chiếu khán, lại không mua vé máy bay hay vé tàu để đi về, thì thử hỏi quý vị có được về Việt Nam hay không? Vãng sanh Cực Lạc cũng không ngoài nguyên lý này. Tín, Nguyện, Hạnh là ba chân của cái đảnh, thiếu một, đảnh sẽ ngã.

Nói rõ hơn, có Tín sâu, mới Nguyện thiết, có Nguyện thiết mới có Hành chuyên, Hành bền và ngược lại, nghĩa là ba thứ này tác động hỗ tương lẫn nhau, đồng tiến, đồng thoái, đồng diệt.

Kinh nghiệm bản thân cho thấy, khi hành càng chuyên, hành càng bền, nhất là đạt Bất Niệm Tự Niệm, thì Tín và Nguyện càng sâu, càng thiết tha hơn.

37- Hỏi: Hành giả có Hạnh (niệm Phật A Di Đà đạt Bất Niệm Tự Niệm) mà không có Tín, Nguyện có được bảo đảm vãng sanh hay không?

Đáp:
Hành giả không có Tín, Nguyện khó mà đạt Bất Niệm Tự Niệm, dù cho có đạt cũng không được vãng sanh. Vì lẽ đương nhiên không có cầu, không có cảm, làm sao có ứng?

Cổ Đức đã từng dạy: “Dù cho niệm Phật vững như tường đồng vách sắt, mưa tạt không vào, gió thổi không lọt, như thế cũng không được vãng sanh”, vì thiếu cảm ứng. Tín, Nguyện, Hạnh là ba món tư lương của Tịnh Độ Tông, chúng tương quan mật thiết với nhau, tác động hỗ tương lẫn nhau, cộng sinh, cộng tồn, thiếu một không phải là hành giả Tịnh nghiệp. Bởi vậy người niệm Phật mà không có Tín, Nguyện thì không phải là hành giả Tịnh Độ, không thuộc Tịnh Độ tông. Ví như cái đảnh có ba chân thiếu một, đảnh sẽ ngã.

38- Hỏi: Người tu tịnh nghiệp phải đến trình độ nào mới được vãng sanh theo ý muốn.

Đáp
: Hành giả tịnh độ phải đạt lý niệm Phật tam muội (lý nhất tâm bất loạn), chứng vô sanh pháp nhẫn (chứng được thực tính bất sanh bất diệt của vạn pháp) mới được vãng sanh về Tịnh độ trong mười phương theo ý muốn.

39- Hỏi: Người tu tịnh độ trước khi chết có những điềm lành gì không?

Đáp
: Khảo cứu di tích vãng sanh của các bậc Thánh Hiền xưa nay, ta biết có 10 thoại ứng sau:

1- Nhất tâm bất loạn: Tâm niệm được chăm chú vào một cảnh.
2- Biết trước thời chết đã đến.
3- Tịnh niệm không mất, tức là tâm niệm chỉ ƣa cõi tịnh độ và quyết chí bỏ cõi Ta bà.
4- Biết trước mà lo tắm rửa và thay quần áo.
5- Tự mình hay niệm Phật hoặc niệm có tiếng hay niệm thầm.
6- Ngồi ngay thẳng hoặc đứng và chấp tay mà ra đi.
7- Có mùi thơm lạ khắp nhà.
8- Có hào quang sáng soi vào thân thể.
9- Nhạc trời trổi giữa hư không.
10- Tự nói ra bài kệ để khuyên đồ chúng (đệ tử).

Nếu có đủ mười điều tốt trên đây chắc chắn vãng sanh ở phẩm vị cao. Chỉ có một vài điều tốt thôi cũng được vãng sanh.

40- Hỏi: Điểm nóng trên thân thể người chết là sao?

Đáp
: Thân thể ngƣời chết từ từ lạnh, thần thức sẽ xuất ra khỏi thân thể ở nơi điểm nóng cuối cùng. Kinh dạy: Nếu thần thức xuất ra ở:

- Lòng bàn chân sẽ sanh vào Địa ngục.
- Đầu gối sẽ sanh cõi súc sanh.
- Bụng sẽ sanh làm Ngạ quỷ.
- Ngực sẽ tái sanh làm người.
- Trán sẽ sanh lên cõi Trời
- Đỉnh đầu sẽ vãng sanh về Tịnh độ.

41- Hỏi: Có cách nào chuyển đổi nơi nóng không?

Đáp:
Có. Nếu nhận thấy trên đầu, mặt, trán lạnh trước, còn ngực, bụng, đầu gối và các chỗ khác hãy còn ấm, thì biết nghiệp thức (thần thức) của vong nhân (người chết) còn ở chổ đang ấm, phải tiếp tục niệm Phật để hộ niệm. Mặt khác phải mời người dùng pháp vận chưởng, để giúp cho nghiệp thức vong nhân từ nơi chỗ ấm đó mà đi dần lên đến đỉnh đầu và xuất ra từ nơi này để được vãng sanh Cực Lạc.

42- Hỏi: Pháp chuyển đổi nơi nóng thực hiện như thế nào?

Đáp:
Gọi là pháp vận chưởng (cũng gọi là pháp cứu độ trung ấm thân) được thực hiện như sau:

Dùng hai tay (hai bàn tay úp hở trên chỗ ấm, không được đụng đến thân, phải cách thân độ nửa tấc) ngang nhau mà vận chuyển lần từ chỗ ấm ngược lên đỉnh đầu.

Qua hai mắt, tập trung thần lực mình vào hai tay và thầm tưởng nghiệp lực của vong nhân phải theo tay mình mà trở lên đỉnh đầu để xuất ra từ nõi này.

Khi đó miệng thầm khấn rằng: “Nam mô đại từ đại bi A Di Đà Phật, kính xin Ngài đến tiếp dẫn hương linh pháp danh… vãng sanh Cực Lạc Quốc”. Phải luôn luôn vận chuyển hai tay đồng thời khấn vái như thế và niệm danh hiệu A Di Đà không gián đoạn.

43- Hỏi: Phải vận chưởng như vậy bao lâu?

Đáp:
Phải thực hiện cho đến khi khắp các chỗ trong thân đều lạnh hết, chỉ còn lưu lại một chút hơi ấm trên đỉnh đầu mới thôi, có thể từ ba giờ đến một ngày, nếu mỏi mệt có thể luân phiên nhau thực hiện liên tục không gián đoạn, chớ nên ngưng nghỉ nửa chừng.

Người khai thị, hộ niệm, chú nguyện và vận chưởng là hành giả Tịnh độ công phu đắc lực càng sâu càng tốt.

44- Hỏi: Trung ấm thân là gì?

Đáp:
Thân ngƣời đã chết, giữa khoảng đã chết và chưa sinh, trong vòng bốn mươi chín ngày, có cái thân gọi là thân trung ấm (cũng gọi là trung hữu). Ngoại trừ những người có cực trọng nghiệp dù thiện hay ác, đều tức khắc tái sanh kiếp sau ngay sau khi chết (không có trung ấm thân). Tuy nhiên, không tuyệt đối như vậy, có những truờng hợp cá biệt, trung ấm thân vẫn còn sau bốn mươi chín ngày.

45- Hỏi: Chư Phật, Bồ Tát lấy tâm đại bi làm sự nghiệp, đáng lẻ phải ở cõi xấu ác để cứu khổ chúng sanh. Tại sao lại nguyện sanh về Tịnh độ, chỉ vì lợi ích của riêng mình?

Đáp:
Chúng ta nguyện sanh về Tịnh độ đâu chỉ vì lợi ích cho riêng mình, bởi lẽ không sanh về đó thì khó mà cứu khổ chúng sanh. Kinh nói: “Bồ Tát đã được Vô sanh pháp nhẫn (thấu rõ lý không sanh không diệt) mới được cho phép vào cõi thế tục hóa độ chúng sanh. Nếu không được vậy phải thường không rời Phật”. Bởi vì tập khí mê lầm chưa dứt, nhẫn lực chưa đầy đủ, nếu gặp duyên ác chắc chắn bị trở ngại việc tiến tu, tự cứu mình còn khó khăn huống gì cứu giúp kẻ khác?

Nếu ở cõi xấu ác này lại muốn cứu độ người khác, giống như chiếc thuyền không toàn vẹn, không chắc chắn mà muốn đưa nhiều người qua biển cả, thì mình người đều sẽ bị chìm đắm oan uổng. Thế nên luận Trí độ nói:

“Kẻ phàm phu đủ mọi sự ràng buộc mà có lòng đại bi nguyện sanh về thế giới xấu ác cứu độ chúng sanh, thật không có điều đó”.

Luận Vãng Sanh nói: “Người muốn dạo chơi nơi địa ngục, phải vãng sanh Cực Lạc chứng Vô sanh pháp nhẫn, rồi mới trở lại trong sanh tử giáo hóa chúng sanh chịu khổ nơi địa ngục”.

46- Hỏi: Người tỏ ngộ Tông môn không trải qua thứ bậc vượt lên địa vị Phật, cần gì nguyện sanh về Tịnh độ?

Đáp:
Ông bảo rằng người tỏ ngộ thì tập khí mê lầm dứt hẳn, nhanh chóng đồng về với chư Phật sao? Hay là tập khí mê lầm còn thì vẫn phải nhờ tiệm tu?

Nếu tập khí mê lầm còn, cần phải cầu sanh về Tịnh độ, nhờ duyên thù thắng ở cõi đó dần dần gạn lọc. Nếu cứ lưu chuyển trong cõi ngũ trược ác thế với sự giải ngộ cạn cợt, qua đời sau liền mờ mịt, như thế làm sao bảo đảm không lui sụt!

Như các Ngài Thừa Thiên Giản, Chân Như Triết, Hải Ấn Tín… thuở xưa đều là những bậc minh triết trong Tông môn mà không có chút tự chủ đối với việc sanh tử.

Huống gì như đồng tử Thiện Tài là hạng căn cơ viên đốn, Bồ Tát Vĩnh Minh Tổ thứ 12 Thiền, Bồ Tát Long Thọ Tổ thứ 14 Thiền còn nguyện vãng sanh Tịnh độ.

Sự tỏ ngộ của Ông có ngang bằng Ngài Thiện Tài, Tổ sư Vĩnh Minh, Tổ sư Long Thọ hay chăng?

Giả sử, bảo rằng có thể ngang bằng với các Ngài thì ngại gì chẳng cùng sanh về Tịnh độ. Nếu chưa được vậy, đâu thể chậm trể cầu vãng sanh.

47- Hỏi: “Tâm vốn lìa niệm, pháp vốn không sanh”. Nay dạy người niệm Phật cầu sanh Tịnh độ là tại sao?

Đáp:
“Cho niệm là niệm, cho sanh là sanh” là sự sai lầm của chấp thường. “Cho vô niệm là vô niệm, cho vô sanh là vô sanh” là mê lầm của tà kiến”.

Phải hiểu “Niệm mà vô niệm, sanh mà không sanh” là chân lý đệ nhất nghĩa.

Thế nên, chỗ lý chân thật chẳng nhận mảy trần, thì không có chư Phật để niệm, không có Tịnh độ để sanh.

Trong cửa Phật, sự không bỏ một pháp thì đều thâu nhiếp được các căn. Bởi có phương pháp chánh yếu “Trở về nguồn” đó là mở ra một môn vãng sanh niệm Phật tam muội.

Vì thế, trọn ngày niệm Phật mà không trái với vô niệm, rõ ràng vãng sanh mà chẳng trái ngược vô sanh.

Tuy nói phàm thánh đều ở nơi vị trí của mình, nhưng đạo cảm ứng qua lại, Đông Tây không đến đi, mà thần thức vượt lên cõi Tịnh. Điều này không thể không hiểu.

48- Hỏi: Chúng sanh có thể niệm danh hiệu của các đức Phật khác, có thể cầu sanh về các cõi Tịnh độ khác. Cần gì riêng niệm đức Phật A Di Đà cầu sanh về Cực Lạc?

Đáp:
Ở đây có sáu nghĩa:

- Một là vì tâm chúng sanh phần nhiều vẩn đục tán loạn, niệm khắp cả chư Phật khó thành tựu tam muội, nên chỉ chuyên niệm một đức Phật cầu sanh một cõi nƣớc, khiến cho tâm ý buộc vào một cảnh dể thành tựu vãng sanh.

- Hai là vì đại nguyện từ bi của Phật A Di Đà vô tận, tiếp dẫn những chúng sanh niệm Phật, cho đến mười niệm cũng được vãng sanh. Còn các đức Phật khác không có điều đó.

- Ba là vì cõi Cực Lạc công đức trang nghiêm đủ mọi thù thắng, khác với những cõi Tịnh độ khác. Chúng sanh được sanh về dễ tiến đạo hơn.

- Bốn là vì phàm phu không có trí tuệ, nên y theo lời Phật cõi Cực Lạc Tịnh độ này đã được đức Phật Thích Ca khẳng định và lặp đi lặp lại khắp trong các kinh điển. Chư Phật nhiều như cát sông Hằng thảy đều khen ngợi.

- Năm là nếu những chúng sanh nào không có duyên với Phật, Phật không thể độ. Còn chúng sanh ở cõi này, chẳng luận già trẻ, sang hèn đều biết có Phật A Di Đà, bất chợt thốt ra đều niệm một câu A Di Đà Phật. Thế nên biết, chúng sanh ở cõi này có nhân duyên lớn với Phật A Di Đà.

- Sáu là thể tánh của tất cả chư Phật đồng nhau. Một là tất cả, tất cả là một, niệm một đức Phật là niệm tất cả chư Phật.

Mặt khác Phật A Di đà là Pháp giới tạng thân, nên niệm A Di đà Phật là niệm tất cả chư Phật.

Do đó, nên chỉ chuyên niệm A Di Đà Phật nguyện sanh về Cực Lạc thì sự lợi ích vô cùng to lớn!

49- Hỏi: Phân chia Tịnh độ, Uế độ, bỏ uế lấy tịnh đều thuộc vọng tưởng, đâu đáng gọi là chân tu?

Đáp:
Đó chẳng phải sự lấy bỏ trong vọng tƣởng của phàm phu, mà chính là phương pháp chung của chư Phật trong mười phương để chuyển phàm thành Thánh.

Nếu chẳng nhàm chán rời bỏ, làm sao chuyển phàm?

Nếu chẳng ưa thích chọn lấy, làm sao thành Thánh? Từ phàm phu trở lên, mỗi địa vị đều có sự lấy bỏ, mãi đến bậc Diệu giác mới hết lấy bỏ. Thế nên bậc cao đức thuở xưa nói: “Chỗ tột cùng của lấy bỏ và không lấy bỏ chẳng khác nhau”. Như thế, sao có thể gọi là chẳng phải chân tu?

Vã lại, nên biết chân tục không hai, lặng lẽ, tác dụng vô ngại, thì trọn ngày lấy bỏ mà chẳng thấy có tướng lấy bỏ.

Ngài Tịnh Danh nói: “Tuy biết pháp của chư Phật cùng chúng sanh rỗng không mà thường tu Tịnh độ giáo hóa chúng sanh”, đó là nói về ý này.

50- Hỏi: Tâm chính là Phật, thì quán xét ngay nơi tâm mình là được, cần gì niệm Phật nào khác?

Đáp:
Tâm mình cùng với chư Phật đồng một thể, thì quán xét tâm mình hay quán xét đức Phật khác chỉ tùy theo tiện lợi ở căn cơ. Lẽ nào lại chấp tâm mình là Phật, bảo rằng đức Phật khác ở ngoài tâm hay sao? Vã lại, niệm đức Phật khác là một phương tiện thù thắng của chư Phật, khiến cho được vãng sanh cõi nước kia, nhờ tha lực mau đến Bồ đề. Sự lợi ích ấy rất to lớn!

51- Hỏi: Tịnh độ ở nơi tâm, cần gì cầu sanh Cực Lạc?

Đáp:
Ông nói Tịnh độ ở nơi tâm là đã chấp vào cái tâm nhỏ bé này làm Tịnh độ, mà Cực Lạc thì xa xôi ở ngoài mười muôn ức cõi Phật. Như thế, hoàn toàn không biết ý chỉ của duy tâm.

Bảo rằng, duy tâm nghĩa là tâm bao trùm hư không, lượng khắp pháp giới. Tùy tâm thanh tịnh thì biểu hiện cõi thanh tịnh, tâm uế trược thì biểu hiện uế trược. Thế nên biết, người vãng sanh Cực Lạc chính bởi tâm thanh tịnh nên biểu hiện thanh tịnh, lẽ nào ở ngoài tâm?

Nếu tâm hạn cuộc nơi nhỏ bé rồi cho đó là Tịnh độ, thì chẳng những Cực Lạc không ở trong tâm mà Ta bà cũng chẳng ở trong tâm, chẳng những Cực Lạc chẳng nên vãng sanh, mà Ta bà cũng chẳng nên sanh vào.

Nếu như nói rằng có sanh thì đem cái gì sanh, rồi sau đó mới thành duy tâm?

Nếu nói rằng không sanh, đã rơi vào kiến chấp đoạn diệt. Đó là cái thấy của ngoại đạo, lý luận của Ma Ba Tuần.

52- Hỏi: Có người bảo rằng: “Ta chỉ tự thanh tịnh tâm mình thì tự nhiên vãng sanh Tịnh độ, cần gì niệm Phật cầu vãng sanh?

Đáp:
Đã không niệm Phật, không có nhân duyên Tịnh độ. Chỉ muốn ở nơi uế trược này tự thanh tịnh tâm mình, đây là điều Bồ Tát Long Thọ gọi là “Khó hành đạo”. Bởi vì cõi này cảnh duyên uế trược tạp loạn, nhiều chướng ngại đối với sự tu hành, mười người tiến, mười một người lùi, xoay vần trong sáu nẻo, trải qua số kiếp nhiều như cát bụi vẫn còn vướng mắc trong sanh tử. Cần phải đoạn hết kiến hoặc, tư hoặc mới ra khỏi ba cõi.

Chứng đắc Thất trụ (Bất thối trụ: Đạo tâm tăng trưởng không còn lui sụt) mới gọi là bất thối, mà còn chưa có phần vãng sanh Tịnh độ, sao lại nói là “Tâm tịnh thì cõi tịnh”. Như thế không phải là rất khó khăn hay sao?

53- Hỏi: Kẻ phàm phu chịu đủ mọi ràng buộc, tuy có niệm Phật, tham sân chưa dừng, tâm thật sự chẳng thanh tịnh thì làm sao vãng sanh?

Đáp
: Đó là nhờ vào lực của Phật A Di Đà tiếp dẫn.

Kinh Na Tiên nói: “Ví như có người muốn chuyên chở cả ngàn khối đá lớn qua biển cả, đều nhờ sức mạnh của thuyền nên đến được bờ bên kia”.

Tội lỗi của chúng ta cũng như tảng đá to lớn, nguyện lực của Phật A Di Đà cũng giống như chiếc thuyền, nên có thể vượt qua được biển sanh tử. Tội vốn phải đọa nhưng nhờ nương Phật lực mà được vãng sanh.

Hơn nữa, người còn mang nghiệp được vãng sanh, lúc sắp mạng chung cần phải giữ chánh niệm vững chắc.

Một niệm từ tâm thanh tịnh này còn nhanh chóng hiện ra cõi tịnh, huống gì có công phu niệm Phật nhiều ngày!

54- Hỏi: Những người tạo năm tội nghịch, mười nghiệp ác, chỉ niệm mười câu Phật hiệu được vãng sanh, điều này thật khó tin.

Đáp:
Nói chung một niệm lúc lâm chung rất quan trọng. Kinh nói: “Có người đàn bà qua sông, lỡ tay làm rơi đứa con xuống nước, vì lo cứu vớt con nên nước cuốn chết đuối. Do có niệm lành thương con nên được sanh lên cõi Trời”.

Tỳ kheo Vô Văn lúc lâm chung, vì khởi một niệm ác hủy báng Phật, bèn bị đọa vào địa ngục.

Thiên đàng hay địa ngục chỉ ở trong một niệm, còn có thể chuyển đổi. Thế thì mười niệm được vãng sanh Tịnh độ còn nghi ngờ gì nữa? Huống chi trong những lời phát nguyện, đức Phật A Di Đà có nói: “Chúng sanh xưng danh hiệu tôi cho đến mười niệm, nếu không được vãng sanh về cõi nước tôi, tôi không thành Chánh giác”.

Nguyện lực kiên cố, tâm niệm dõng mãnh. Bên này cảm, bên kia ứng, nhanh như hình với bóng, âm thanh với tiếng vang. Như thế nghi ngờ gì nữa!

55- Hỏi: “Kinh nói niệm một câu Phật hiệu trừ tội nặng của sự sanh tử trong tám mươi ức kiếp”. Điều này thật khó tin?

Đáp:
Lời này phát xuất từ chương Hạ phẩm Hạ sanh nói về người thành tựu mười niệm lúc lâm chung. Ông nghi ngờ tội nặng của sanh tử trong tám mươi ức kiếp là quan trọng, lại xem thường một niệm lúc lâm chung.

Nay y vào ba pháp của tông Thiên Thai mà suy xét thì chưa có thể lấy xa gần, nhiều ít để bàn luận khinh và trọng.

- Một là ở nơi tâm: Nghĩa là tâm tạo tội từ hư vọng điên đảo mà sinh khởi, tâm niệm Phật từ việc được nghe bậc thiện trí thức nói về danh hiệu và công đức chân thật của Phật A Di Đà mà phát sinh.

Một bên giả dối, một bên chân thật, đâu thể so sánh với nhau được. Ví như căn nhà tối muôn năm, ánh sáng mặt trời vừa soi đến, tối tăm nhanh chóng tiêu tan. Lẽ nào do tối đã lâu ngày nên không thể tan biến ngay được?

- Hai là nơi duyên: Nghĩa là tâm si mê hư vọng tạo tội, do duyên theo cảnh giả dối điên đảo mà phát sinh, tâm niệm Phật là do nghe danh hiệu và công đức chân thật thanh tịnh của Phật, duyên nơi tâm giác ngộ vô thượng mà phát sinh.

Một bên thật một bên giả, đâu có thể so sánh với nhau được. Ví như có ngƣời bị trúng tên độc, mũi tên cắm sâu, chất độc ngấm vào tổn hại da thịt, nhưng một khi nghe âm thanh của tiếng trống được thoa thuốc giải độc thì mũi tên bị đẩy ra, chất độc được giải trừ.

- Ba là ở nơi sự quyết định: Nghĩa là lúc tạo tội do có tâm gián đoạn và tâm hối hận về sau, còn khi niệm Phật không có hai tâm đó, nên lúc xả bỏ sinh mạng do tâm lành mạnh mẽ liền được vãng sanh. Ví như sợi dây rất to, cả ngàn người bứt không đứt, nhưng đứa bé chỉ cần vung gươm bén mà chém, thì trong khoảnh khắc liền đứt thành hai đoạn.

Ba sự lượng xét trên, hoàn toàn nhìn từ khía cạnh tâm hay niệm mà bàn luận. Có thể thấy rõ ràng tự tâm vốn đã có đầy đủ sức mạnh diệt trừ tội lỗi, chẳng thể nghĩ bàn.

Huống chi danh hiệu được niệm chính là Phật A Di Đà, bậc thành tựu muôn vàn đức hạnh. Do đại nguyện nhiếp trì, công năng ấy đâu thể nghĩ bàn cho được. Ví như có người lấy gân sư tử để làm dây đàn, một khi khảy đàn thì tất cả dây đàn khác đồng thời đứt đoạn. Lại như có người lấy các loại sữa trâu, dê, lừa, ngựa để vào thùng rồi cho vào một giọt sữa sư tử, tất cả loại sữa khác đều trở thành nước.

Nay xưng danh hiệu Phật, lẽ nào tội nặng của sự sanh tử trong tám mươi ức kiếp lại không tiêu diệt?

56- Hỏi: còn mang nghiệp được vãng sanh, điều đó tôi có thể tin. Nhưng vì sao được không thối chuyển?

Đáp:
Đỉều này có năm nhân duyên khiến người vãng sanh được không thối chuyển:

1. Do nguyện lực của Phật A Di Đà thường thu nhiếp giữ gìn.

2. Do quang minh của Phật luôn soi chiếu, tâm Bồ đề thường tăng trưởng.

3. Nước, chim, cây, gió reo, nhạc tấu đều thuyết giáo nghĩa khổ, không. Người nghe những pháp ấy thường khởi lòng niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng.

4. Cõi nước Cực Lạc toàn là Bồ Tát làm bạn lành, không có cảnh duyên xấu ác, không có quỷ thần, tà ma, các thứ phiền não tam độc… hoàn toàn không sinh khởi.

5. Do sống lâu mãi mãi đồng với chư Phật, Bồ Tát.

57- Hỏi: Người đời đều nghi ngờ cõi Cực Lạc ở xa ngoài mười muôn ức cõi nước, lúc lâm chung chỉ trong khoảnh khắc e khó đến được. Làm sao hiểu được điều này?

Đáp:
Tâm bao thái hư, lượng trùm khắp pháp giới thì mười muôn ức cõi nước chỉ ở trong tâm ta, nào có xa xôi gì? Khoảnh khắc mạng chung sinh trong tâm ta, nào có khó khăn gì?

Vả lại, gọi mười muôn cõi nước là đối với cái nhìn của phàm phu, tâm lượng trong sanh tử mà nói. Nếu chúng sanh thành tựu tịnh nghiệp, lúc lâm chung tâm an định tức là tâm thọ sanh Tịnh độ, vừa khởi niệm liền được vãng sanh. Thế nên Tự Tín Lực nói: “Mười muôn ức cõi nước chỉ trong khoảnh khắc liền đến, vì tự tâm vốn diệu huyền vậy”!

58- Hỏi: Lúc lâm chung mười câu Phật hiệu đã có thể vãng sanh, thế thì chúng tôi cứ lo việc khác, chờ lúc lâm chung niệm mười câu. Điều đó thế nào?

Đáp
: Lúc lâm chung niệm mười câu Phật hiệu không phải là dễ (xin hãy đọc Phần III: Lý do không vãng sanh).

Vậy muốn lúc lâm chung niệm đủ mười câu Phật hiệu để được vãng sanh, ngay hiện đời phải tập niệm Phật cho thành thói quen. Giờ phút lâm chung bệnh khổ bức bách, tình cảm rối ren, không thành thói quen khó mà niệm Phật được, gọi là gieo hạt giống niệm Phật cho lớn mạnh, chín mùi (thâm nhập nhất môn, trường kỳ huân tu), giờ phút ấy chúng mới khởi hiện hành (niệm Phật).

Mặt khác điều tối quan trọng là người tu Tịnh nghiệp phải có đủ ba món tư lương là Tín, Nguyện và Hạnh mới được vãng sanh (hãy đọc Phần II - Tư Lương Tịnh độ).

59- Hỏi: Niệm Phật được vãng sanh Cực Lạc là việc đời sau. Không biết hiện đời có lợi ích gì không?

Đáp:
Danh hiệu A Di Đà Phật là vạn đức hồng danh, nên xưng Thánh hiệu này có vô lượng công đức cho đời quá khứ, hiện tại và vị lai (kính xin hãy đọc lại Phần IV, lợi ích của sự niệm Phật). Niệm một câu A Di Đà Phật sẽ diệt được tám mươi ức kiếp trọng tội sanh tử (quá khứ), hưởng được tám mươi ức kiếp công đức vi diệu (hiện tại và vị lai), hiện đời được trường thọ.

60- Hỏi: Kinh nói: “Người sanh về Trời Đâu Suất, theo Bồ tát Di Lặc sanh xuống ba hội, tự nhiên được đạo quả”. Vậy cần gì phải bỏ Đâu Suất gần mà cầu Cực Lạc nơi xa xôi?

Đáp
: Ông cho rằng Đâu Suất gần, Cực Lạc xa. Đó chỉ là dùng nhục nhãn và tâm lượng phàm phu mà nói thôi.

Cả ba cõi Ta Bà, Đâu Suất, Cực Lạc đều ở trong một tâm. Tâm không có phân biệt kia đây, sao bảo rằng Đâu Suất gần còn Cực Lạc xa? Vả lại, nếu so sánh giữa Đâu Suất và Cực Lạc thì có mười sự hơn kém khác nhau:

1. Cực Lạc mười niệm được vãng sanh, Đâu Suất cần phải đắc các Tam muội, vào sâu chánh định, nên người khó được sanh (điển hình Bồ Tát Sư Tử Giác chỉ được sanh ngoại viện không được gặp Bồ Tát Di Lặc để nhận sự giáo hóa).

2. Cực Lạc do nguyện lực đại bi của Phật A Di Đà tiếp dẫn, Đâu Suất Bồ Tát Di Lặc không có thệ nguyện tiếp dẫn.

3. Cực Lạc do sức mạnh quang minh rộng lớn của Phật A Di Đà chiếu đến người tu hành trong mười phương thì thân tâm từ hoà, được đến sanh cõi ấy, ở Đâu Suất không có điều đó.

4. Phật A Di Đà thuyếp pháp nhiều gấp mười lần các đức Phật khác, chúng sanh tùy theo chí nguyện đều vui thích, những pháp muốn nghe tự nhiên được nghe, ở Đâu Suất không có điều đó.

5. Cõi cực Lạc không có người nữ quấy rối chúng sinh, ở Đâu Suất Thiên nữ vi diệu, chư Thiên đam mê không thể tự cố gắng tu hành (Gương Bồ Tát Sư Tử Giác).

6. Ngƣời sanh về Cực Lạc đều được ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp, đầy đủ thần thông, ở Đâu Suất không có điều đó.

7. Người sanh về Cực Lạc tự nhiên hàng phục, diệt tiêu phiền não, liền lên bậc bất thối chuyển, ở Đâu Suất, Bồ Tát Di Lặc tuy hằng ngày thuyết pháp bất thối, giáo hóa chúng sanh, nhƣng chưa hẳn được lên ngay bậc bất thối chuyển.

8. Người cầu sanh về Cực Lạc chỉ ngay trong đời này tiến thẳng đến đạo tràng, thành tựu đạo giác ngộ vô thượng, ở Đâu Suất theo Bồ Tát hạ sanh chưa hẳn đều chứng quả Thánh, huống gì đạo giác ngộ vô thượng.

9. Người sanh về Cực Lạc được tuổi thọ vô lượng ngang bằng với Phật, ở Đâu Suất không có điều đó.

10. Người sanh về Cực Lạc nếu muốn cúng dường chư Phật trong mười phương, thì các vật cúng dường tùy ý tự nhiên hiện ra trước mặt, trong khoảnh khắc đến mười phương cúng dường chư Phật trong khoảng thời gian một bữa ăn liền trở về cõi nước của mình, ở Đâu Suất không có điều đó.

61- Hỏi: Người niệm Phật mới “Nhập tâm”, để nuôi lớn mức nhập tâm nên quyết đóng cửa tịnh tu, cắt đứt mọi quan hệ bên ngoài như: Không tiếp xúc bạn đồng tu, không làm những Phật sự lặt vặt hằng ngày… Như vậy có lỗi là chấp pháp, ích kỷ, thiếu trí huệ không?

Đáp
: Hành giả niệm Phật mới nhập tâm cần được tích cực huân trưởng mức nhập tâm để tiến lên Bất niệm tự niệm hầu bảo đảm vãng sanh. Có tự độ được mình mới mong độ được người khác chứ (tự độ để độ tha). Ví như không biết lội mà nhảy xuống sông vớt người chết đuối thì cả hai đều bị chết chìm là việc dĩ nhiên.

Đành rằng mình có chấp pháp mà không vị kỷ, và không phải thiếu trí huệ (mà là người đại trí).

Người xưa nói: “Trạch thiện cố chấp” nghĩa là chọn việc thiện rồi giữ vững việc thiện ấy. Mình còn non kém phải chấp pháp để tiến tu hầu độ đời.

62- Hỏi: Hành giả tịnh nghiệp tinh tấn niệm Phật cầu vãng sanh Cực Lạc, mà hằng ngày bị người bạn đời ngăn cấm, cản trở, gây khó khăn mọi điều, lại đốt phá kinh sách, hình tượng Phật. Vậy phải làm sao đây?

Đáp:
Oan gia trái chủ đấy! Nghiệp chướng, nghiệp báo đấy! Ngoại khảo đấy!

Hiểu vậy hãy an nhiên tự tại, mặc kệ họ, không hờn trách oán hận ai hết (có chăng tự trách tiền kiếp mình quá dở), nhẫn nại chịu đựng, hoan hĩ trả nợ cho nhẹ gánh để công phu đắc lực hơn, cuối cùng vãng sanh.

Nên nhớ:

- Tùy duyên nhưng bất biến, Tùy duyên nghĩa là linh động, uyển chuyển hành trì sao cho thích ứng với hoàn cảnh. Bất biến nghĩa là không để bị chao đảo, tiến chứ không thối (trọng thực chất hơn hình thức).

- Chư Tổ dạy: “Lấy chướng ngại làm duyên tiến đạo” biến nghịch cảnh làm động cơ thúc đẩy ta nguyện thiết, hành chuyên hơn.

- Kiên trì, dõng mãnh hành trì, chí thành hồi hướng công đức cho đối nhơn.

- Chư Phật, chư Bồ Tát, Thiện Thần Hộ Pháp luôn hộ niệm ta, đây là sự thử thách, là cây thước đo đức tin, đạo lực của ta. Công phu càng khó khăn, thành tựu càng nhanh và càng vẻ vang ngoài mức tưởng tượng của mình.

Nói dễ làm khó, đây không phải là lý thuyết suông, đã có hai vị thành công rồi, còn hai vị đang thực hiện, chúng tôi vững tin rằng nếu làm đúng chỉ dẫn trên, chắc chắn sẽ thành công.
Kính chúc thành tựu như ý.

63- Hỏi: Nói rằng Tịnh độ môn là pháp môn cực viên đốn, thù thắng vi diệu vô thượng là thế nào?

Đáp:
Là so với Tông môn, mà nói. Chúng ta hãy phân tách kỹ như sau:

1) Cực viên đốn:

a- Thiền tông phải tu đến nghiệp sạch tình không, đại triệt đại ngộ, minh tâm kiến tánh, mới liễu sanh thoát tử, rồi tiến tu để thành Phật.

Thời mạt pháp này, thử hỏi có mấy ai được đại triệt đại ngộ, minh tâm kiến tánh?

Trong quyển “Niệm Phật luận” của Đàm Hư đại sư, Ngài nói cả đời Ngài gặp được hoặc nghe đến những người tham thiền đến mức đắc thiền định đã là rất ít, còn người tham thiền đến khai ngộ thì không những một đời chưa gặp, mà cũng không nghe đến.

Nếu tham thiền mà không thể đại triệt đại ngộ, minh tâm kiến tánh thì không kể là thành công. Công phu đắc thiền định có sâu có cạn, công phu cạn thì sanh lên cõi Trời Sơ thiền, Nhị thiền. Công phu sâu thì sanh lên cõi Trời Tam thiền, Tứ thiền. Cõi Trời Tứ thiền và Tứ Không (Bát định) vẫn chưa thoát khỏi Thiên đạo (còn sinh tử luân hồi).

b- Tịnh độ tông

Người niệm Phật đới nghiệp (mang nghiệp) vãng sanh. Vãng sanh đạt vô lượng thọ, được bất thối chuyển, một đời thành Phật. Pháp môn dể tu: Bất luận tăng tục, ngu trí, vua quan, dân, nam nữ, già trẻ, giàu nghèo, sang hèn, sĩ, nông, công, thương, binh, đau ốm bệnh tật... đều tu thành công dễ dàng (dễ chứng) (xin hãy đọc Phần I, dễ tu, dễ chứng).

Tăng tục Việt Nam nhờ niệm Phật dễ thành tựu nên đã vãng sanh về cõi Tây Phương Cực Lạc nhiều vô số.

Điển hình, riêng tu học tại chùa Tịnh Luật thôi, trong hai năm qua đã có trên bảy chục (70) vị Tăng, Tục niệm Phật “Nhập tâm” và đạt “Bất Niệm Tự Niệm”, bảo đảm sẽ vãng sanh về Cực Lạc bất luận tình huống nào.

Có những vị Tăng, Ni, Cư sĩ nhập Phật thất ở Chùa Tịnh luật niệm Phật hai (2) ngày được “Nhập tâm” và bảy (7) ngày đạt “Bất Niệm Tự Niệm”.

Cư sĩ Châu Quảng Đại ở Hoa Thịnh Đốn chỉ biết niệm Phật mới ba (3) ngày mà được vãng sanh Cực Lạc (Phật thuyết Thanh Tịnh Tâm giảng ký do Pháp sư Tịnh Không giảng, trang 26, www.thuvienhoasen.org).

2) Thù thắng, thâm diệu vô thượng.

Kinh Đại Tập nói: “Pháp môn Niệm Phật cầu vãng sanh là pháp môn Vô thượng thâm diệu thiền”.

64- Hỏi: Con trường chay, Niệm Phật cầu vãng sanh Cực Lạc trên mười năm rồi, tháng rồi đủ phước duyên con được đọc quyển sách “Niệm Phật Đạt Bất Niệm Tự Niệm Bảo Đảm Vãng Sanh” của Thầy, con vui mừng vô hạn không khác kẻ bần cùng được gặp của báu, con cố gắng hành trì đúng như thầy chỉ dạy, ngặt vì con quá bận rộn sinh kế, gia duyên ràng buộc. Sáng trưa chiều tối, cả ngày phải đối diện với việc làm ăn, với vợ con, quyến thuộc, mắt thấy tai nghe đều là là việc chướng đạo. Do đó con niệm Phật không nhập tâm được. Con nhất quyết đời này phải vãng sanh Cực Lạc, liễu sanh thoát tử, nên con định xuất gia, thoát tục để được rảnh rang công phu đắc lực hơn hầu đạt Bất Niệm Tự niệm như thầy chỉ dạy nhưng “bà xã” con không đồng ý vậy con phải làm sao hả thầy, xin thầy từ bi chỉ dạy con.

Đáp:
Liên hữu quyết chí hiện đời phải đạt Bất Niệm Tự Niệm để bảo đảm được vãng sanh Cực Lạc là điều rất tốt. Mỗi người có biệt nghiệp riêng, phải biết tùy duyên.

Đừng nghĩ người xuất gia rảnh rang, thoát tục và công phu đắc lực hơn người tại gia.

a- Về rảnh rang

Người xưa nói: “Vị trước cà sa hiềm đa sự. Trước vị cà sa sự hựu đa”. Nghĩa là chưa đắp cà sa than nhiều việc. Đắp cà sa rồi việc lại nhiều hơn. Bận rộn hay thảnh thơi ở nơi tâm mình, không ở thân nơi tại gia hay xuất gia.

Liên Tông Thập Tam Tổ Ấn Quang đại sư dạy:

“Một lòng không trụ muôn cảnh đều nhàn”, nghĩa là làm tất cả mọi việc mà lòng không chấp trước, dính mắc thì luôn luôn an nhàn (tâm thảnh thơi).

b- Về xuất gia thoát tục

Xuất gia có ba nghĩa: Xuất thế tục gia, xuất phiền não gia và xuất tam giới gia. Chủ yếu là hai nghĩa sau, là xuất phiền não gia và xuất tam giới gia. Nếu chỉ xuất thế tục gia thôi thì còn sinh tử luân hồi (trôi lăn trong sáu nẻo).

Người xuất gia có ba hạng:

- Thân xuất gia mà tâm không xuất gia.
- Thân không xuất gia mà tâm xuất gia.
- Thân, tâm đều xuất gia (dĩ nhiên hạng người này tốt nhất).

Vì hoàn cảnh, vì chưa đủ phước duyên liên hữu làm hạng người thứ hai. Thân không xuất gia mà tâm xuất gia cũng là tốt hơn hạng người thứ nhất rồi.

Người tu Tịnh nghiệp phải lấy sự nghiệp Niệm Phật làm chánh yếu, nên Tổ sư Pháp Nhiên dạy: “Đã tu Tịnh độ thì mọi chuyện trong đời đều y theo Niệm Phật mà quyết định. Ở nhà niệm Phật được thì cứ ở nhà mà niệm Phật” (có nghĩa là không bắt buộc phải vào chùa, vào chùa mà không niệm Phật được thì ở nhà niệm Phật vẫn tốt hơn). (Niệm Phật Tông Yếu câu 71 trang 194, Pháp Nhiên Thượng nhân).

Xƣa nay, mắt thấy tai nghe những người tại gia thành tựu tịnh nghiệp, vãng sanh Cực Lạc nhiều vô số kể, đâu bắt buộc phải xuất gia đâu?

Điều quan trọng là:

Tại gia hay xuất gia mỗi mỗi đều có cái tốt của riêng nó. Tùy phước duyên của mỗi ngƣời không nên thiên chấp. Kinh Hoa nghiêm dạy: “Tùy duyên nhưng bất biến, Bất biến nhưng phải tùy duyên”.

- Nhìn thấu: Thấy rõ: Vạn pháp giai không, nghĩa là Tất cả các pháp bản chất nó là không, gia đình cũng vốn là rỗng rang, nên chỉ làm hết bổn phận, trách nhiệm không đắm luyến trước giờ phúc lâm chung.

- Buông xuống, xả. Xả không phải vứt bỏ mà là không dính mắc, không chấp trước. Người xưa nói: “Quạ lướt mặt hồ không để bóng. Gió lùa khóm trúc chẳng lưu vang” là ý này.

Xả một được một, xả mười được mười, xả tất cả được tất cả (xả đắc).

Tin sâu, nguyện thiết, hành chuyên (đúng theo sự chỉ dẫn trong sách “Niệm Phật Đạt Bất Niệm Tự Niệm Bảo Đảm Vãng Sanh”).

Phải có quyết tâm cao, bền lòng vững chí sẵn sàng sang bằng mọi trở ngại, chướng duyên để đạt được mục tiêu cuối cùng là vãng sanh Cực Lạc. Thành kính chúc liên hữu thành tựu viên mãn chí nguyện tự độ độ tha.

65- Hỏi: Từ ý trì ở sách này và tâm niệm ở sách khác có khác nhau không? Nếu không, tại sao phải dùng hai từ khác nhau vậy?

Đáp:
Từ ý trì ở đây và tâm niệm ở các sách không khác nhau mà là một. Lý do chúng tôi không dùng từ tâm niệm mà dùng ý trì như sau:

1- Tâm niệm dễ lẫn lộn, lầm hiểu là quan niệm.

2- Chữ tâm quá trừu tượng, nghĩa quá rộng lớn.

Theo Duy thức học, có tám tâm vương năm mươi mốt tâm sở, không biết phải dùng tâm nào?

3- Trong sách “Tuyết Hư Lão nhân Tịnh Độ Tuyển Tập” Ngài Lý bỉnh Nam nói: “Ý trì vẫn có tiếng”, Ngài minh xác hai điều:

- Ý trì là một pháp trong những pháp trì danh.

- Niệm bằng ý vẫn có tiếng (đập tan mọi hiểu lầm của nhiều người cho rằng không có tiếng).

4- Để phân biệt tiến trình hành trì qua hai giai đoạn:

a. Ban đầu dùng ý (ý thức là tâm vương thứ sáu) để niệm, huân tập thuần thục sẽ được “Nhập tâm”.

b. Huân trưởng mức nhập tâm sâu, đạt “Bất Niệm Tự Niệm” lúc bấy giờ A Lại Da thức (Tâm vương thứ 8) tự động nó niệm (cũng gọi là Tự Tánh niệm, Tâm niệm).

Nhƣ vậy thì tâm niệm là giai đoạn sau cùng.

Chú ý: Từ Tâm niệm có hai cách hiểu khác nhau:

1- Tâm niệm là dùng Tâm để niệm Phật (xưng danh hiệu Phật) đây là cách tôi nghĩ, cùng ý trì là một.

2- Tâm niệm là dùng Tâm để nhớ (quán) sắc thân Phật hay trí thân Phật (pháp quán tưởng) vậy thì khác với ý trì.

66- Hỏi: Cổ đức dạy: “Muốn được vãng sanh, niệm Phật phải chuyển được chỗ chín thành chỗ sống, chỗ sống thành chỗ chín” là như thế nào?

Đáp:
Muốn được vãng sanh, hành giả Tịnh độ phải hành theo lời dạy của Nhị Tổ Thiện Đạo đại sư và Tổ sư Pháp Nhiên là bỏ tạp hạnh, kiên trì chuyên tu chánh hạnh (thâm nhập nhất môn, trường kỳ huân tu) nghĩa là Toàn thời gian lâu dài Niệm Phật không xen tạp không gián đoạn (không tụng kinh, bái sám… gì khác cả, chỉ độc nhất niệm Phật) mới có thể chuyển được chỗ chín (Ái nhiễm tham đắm ngũ dục lục trần) thành chỗ sống (Bồ đề chánh niệm, chân thành niệm Phật cầu vãng sanh), chỗ sống (Bồ đề chánh niệm) thành chỗ chín rục (Bồ đề chánh niệm thuần thục).

Vì sao phải chuyển như vậy? Vì: Ngoài những vị có cực trọng nghiệp, còn lại chúng ta tái sanh đều do cận tử nghiệp quyết định.

Ngay giờ phút lâm chung nếu:

- Khởi niệm ái nhiễm ngũ dục lục trần thì sẽ sa vào ba đường ác (địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh).

- Khởi chánh niệm niệm Phật thì sẽ được Đức Phật Di Đà tiếp dẫn vãng sanh Cực Lạc.

67- Hỏi: Người được vãng sanh Cực lạc được Bất thoái là sao?

Đáp:
Người được vãng sanh Cực Lạc dù Hạ phẩm Hạ sanh vẫn đạt Tam bất thoái, đó là Vị bất thoái, Hành bất thoái và Niệm Bất thoái.

1- Vị Bất thoái: Vị thứ đã tu được không bị thoái thất (tuột xuống) được quả vị nào thì trụ chắc quả vị đó để rồi tinh tấn tiến tu.

2- Hành Bất thoái: Chẳng bị thoái thất đối với các pháp đã tu hành, tức hạnh tu càng ngày càng tăng trưởng.

3- Niệm Bất thoái: Chẳng bị thoái chuyển về chánh niệm.

Ba Bất thoái này đem sánh với hạnh vị của Bồ Tát thì tùy theo các Tông có khác nhau.

Quán kinh Diệu Tông Sao, quyển hạ viết:

- “Nếu phá kiến tư hoặc được gọi là Vị Bất thoái, vĩnh viễn chẳng mất địa vị siêu phàm giả.

- Lại đoạn được trần sa hoặc được gọi là Hành Bất thoái vĩnh viễn chẳng mất hạnh Bồ Tát.

- Nếu đã phá vô minh được gọi là Niệm Bất thoái chẳng mất chánh niệm Trung Đạo”.

Nhị Tổ Thiện Đạo đại sư giải thích rộng hơn: Nếu được nghe danh hiệu, chỉ cần Tín, Nguyện, Trì danh thì ắt có thể ngay trong hiện đời chứng được Bất thoái.

68- Hỏi: Người vãng sanh Cực Lạc đắc Vô sanh pháp nhẫn là gì?

Đáp:

1- Kinh Quán Vô Lượng Thọ, Phép quán thứ mười bốn (Thượng Phẩm Thượng Sanh Quán) nói: Khi sanh về Thượng Phẩm Thượng sanh liền ngộ vô sanh pháp nhẫn. (Thượng Phẩm Trung Sanh chưa ngộ).

2- Kinh Vô Lượng Thọ, Phẩm mƣời lăm, Bồ Đề Đạo Tràng nói:

Người vãng sanh Cực Lạc thấy cây Bồ đề đạo tràng sẽ đắc ba thứ nhẫn: Một là Âm Hưởng Nhẫn, hai là Nhu Thuận Nhẫn, ba là Vô Sanh Pháp Nhẫn.

Tịnh Ảnh Sớ giảng như sau:

- Âm Hưởng Nhẫn là do nghe pháp ngộ đạo, biết hết thảy pháp giống như tiếng vọng, như mộng, huyễn, bọt nước, hình bóng. Bậc Bồ Tát Biệt Giáo từ Tam địa trở xuống đắc nhẫn này.

- Nhu Thuận Nhẫn là không dùng ngôn ngữ văn tự để diễn đạt nghĩa lý, mà hướng đến Thật Tướng. Bồ Tát từ tứ, ngũ, lục địa đắc nhẫn này.

- Vô Sanh Pháp Nhẫn là chứng nhập Thật Tướng, lìa hết thảy tướng. Bồ Tát từ thất địa trở lên đắc nhẫn này.

Nói cách khác giản dị, an trụ trong lý Chơn Như Thật Tướng bất sanh bất diệt thì gọi là Vô Sanh Pháp Nhẫn.

69- Hỏi: Người vãng sanh Cực Lạc đều trụ trong Chánh định tụ là sao?

Đáp:
Chánh định tụ là một trong ba tụ. Cả Đại thừa và Tiểu thừa đều nói đến ba tụ, nhưng có nhiều thuyết như sau:

a. Thuyết thứ nhất, ba tụ là:

- Chánh định tụ: Những người nhất định chứng ngộ.
- Tà định tụ: Hoàn toàn chẳng chứng ngộ.
- Bất định tu: Ở giữa hai hạng trên, hữu duyên thì chứng ngộ, vô duyên ắt chẳng chứng ngộ.

b. Thuyết thứ hai là của Khởi Tín Luận:

- Từ phàm phu đến hạng chưa đạt bậc Thập Tín, chẳng tin nhân quả là Tà định.
- Hạng Thập Tín là Bất định tánh.
- Từ Thập Trụ trở lên là Chánh định.

Thuyết này là thuyết của Đại thừa Thật giáo.

c- Thuyết thứ ba như sách Hội sớ nói: “Định tụ nói đầy đủ là Chánh định tụ, cũng gọi là Bất thoái chuyển, tức là Bồ Tát A Bệ Bạt Trí.. Vì sao gọi là Chánh định? Phàm hết thảy chúng sanh tuy căn tánh muôn phần sai khác nhưng nếu phân loại thì chẳng ngoài ba thứ:

- Ắt đọa trong sáu đường là Tà định.
- Nếu thăng trầm tùy duyên thì là Bất định.
- Quyết định đạt đến Bồ đề thì gọi là Chánh định.

Mặt khác hiển thị sâu sắc sự sâu rộng của Di Đà đại nguyện thì chẳng những người đã vãng sanh Cực Lạc trụ trong chánh định, quyết chứng Vô Thượng Đạo mà hết thảy những người cầu sanh Cực Lạc trong hiện tại hoặc tương lai chỉ cần phát Bồ Đề tâm nhất hướng chuyên niệm thì sẽ tương ứng với bổn nguyện của Phật A Di Đà, dẫu trong uế độ vẫn còn là phàm phu đầy dẫy, nhưng hễ vãng sanh thì ắt trụ trong Chánh định, quyết chứng Bồ đề.

Đây thật là điều siêu tình ly kiến chẳng thể nghĩ bàn, dứt bặt đối đãi một cách viên dung, phương tiện rốt ráo.

Sách Bình giải đã cực lực tán dƣơng thuyết của Thiện Đạo đại sư: Người sẽ được vãng sanh tuy thân còn đang ở Ta Bà đã được hưởng lợi ích bí mật là nhập vào Chánh định tụ.

70- Hỏi: Liên Tông thập tam Tổ Ấn Quang đại sư dạy:

“Hành giả tu Tịnh nghiệp luôn luôn phải giữ câu Phật hiệu hiện tiền. Nên dù ở đâu, bất cứ lúc nào cũng phải niệm Phật, nhưng nơi phòng vệ sinh, nhà tắm, nơi này bất tịnh niệm ra tiếng sẽ mang lỗi bất kính, phải niệm thầm”, “Sản phụ, đang lúc thập tử nhất sanh này, phải niệm Phật lớn tiếng để dễ được Chư Phật gia bị”. Phòng sanh đẻ cũng bất tịnh vậy, sao lại không sợ mang lỗi bất kính như trên. Vậy hai lời dạy này có mâu thuẩn, trái chóng nhau không?


Đáp:
Cả hai đều đúng, không mâu thuẩn, trái chóng gì cả.

Lời Chư Tổ dạy không bao giờ sai. Tại sao? Vì: Câu đầu đứng trên sự tướng mà nói thì có tịnh, bất tịnh. Câu sau đứng trên lý tánh mà nói thì “Vạn pháp nhất như, bất cấu bất tịnh”. Chúng ta phải y giáo phụng hành, để thật sự có nhiều lợi ích.

71- Hỏi: “Chư tổ dạy: “Pháp môn tịnh độ là pháp môn tha lực”. Vậy việc Vãng sanh hoàn toàn do Đức Phật quyết định phải không thầy?

Đáp: Đúng pháp môn Tịnh độ là pháp môn tha lực có nghĩa là nhờ (dựa vào) sự tiếp dẫn của Phật. Nói việc vãng sanh hoàn toàn do đức Phật quyết định là không đúng. Có cảm (tự lực) mới có ứng (tha lực) chứ? Đúng nghĩa hữu cầu tất ứng, có cầu (tự lực) mới có ứng (tha lực) chứ? Vậy thì có tự lực mới có tha lực phải không?

Đành rằng Pháp Nhiên Thượng nhân dạy: “Vãng sanh là việc của Phật làm (tha lực)”. Vì đây là bổn nguyện của Phật, nhưng Ngài cũng dạy tiếp “Niệm Phật là chuyện của mình phải làm (tự lực)”. Mình có niệm Phật (tự lực), Phật mới tiếp dẫn (tha lực) chứ! Trong ba kinh Tịnh độ (Kinh A Di Đà, kinh Vô Lượng Thọ, kinh Quán Vô Lượng Thọ) đã nói rõ đức Phật tiếp dẫn vãng sanh (tha lực) có điều kiện là phải niệm Phật (tự lực). (Xin hãy đọc kỹ Phần III, điều kiện vãng sanh và lý do không vãng sanh).

Đành rằng tự lực không chưa đủ phải nhờ thêm tha lực, nhưng không có tự lực thì làm gì có tha lực!

Niệm Phật là nhân, vãng sanh thành Phật là quả, không có nhân làm sao có được quả?

Để tránh hiểu lầm (thiên kiến) chư Tổ cũng dạy; “Pháp Môn Tịnh độ là Pháp môn Nhị lực (Tự lực + tha lực)”.

72- Hỏi: Niệm Phật lai rai Như Lai cũng độ, niệm Phật tà tà Di Đà cũng rước, đúng không thầy?

Đáp:
Quan niệm này hết sức tiêu cực. Nên nhớ nhân nào quả nấy, nhân chắc quả mới thật, hình thẳng bóng mới ngay. Hình cong vạy mà muốn bóng ngay thẳng, thật vô lý, không bao giờ có.

Kiếp (đời) sau của con người, do một niệm sau cùng trƣớc giờ lâm chung quyết định (cận tử nghiệp). Muốn được vãng sanh Cực Lạc, phải đạt một trong ba điều kiện theo thứ tự ưu tiên sau đây:

1- Niệm Phật đạt Nhất Tâm Bất Loạn (Kinh A Di Đà).

2- Niệm Phật đạt Bất Niệm Tự Niệm (Kệ Niệm Phật).

3- Niệm Phật thuần thục (hạt giống lớn mạnh đủ khả năng khởi hiện hành trong sát na cuối cùng cuộc đời) (Kinh Vô Lượng Thọ, Kinh Quán Vô Lượng Thọ).

Còn việc niệm Phật tà tà Di Đà cũng rƣớc, không hẳn tuyệt đối là không, nếu nhân Tịnh nghiệp nhiều đời nhiều kiếp đến lúc chín mùi, hành giả phát khởi được câu Phật hiệu thì vẫn được vãng sanh, nhưng trường hợp nầy muôn ức ức người chưa có một, chớ có ảo tưởng phiêu lưu!

Bằng nhƣ không đạt được một trong bốn điều kiện trên, sát na cuối cùng chủng tử ác nghiệp phát khởi, liền theo nghiệp về cảnh giới tương ứng như sân (địa ngục), tham (ngạ quỷ), si (súc sanh). Hết sức hiểm nguy!!!

73- Hỏi: Người hấp hối vào nhà vãng sanh ở để được Ban hộ niệm, hộ niệm cho, như vậy có chắc chắn vãng sanh không?

Đáp:


- Nhà vãng sanh là nơi có đầy đủ phương tiện để giúp bệnh nhân đạt được điều kiện vãng sanh chứ không phải vào đó ở rồi được vãng sanh, đây chỉ là phương tiện, không phải cứu cánh, chớ nên hiểu lầm.

- Ban hộ niệm, hộ niệm hay trợ niệm cũng chỉ tạo cơ hội, tạo duyên nhắc nhở giúp bệnh nhân niệm Phật để được vãng sanh. Đây chỉ là tạo duyên mà thôi.

- Bệnh nhân không chịu niệm Phật giả như Đức Phật có hiện ra cũng chịu thua (không vãng sanh) huống hồ gì phàm phu hộ niệm.

- Nên biết bệnh nhân chịu niệm Phật theo Ban hộ niệm phải là người đã trải qua quá trình công phu dù chưa nhập tâm nhưng cũng khá lắm rồi.

Niệm Phật là nhân, vãng sanh là quả. Nhà vãng sanh, Ban hộ niệm chỉ là phương tiện, là duyên không phải là nhân nên không thể nào thành quả được.

Nhiều người vì quá nhiệt thành trong việc muốn giúp người được vãng sanh mà lầm hiểu, lại khiến nhiều người khác mê lầm theo, nhận phương tiện làm cứu cánh, bỏ qua cơ hội vãng sanh, thật đáng tiếc, tội này không phải là nhỏ, nên thận trọng!

Trong hai mươi điều khó làm, đức Thế Tôn dạy người tu phải vượt qua, điều thứ hai mươi là “Khéo biết phương tiện”. Vậy hành giả phải sáng suốt, không chấp thủ, nhận rõ gì là phương tiện để vượt qua hầu đạt tới cứu cánh.

Đức Thế Tôn dạy: “Kia đó trượng phu, ta đây cũng vậy”, không tự ty, mặc cảm. Hành giả Tịnh nghiệp chuyên tu phải dõng mãnh tinh tấn niệm Phật theo đúng lời chỉ dạy của chư Tổ để đạt Nhất Tâm Bất Loạn hay ít nhất Niệm lực được tương tục (Bất niệm tự niệm) hầu tự bảo đảm vãng sanh, là chánh, là tốt nhất. Còn việc vào ở nhà vãng sanh, để đƣợc trợ niệm là phụ, là thứ yếu, vạn bất đắc dĩ, vớt vát mà thôi.

74- Hỏi: Xin thầy nói rõ hơn sự phân biệt giữa ba cách trì danh: Kim cang trì, mặc trì và ý trì, và sự lợi ích của ý trì.

Đáp:


- Kim cang trì và mặc trì đều là niệm thầm (không ra tiếng), niệm bằng miệng (gọi là khẩu trì), nhưng kim cang trì còn nhép môi, còn mặc trì thì không nhép môi.

- Ý trì cũng niệm thầm (không ra tiếng), nhưng niệm bằng ý (không phải niệm bằng miệng như kim cang trì hay mặc trì). Ý trì ban đầu còn yếu không nghe tiếng, sau lớn mạnh thì có tiếng, lúc bấy giờ nghe tiếng không phải nghe bằng lổ tai, nhĩ căn, nhĩ thức mà nghe bằng tánh nghe (thường gọi là tánh trong căn).

Trong Tuyết Hư Lão Nhân Tịnh Độ Tuyển Tập Ngài Lý Bỉnh Nam nói: “Ý trì vẫn có tiếng”. (Hãy đọc kỹ Phần IV, Cách trì danh).

- Lợi ích của ý trì:

a. Trong suốt thời gian ý trì nhất định không có vọng niệm. Vì ý bận niệm Phật làm sao có niệm gì khác được (Tâm vô nhị dụng nghĩa là tâm một lúc không thể làm hai việc), như vậy là tu chỉ của Thiền. Lắng lòng nghe rành rẽ rõ ràng danh hiệu Phật là tu quán rồi. Ý trì là chỉ quán song tu của Thiền. Do vậy Kinh Đại Tập dạy: “Pháp môn Tịnh độ (niệm Phật) là Vô thượng thâm diệu Thiền” (là Thiền thâm sâu, vi diệu, cao nhất).

b. Ý căn và nhĩ căn xoay vào trong (hướng nội) để niệm Phật và nghe danh hiệu Phật không để chúng rong ruổi (hướng ngoại) theo ngũ dục lục trần, là nhiếp được hai căn chủ tể nhạy bén nhất của sáu căn. Sáu căn dung thông nhau, viên thông được một là viên thông cả sáu (nhất tu nhất thiết tu, thành tựu một là thành tựu tất cả).

Quán Thế Âm Bồ Tát chỉ tu nhĩ căn được viên thông mà thành tựu quả vị Đẳng Giác Bồ Tát. Hành giả ý trì (niệm Phật bằng Ý) là hành đúng phương cách Kinh Lăng Nghiêm dạy: “Nhiếp trọn sáu căn, tịnh niệm nối tiếp đắc Tam Ma Địa (đắc định, Nhất Tâm Bất Loạn) bậc nhất, chẳng cần phƣơng tiện gì khác tự được khai tâm (khai mở trí tuệ).

75- Hỏi: Ý trì có phải trụ tâm ở đâu không? Có nhiều Thầy dạy trụ ở nhiều nơi khác nhau trên thân, hoặc trên hình tượng Phật. Kính xin Thầy minh xác việc này.

Đáp:


1- Không trụ mà trụ, trụ mà không trụ, như sau:

a. Kinh Kim Cang dạy: “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” nghĩa là không trụ vào đâu cả mà sanh tâm (làm các việc). Kinh Bát Nhã dạy: “Chiếu kiến ngũ uẩn giai không…”. Nghĩa là thấy năm uẩn đều không, đã là không thì lấy gì, lấy chỗ nào để mà trụ (không trụ). Hành giả dùng ý niệm Phật một cách nghiêm túc (không đùa giỡn), bình thường (không vội vã, hấp tấp), thanh thản (không mong cầu), nhàn nhã (buông xả vạn duyên, không bân rộn dính mắc gi cả, tâm không, tâm vô sự). Đó là không trụ (vô trụ). Mà “Trụ” là sao? Dùng ý niệm Phật nghĩa là cột ý vào danh hiệu Phật, có nghĩa là trụ trên danh hiệu Phật.

Hai ý trên là nghĩa câu thứ nhất “Không trụ mà trụ”.

b. Trụ mà không chấp tướng, không trở ngại đường tu, trái lại đem lại nhiều lợi ích, là hoà nhập ý (tâm) với danh hiệu Phật (theo Kinh Niệm Phật Ba La Mật danh hiệu Phật là biểu tượng Pháp thân Phật) làm một, đúng nghĩa kinh Quán Vô Lượng dạy: “Tâm làm Phật, Tâm là Phật”. Tông Cảnh Lục cũng nói: “Nhất niệm tương ưng, nhất niệm Phật”. Trong kinh A Di Đà Yếu giải Liên Tông cửu Tổ Ngẫu Ích đại sư cũng nói: “Ngay khi niệm Phật mình đã là Phật rồi”.

Đây là nghĩa câu thứ hai “Trụ mà không trụ”.

2- Trụ nhiều nơi khác nhau trên thân.

a. Theo cơ thể học, tập trung ý nghĩ (trụ) ở đâu máu sẽ tụ hội về nơi đó. Nếu trụ ở đầu thì thì dễ bị nhức đầu, (lên máu).

b. Ý đang niệm Phật lại phải nghĩ trụ ở nhiều nơi nhất định nào đó, là bị phân tâm làm sao tiến tới Nhất Tâm được. Bởi vậy chư Tổ dạy niệm Phật phải chuyên tâm nhất ý là vậy.

c. Minh Tuệ tôi chưa thấy Kinh Phật hay chư Tổ nào dạy như vậy. Thành thật mà nói là tôi không rõ việc này.

3- Nếu đặt danh hiệu Phật ở nhiều nơi trên hình tượng Phật, rồi tưởng tượng danh hiệu ấy nổi lên mà niệm, thiết nghĩ đây là pháp quán tưởng trì danh, Minh Tuệ hành trì pháp nhiếp tâm trì danh, không có kinh nghiệm về pháp quán tưởng, nên xin phép không có ý kiến.

76- Hỏi: Phật tử có bị bắt buộc phải tham dự tất cả các buổi giảng pháp của pháp sư không?

Đáp:
Không bắt buộc. Trước tiên hành giả phải biết Pháp sư giảng đề tài gì, thuộc tông phái nào: Thiền, Tịnh, Mật…!

1- Nếu đề tài Tịnh độ thì hành giả Tịnh độ nên cố gắng tối đa đến tham dự để học hỏi thêm kiến thức và kinh nghiệm hành trì.

2- Nếu đề tài không phải Tịnh độ mà Thiền, Mật thì:

a. Nếu hành giả đã công phu đắc lực, có định lực, vững đủ niềm tin Tịnh độ (tối thiểu cũng đã đạt Bất Niệm Tự Niệm sâu nghĩa là không gì lay chuyển nổi) thì nên tham dự để trang nghiêm đạo tràng (giúp đạo tràng càng đông người, tạo thêm niềm tin cho thính giả). Bồ Tát hạnh đấy.

b. Nếu là hành giả sơ cơ, chưa đạt được trình độ trên (Bất Niệm Tự Niệm sâu) thì không được tham dự.

Tại sao?

Chư Tổ Tịnh độ dạy: “Người tu Tịnh độ không nên nghe lời khai thị của các thiền sư”. Vì sao? Vì tuy rằng mục đích chung cuộc là một: Giác ngộ, giải thoát, nhưng lý luận, phương cách hành trì ban đầu trái khác nhau.

Thiền Tông là Pháp Tánh Tông (lý), còn Tịnh độ Tông là Pháp Tướng Tông (sự). Thiền Tông từ cửa KHÔNG (vô môn) mà vào.Tịnh độ Tông từ cửa CÓ (hữu môn) mà vào đạo. Vì trái ngược nhau như vậy, tham dự vô ích, lại mất đi thời khóa công phu của mình, không khéo sẽ bị lung lạc, nghi ngờ, thối thất Bồ đề tâm, mất đi cơ hội Vãng sanh Cực Lạc thành Phật độ chúng sanh. Nên hết sức thận trọng!!!

Như vậy ngồi nhà niệm Phật hữu ích hơn.

77- Hỏi: Thầy nói vậy thì hạnh “Hằng thuận chúng sanh” thì sao?

Đáp
: “Hằng thuận chúng sanh” là hạnh thứ chín trong Mười Nguyện Phổ Hiền, đây là cách nói với Pháp thân đại sĩ. Phàm phu chúng ta cũng nên học theo. Buông bỏ vọng tưởng phân biệt và chấp trước, tất cả đều tùy thuận người khác. Trước khi tùy thuận, nhất định phải quan sát kỹ lưỡng, nếu là thiện pháp, như lý, như pháp thì mình tùy thuận, nếu là ác pháp, không như lý, không như pháp thì tuyệt đối không tùy thuận. Tùy thuận phải dùng lý trí xét đoán, không thể riêng dùng tình cảm.

Đáp án ghi trên là tùy thuận rồi đó.

78- Hỏi: Ba má con nay trên bảy mươi tuổi rồi, không tin Phật, con khuyên niệm Phật chẳng những không làm mà còn bị mắng. Vậy con phải làm sao?

Đáp:
Đức Phật dạy: “Tùy duyên chứ đừng phan duyên”. Tùy duyên mới được tự tại. Bậc cha mẹ thường nghĩ là mình bao giờ cũng giỏi hơn con cháu, nên ít khi chịu nghe lời khuyên (khẩu giáo) của con cháu. Việc này không dễ, phải nhẫn nhục, kiên trì nổ lực không ngừng.

Bạn nên cố gắng miên mật (không gián đoạn) hành trì đúng lời chỉ dẫn trong sách này, công phu đắc lực đạt Bất Niệm Tự Niệm từ đó có những điểm lợi sau đây:

a. Tự tạo được từ trường tốt chuyển hóa dần dần tâm của song thân.

b. Nhờ công đức danh hiệu Phật thân tâm bạn chuyển đổi tốt, có thể làm gương mẫu cho mọi người (thân giáo), nhờ đây song thân bạn sẽ nhận ra lợi ích của sự niệm Phật, tự động nghe lời khuyên của bạn.

c. Bạn đã có công đức, hồi hướng công đức tu hành cho song thân.

d. Nếu đủ phước và ý chí bạn tiến tu đạt Niệm Phật Thành một khối (một phiến, một mãng). Pháp sư Tịnh Không nói: “Đây là tiểu chứng, dùng công đức tu hành này hồi hướng cho cửu huyền thất tổ mình đều được siêu thăng”. Vậy là độ cha mẹ là quá dễ.

e. Bằng không, thì vãng sanh Cực Lạc rồi trở về Ta Bà báo hiếu, cứu độ song thân sau.

79- Hỏi: Hai vợ chồng con và mấy đứa con của con đều niệm Phật cầu vãng sanh Cực Lạc, duy có một đứa làm ăn khá giả, nó không chịu niệm Phật cầu vãng sanh. Con khuyên không được vậy phải làm sao thầy?

Đáp:
Đức Phật dạy: “Người tu phải vượt qua hai mươi điều khó”. Điều khó thứ nhì:

Giàu sang học đạo là khó. Vì họ cảm thấy họ đang ăn ngon, mặc đẹp, ở sang muốn gì được nấy họ cảm thấy thỏa mãn, hạnh phúc quá rồi đâu cần gì nữa. Họ nào có biết đâu ngày nay giàu sang, học giỏi là nhờ kiếp trước khéo tu bố thí tài và bố thí pháp. Người có phước hưởng hết phước liền bị đoạ. Phước cõi người đâu bằng phước cõi Trời, Tiên hưởng hết phước vẫn bị đọa.

Họ lại lầm nghĩ rằng, kiếp này họ chẳng làm ác, kiếp sau sẽ sanh trở lại làm người. Họ đâu biết rằng trong lúc làm giàu không cố ý thì là vô tình họ đã tạo nhiều ác nghiệp. Mặc khác, kiếp này được làm người là nhờ giờ phút cuối cùng của kiếp trước nhân thiện đến lúc chín mùi. Trong lúc đó còn có rất nhiều ác nghiệp còn tiềm phục trong tạng thức. Biết đâu những hạt giống ác nghiệp kiếp trước và kiếp này chín mùi ngay trước giờ phút lâm chung thì tức khắc bị đọa vào ba đường ác: Địa ngục, ngạ quỷ và súc sanh.

Bởi vậy Đức Phật dạy: “Thân người khó được, Phật pháp khó nghe”. Đức Phật đưa ra hai thí dụ:

1- Người chết được lại thân người như đất dính ở đầu ngón tay (quá ít), còn mất thân người (bị đọa ba đường ác, địa ngục, ngạ quỷ và súc sanh) như đất ngoài đại địa (thật quá nhiều, không biết bao nhiêu lần mà kể).

2- Rùa mù chui vào bọng cây. Con rùa mù ở dưới đáy biển cứ một trăm năm trồi lên mặt biển một lần để chui vào bọng cây trên mặt biển. Bọng cây nổi lềnh bềnh trên mặt biển một trăm năm bị sóng gió thổi trôi giạt biết đến phương trời nào mà tìm. Dù cho có tìm được, đui mù thấy đường đâu mà chui vào, trăm ngàn vạn lần khó khăn như thế mà Đức Phật bảo rằng còn dễ hơn được lại thân người.

Mỗi người có phước phần riêng. Hãy tùy duyên để được tự tại, phan duyên làm chi cho thêm phiền não.

Hai đạo hữu hãy tinh tấn hành trì, công phu đắc lực đạt Bất Niệm Tự Niệm sẽ được nhiều lợi ích như đã nêu ở câu đáp 78 ghi trên.

80- Hỏi: Thế nào là Lão Thật niệm Phật?

Đáp:
Lão thật niệm Phật thường gọi là Thật thà niệm Phật. Thực hành bằng cách sau:

1- Chuyên tâm nhất ý niệm Phật, ngoài danh hiệu Phật, không còn sự, việc gì khác nữa.

2- Miệng niệm Phật, tâm cũng phải niệm Phật.

3- Miệng và Tâm niệm Phật không xen tạp không gián đoạn cho đến giờ phút cuối cùng cuộc đời, nghĩa là lấy danh hiệu Phật làm bổn mạng của mình.

a. Tâm không hoài nghi, tuyệt đối tin tưởng vào lời giáo hóa của Phật Thích Ca và Đại nguyện của Phật A Di Đà.

b. Tâm không mong cầu bất cứ gì khác như, chứng đắc, vãng sanh, thành Phật…

c. Tâm buông xả vạn duyên, nghĩa là tâm không nhớ nghĩ gì khác, kể cả ăn, uống, mặc, ngủ nghĩ, ngủ dục lục trần, danh văn lợi dưỡng, thị phi, được mất, hơn thua, thành bại…

d. Tâm không còn chấp ngã.

4. Toàn thân tâm đều niệm Phật. Ban đầu dùng nhĩ căn niệm Phật nghĩa là nghe bất cứ tiếng gì cũng là tiếng niệm Phật, như tiếng chim kêu, gió thổi, nuớc chảy, xe chạy thậm chí tiếng mắng chửi mình cũng là tiếng niệm Phật. Sau đó các căn khác cũng đều như vậy.

5. Hòa nhập năng sở là một, nghĩa là ta người niệm Phật (năng) và danh hiệu Phật được niệm (sở) là một.

Tóm lại: Buông xả vạn duyên, không mong cầu, suốt đời chuyên tâm nhất ý toàn thân tâm Niệm Phật không hoài nghi, không xen tạp, không gián đoạn. Cuối cùng không còn chấp ngã, hoà nhập năng sở làm một.

Thực hiện được những điều nói trên, tùy theo mức độ sâu cạn, sẽ lần lượt chứng nhập Bất niệm tự niệm, Thành một khối, Nhất tâm Bất loạn (Niệm Phật Tam Muội).

Hành giả nên cố gắng, kiên trì thực tập từng bước hầu sớm thành tựu Tịnh nghiệp, bảo đảm vãng sanh Cực Lạc, thành Phật độ chúng sanh.

81- Hỏi: Theo thông tin mới, Các quan chức Nasa (Mỹ), chính thức thông báo năm 2013 trái đất chúng ta sẽ bị chấn động bởi một vụ nổ Mặt Trời. Nhiệt độ của Mặt Trời sẽ vượt quá 5.500 độ. Theo các nhà khoa học người Anh vụ nổ Mặt Trời gây hậu quả khủng khiếp với con người, nó có sức công phá tương đương với 100 quả bom hydrogen. Có nhiều quốc gia sẽ bị hủy diệt. Theo sự tiên đoán của các khoa học gia và các nhà Tiên tri thì tại nhiều quốc gia sẽ bùng phát trận dịch cúm một cách kinh hồn, sóng thần, động đất sẽ nhận chìm nhiều thành phố ven biển của thế giới. Thiên tai, đại hồng thủy, động đất, binh dao, dịch cúm bùng nổ các nơi. Vậy thì đối trước thảm trạng này, chúng con phải làm gì đây?

Đáp: Kinh Đại thừa dạy: “Tất cả tai nạn đều do khí lượng phiền não, tham, sân, si, ngã mạn chiêu cảm, do những ác nghiệp sát, tà dâm, vọng tưởng rất mạnh tạo thành”, “Tâm tạo nghiệp, Tâm cũng chuyển được nghiệp”, “Tuy nghiệp lực mạnh nhưng Tâm lực càng mạnh hơn”. Vì tâm là chủ nhân ông. Kinh Pháp Cú dạy:

“Tâm là chủ, tâm dẫn đầu, tâm tạo tác các pháp”. Kinh Hoa Nghiêm dạy: “Nhất thiết pháp duy tâm tạo”, nghĩa là tất cả pháp đều do tâm tạo thành.

Pháp sư Tịnh Không dạy: “Nếu bạn muốn mau chóng hóa giải những nguy cơ tai nạn, chỉ một điều duy nhất là triệt để buông bỏ cái tâm vọng tưởng, phân biệt, chấp trước, cùng nhau chí thành sám trừ nghiệp chướng, đoạn ác tu thiện, nhất tâm niệm Phật, giải trừ thù hận”.

Nếu phần đông nhân loại tu hành được như vậy thì thảm trạng trên sẽ có thể không xảy ra.

Nếu những thông tin trên là chính xác, và vào thời điểm đó sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật không đủ để ngăn chặn được thảm họa này. Như trên đã nói thì con người lúc bấy giờ sống trong cảnh cơ hàn, lo sợ, kinh hoàng, chết chóc đây là cộng nghiệp đành phải chịu, nhưng trong cộng nghiệp còn có biệt nghiệp (ngoại lệ).

Biệt nghiệp là gì? Là nghiệp riêng của mỗi người.

Vậy ta nên tự tạo biệt nghiệp cho riêng mình bằng cách:

Phát Tâm Bồ Đề, Nhất Hướng Chuyên Niệm Phật A Di Đà theo lời dạy trong kinh Đại Thừa Vô Lượng Thọ.

Trong Kinh A Di Đà Yếu Giải, Ngẫu Ích đại sư dạy, hành giả niệm Phật cầu vãng sanh Tịnh Độ thành Phật độ chúng sanh là đương nhiên phát tâm Bồ Đề rồi. Còn lại là Nhất hướng chuyên niệm. Liên Tông nhị tổ Thiện Đạo đại sư dạy: Hành giả chuyên tu trăm người tu, trăm người vãng sanh, vạn người tu vạn người vãng sanh với điều kiện niệm Phật đạt được Niệm lực tương tục (Bất niệm tự niệm.). Cách chuyên tu này đã nói rành rẽ, rõ ràng đầy đủ chi tiết trong sách “Niệm Phật Đạt Bất Niệm Tự Niệm Bảo Đảm Vãng Sanh” của Thích Minh Tuệ. (Vị nào không có sách, email cho biết địa chỉ, chúng tôi sẽ gởi biếu sách).

Kinh Quán Vô Lượng Thọ nói: “Niệm Phật một câu diệt được tám mươi ức kiếp trọng tội sanh tử và được tám mươi ức kiếp công đức vi diệu” (hãy đọc Phần IV, Lợi ích và công đức niệm Phật). Người đạt Bất Niệm Tự niệm, mỗi ngày Tạng thức tự niệm từ sáu chục ngàn (60.000) đến một trăm hai chục ngàn (120.000) câu. Tính ra diệt tội sanh phước quá nhiều, nhờ đây hành giả có thể thoát nạn. Thực tế, trong những tai nạn, lật xe, tàu chìm, máy bay rớt, lũ lụt, động đất, sóng thần, dịch cúm, bom đạn,… rất nhiều người chết (cộng nghiệp), nhưng ngoại lệ có những người sống sót một cách bình an (biệt nghiệp do công đức tu hành tạo thành).

Thời gian cấp bách quá rồi, quá trễ rồi, không cho phép chúng ta chần chờ được nữa. Chúng tôi thiết tha kêu gọi quí đạo hữu nên tức khắc quyết tâm hạ thủ công phu lấy chuyên tu niệm Phật A Di Đà làm chánh. Tâm tâm niệm niệm đi đứng nằm ngồi, nói nín, động tịnh luôn giữ câu Phật hiệu hiện tiền để tiêu trừ nghiệp chướng (thoát nạn) và sớm đạt Bất Niệm Tự niệm, tự bảo đảm vãng sanh. Nhờ công đức niệm Phật này của nhiều người sẽ cải chuyển phần nào đại nạn cho chúng sanh.

Người xưa nói: “Độc thụ khai hoa, vạn thụ hương”, nghĩa là một cây trổ bông, muôn cây thơm, hay “Nhất nhân tác phước thiên nhân hưởng”, nghĩa là một người làm phước, ngàn người hưởng, là ý này.

Nếu mạng số hết, hành giả sẽ được vãng sanh Cực Lạc đắc Vô sanh Pháp nhẫn liền trở về Ta Bà cứu độ chúng sanh, dĩ nhiên trong đó có nhiều thân nhân của mình.

Nên nhớ: Người công phu đắc lực có nội lực, định lực mạnh, tin sâu nhân quả, biết đường về, sẽ an nhiên tự tại trước nghịch cảnh, coi cái chết nhẹ như lông hồng, đây là dịp tốt như cởi bỏ chiếc áo củ rách nhơ nhớp để mặc áo mới tốt đẹp hơn, đây là cơ hội chuyển phàm thành Thánh, đáng mừng không gì phải kinh hoàng lo sợ.

Nam mô Công Đức Lâm Bồ Tát Ma Ha Tát.

Nam mô A Di Đà Phật.

82- Hỏi: Nếu đại nạn Bảo Mặt Trời xảy ra khủng khiếp vào năm 2013, người niệm Phật đạt Bất niệm Tự Niệm có chắc chắn được vãng sanh không?

Đáp:
Chắc chắn, bảo đảm được vãng sanh, y cứ vào những lý lẽ sau đây:

1- Kinh Quán Vô Lượng Thọ dạy: “Trước giờ phút lâm chung chỉ cần niệm một câu A Di Đà Phật là được Phật A Di Đà tiếp dẫn sanh về Tây Phương Cực Lạc”.

2- Thông thường chúng ta niệm Phật dưới sự chỉ đạo của ý thức (Thức thứ 6), nhưng vì lý do gì đó, ý thức ngưng hoạt động, hoặc còn hoạt động mà bận rộn chuyện khác, hoặc điên đảo không chỉ đạo niệm Phật nên mất phần vãng sanh (Xin xem Phần II -Điều kiện vãng sanh và lý do không vãng sanh).

3- Người đạt Bất Niệm Tự Niệm sâu, niệm Phật không do ý thức chỉ đạo, mà do Tạng thức (Thức thứ tám) Tự niệm 24/24 (cũng gọi là Tâm Tự niệm hay Tự Tánh Tự niệm) bất luận tình huống nào (Tạng Thức thường còn, hoạt động 24/24 chẳng những thế mà còn hiện hữu từ kiếp này qua kiếp khác cho đến khi chuyển thành Đại Viên Cảnh Trí, thành Phật).

Do vậy nên nói là bảo đảm vãng sanh trong mọi tình huống.

83- Hỏi: Vậy con muốn vãng sanh trước khi đại nạn xảy ra được không?

Đáp:
Đƣợc, nhưng phải niệm Phật đạt Lý Nhất Tâm Bất loạn (Lý Niệm Phật tam Muội). (Xin xem câu hỏi thứ 38).

84- Hỏi: Luận vãng sanh nói “Người nữ, kẻ khuyết tật và hàng nhị thừa không được vãng sanh” là sao?

Đáp:


1- Kinh A Di Đà dạy: “Niệm Phật nhất tâm bất loạn được vãng sanh” Kinh Vô Lượng Thọ, nguyện mười tám (18) nói: “Trước giờ phút lâm chung, niệm mười (10) niệm được vãng sanh” Kinh Quán Vô Lượng Thọ dạy:

“Trước giờ phút lâm chung, niệm một niệm được vãng sanh”. Kinh Pháp Cổ nói: “Trước giờ phút lâm chung, ý muốn vãng sanh là được vãng sanh”.

Tất cả bốn kinh trên đều không phân biệt ngƣời nữ, kẻ khuyết tật hay hàng nhị thừa là không được vãng sanh mà tất cả những ai đáp ứng điều kiện ấn định đều được vãng sanh. (Hãy đọc Phần III: Điều kiện vãng sanh).

2- Trong bốn mươi tám đại nguyện của Phật A Di Đà, nguyện thứ tư: “Chúng sanh trong mười phương thế giới sanh về cõi tôi (Cực Lạc) đều đầy đủ thân sắc vàng ròng, ba mươi hai tướng đại trượng phu đoan chánh, tịnh khiết, giống hệt nhau…”. Nhờ oai thần của nguyện này nên người nữ khi vãng sanh đều biến thành nam tướng, kẻ khuyết tật đều đầy đủ sáu căn.

3- Nhị thừa nói trên là Nhị thừa ngu pháp không tin có chư Phật và Tịnh độ mười phương, nên không hồi hướng phát nguyên vãng sanh nên không được vãng sanh.

Ngược lại, Nhị thừa không ngu pháp tin có chư Phật và Tịnh độ mười phương, hồi hướng phát nguyện vãng sanh thì được vãng sanh.

4- Thực tế

a. Kinh Quán vô Lượng Thọ đức Thế Tôn đã thọ ký cho quốc mẫu Vi Đề Hy Hoàng Thái Hậu cùng năm trăm (500) thị nữ vãng sanh Cực Lạc. Sách Tịnh độ Thánh Hiền Lục ghi chép rất nhiều Tăng Ni, Ưu bà di (cư sĩ), đồng vãng sanh Cực Lạc.

b- Kinh Đại Thừa Vô Lượng Thọ nói: Cõi Cực Lạc có vô số Thanh Văn (Thanh Văn không ngu pháp). Dẫu cho mười phương thế giới chúng sanh đều đắc thần thông như Ngài Mục Kiều Liên, dùng trọn cả cuộc đời mình, dốc cạn trí lực, hợp nhau tính toán số lượng thánh chúng trong cõi Cực Lạc thì những điều họ biết được chẳng bằng nổi một phần ngàn vạn số lượng thánh chúng trong cõi ấy (Cực Lạc).

85- Hỏi: Tội ngũ nghịch là gì, chịu hình phạt thế nào?

Đáp
: Tội ngũ nghịch là năm tội cực ác trái với đạo lý:

- Theo kinh Tăng Nhất A- Hàm, đó là giết mẹ, giết cha, giết A La Hán, làm thân Phật ra máu, và phá hòa hợp Tăng.

- Theo Kim Quang Minh Tối Thắng Vương Kinh Sớ 5, đó là giết cha mẹ, giết A La Hán, làm thân Phật ra máu, phá hoà hợp Tăng và phỉ báng Đại thừa.

Người phạm vào năm tội này sẽ bị đọa vào Địa ngục vô gián. Đây là địa ngục ở tầng thứ tám của điạ ngục nóng. Vô gián có năm nghĩa:

1- Sau khi chết bị đọa ngay vào ngục đó không có gián cách (không qua giai đoạn trung ấm).

2- Chịu khổ không gián đoạn.

3- Trong vòng một kiếp tương tục không gián đoạn (thời gian chịu khổ).

4- Trong vòng một kiếp thọ mạng không gián đoạn (chết đi sống lại liên tục).

5- Thân hình đầy khắp điạ ngục không xen hở (để thọ khổ).

Tội nhân bị gươm đao đâm chém., gậy gộc đánh đập, cối xay nghiền giả,v...v… và v…v… Đau khổ vô cùng, mỗi ngày chết đi sống lại không biết bao lần mà kể.

Thông thường nói kiếp là đại kiếp, mà:

1 đại kiếp = 1 tỷ 344 triệu năm.

Nếu nói Tiểu kiếp thì:

1 tiểu kiếp = 16 triệu 378 ngàn năm.
1 ngày địa ngục = mấy ngàn năm nhân gian.

Mãn kiếp địa ngục sanh Ngạ quỷ. Mãn kiếp Ngạ quỷ sanh súc sanh, Mãn kiếp súc sanh sanh làm Người hạ liệt.

Một khi mất thân người phải chịu khổ đau, trôi lăn trong ba đường ác thời gian dài ôi là dài, tính không nổi.

Ba tội giết cha mẹ, giết A La Hán, làm thân Phật ra máu có thể chúng ta khó phạm. Hai tội Phá hòa hợp Tăng và phỉ báng Đại thừa (Chánh pháp) Phật tử chúng ta vì không hiểu, vô tình đã phạm quá nhiều, như chúng ta tu Tịnh độ chê bai Thiền, người tu Thiền chê bai Tịnh độ, cả hai đều phạm tội phỉ báng chánh pháp, sa Địa ngục vô gián.

Ngưỡng mong rằng hàng Phật tử chúng ta nghĩ đến sự khổ lâu dài, khủng khiếp của Địa ngục vô gián mà luôn gìn giữ tránh khẩu nghiệp.

Nam mô A Di Đà Phật.

86- Hỏi: Trong những năm gần đây cư sĩ tu Tịnh nghiệp ở Việt Nam vãng sanh rất nhiều, là nhờ công lao của các Ban Hộ Niệm phải không thầy?

Đáp:
Đúng, phải nhưng không hoàn toàn như vậy, nhận xét này chưa hoàn hảo, còn phiến diện.

Thành tựu một người vãng sanh là thành tựu một vị Phật tương lai công đức nầy rất vĩ đại, Minh Tuệ tôi cảm nhận, bái phục, chân thành tán thán công đức rất lớn lao của chư liên hữu trong các Ban Hộ Niệm.

Nói cho đúng Hộ có nghĩa trợ giúp, là duyên không phải là nhân, duyên không thể thành quả. Nhân nhờ thêm duyên nên thành quả. Không nhân không duyên không bao giờ có quả. Có duyên mà không nhân cũng không bao giờ thành quả.

Trước giờ phút lâm chung dù Phật có hiện ra mà đương nhân không niệm Phật (không chịu đi), Phật cũng không tiếp dẫn được, huống hồ Ban hộ niệm. Hiểu vậy, mỗi mỗi hành giả Tịnh nghiệp chúng ta không được phép ỷ lại, nương tựa hoàn toàn ở Ban Hộ niệm.Hành giả phải tự lực tinh tấn hành trì Niệm Phật đạt Bất Niệm Tự Niệm để tự bảo đảm vãng sanh, hay ít nhất cũng tự tạo nhân Tịnh nghiệp (chủng tử Niệm Phật) khá lớn mạnh, đủ khả năng chín mùi khi được hộ niệm, liền khởi tâm xưng danh hiệu Phật để được Đức Phật tiếp dẫn vãng sanh Cực Lạc.

Tóm lại các liên hữu chúng ta được vãng sanh nhiều là nhờ hai yếu tố là đương nhân sẳn có hạt giống niệm Phật lớn mạnh và được trợ niệm, như sau:

1- Các chùa Tịnh độ (như Chùa Hoằng Pháp,...), các Niệm Phật đường đã dầy công tôi luyện (huân trưởng) cho hành giả có hạt giống Niệm Phật khá lớn mạnh.

2- Ban Hộ Niệm trợ duyên giúp hạt giống chín mùi, hành giả phát tâm xưng danh hiệu Phật.

Tóm lại, trước tiên hành giả phải chí tử hạ thủ công phu niệm Phật để đạt Bất Niệm Tự Niệm, tự bảo đảm vãng sanh, bằng như chưa tới trình độ này, chủ yếu chủng tử (hạt giống) niệm Phật cũng đã lớn mạnh. Sau cùng nhờ Ban Hộ niệm trợ giúp cho chủng tử khởi hiện hành (đương nhân niệm Phật) liền được Phật tiếp dẫn vãng sanh Cực Lạc.

87- Hỏi: Vậy sao có một Ban Hộ Niệm nói họ hộ niệm bảo đảm vãng sanh 100%.

Đáp:
Tôi thiết nghĩ không hẳn như vậy. Đây có thể là lời ca tụng của người ngoài Ban Hộ Niệm. Vì các lý sau:

1- Hồi đức Thế Tôn còn tại thế, Ngài cũng chỉ độ được người hữu duyên với Ngài (nhân đã chín mùi). Ngài đâu có độ được hết thảy chúng sanh, thì Ban Hộ niệm làm sao thành công 100%.

2- Ban Hộ Niệm thừa biết:

- Mình chỉ là trợ duyên mà thôi, duyên không đủ điều kiện trở thành quả (mà phải là nhân).

- Tổ Thiện Đạo Đại sư dạy: “Người đã được nói là được để khoe khoang, khoác lác là nuôi lớn cái Ta, từ đó sanh ra cống cao ngã mạn thì bao nhiêu công đức tu hành tự thiêu hủy hết”.

- Tổ Ấn Quang Đại sư dạy: “Chưa được mà nói được, hoặc được mười nói mười một là đại vọng ngữ, sẽ sa Địa ngục A Tỳ”.

Đã biết những điều nói trên chắc chắn Ban Hộ Niệm không tài nào dám nói là họ hộ niệm bảo đảm vãng sanh 100%.

Kính xin quý liên hữu hãy thận trọng giữ gìn Tránh khẩu nghiệp!

88- Hỏi: Người niệm Phật đạt Bất Niệm Tự Niệm có được chứng đắc gì chưa? Lợi ích thế nào?

Đáp:


1- Chưa chứng, chưa đắc gì cả, chỉ tạm gọi là nhập môn (vào cửa).

2- Lợi ích:

a. Liên Tông nhị Tổ Thiện Đạo đại sư, Bát Tổ Liên Trì đại sư và Hòa thượng Trí Tịnh đồng dạy: “Người niệm Phật phải đạt Niệm Lực Tương Tục (Bất Niệm Tự Niệm) mới đúng nghĩa chấp trì danh hiệu mà Đức Thế Tôn dạy trong Kinh A Di Đà, nếu giữ trọn đời thì bảo đảm vãng sanh (Đường về Cực Lạc và Kệ Niệm Phật).

b. Bước đầu này rất quan yếu. Có vào cửa mới vô được nhà, nếu không thì đời đời kiếp kiếp lang thang ngoài sân, chư Tổ thường quở là niệm Phật ngoài da (chưa vô thịt, xương, tủy) mãi mãi trôi lăn trong sáu nẽo luân hồi. Phải qua cửa ải Bất Niệm Tự Niệm mới vào được thành “Niệm Phật Thành Một Khối, Nhất Tâm Bất Loạn”. Ví như ngoài đời phải trúng tuyển nhập học trường y khoa mới có ngày thành tài Bác sỹ .

89- Hỏi: Người mới nhập tâm sao nghe tiếng của máy, hoặc tiếng của quý thầy chớ không phải tiếng của mình?

Đáp:
Nhân nào quả nấy, khi hành trì huân tập giọng nào nhiều, mạnh, giọng đó sẽ khởi lên trước. Hạt giống của đời này lẫn những đời trước, hạt giống nào mạnh sẽ khởi hiện hành trước. Trong thời gian huân trưởng, huân tập bằng giọng của mình, thời gian ngắn sẽ ra tiếng của mình. Chớ đặt nặng là tiếng, giọng của ai vì nó sẽ thay đổi theo tiến trình công phu của hành giả.

90- Hỏi: Bất Niệm Tự Niệm và Vô Niệm mà Niệm là một hay khác? Nếu khác thì khác chỗ nào?

Đáp:
Khác, khác xa lắm.

- Bất Niệm Tự Niệm là bước đầu (vào cửa) Tịnh nghiệp, chưa chứng đắc gì cả, còn nghe tiếng niệm Phật (hữu tướng).

- Vô Niệm Mà Niệm là thành tựu Tịnh nghiệp, đắc Lý Nhất Tâm Bất Loạn (Lý Niệm Phật Tam Muội), hoàn toàn không nghe tiếng niệm Phật, vẫn biết Tự Tánh đang niệm Phật mà không nghe tiếng (Vô tướng). Trình độ này ngang với Đại triệt đại ngộ, Minh tâm kiến tánh của Thiền Tông, là Đại Bồ Tát sanh tử tự tại, vãng sanh sớm hay muộn, thời gian nào tùy theo ý muốn.

2. KẾT LUẬN

Kinh Hoa Nghiêm dạy: “Tất cả chúng sanh đều có trí tuệ, đức tướng Như Lai nhưng vì bị vọng tưởng, phân biệt, chấp trước che lấp nên Phật tánh không thể hiện bày”. Có nghĩa là nếu dẹp hết vọng tưởng, phân biệt, chấp trước thì thành Phật. Tuy nói là ba: Vọng tưởng, phân biệt, chấp trước, nhưng kỳ thật chỉ cần trừ vọng tưởng. Vì có vọng tưởng (vô minh) mới phân biệt, phân biệt rồi mới chấp trước. Hết vọng tưởng lấy gì để phân biệt, chấp trước. Niệm Phật là dùng danh hiệu Phật dẹp trừ vọng tưởng. Niệm Phật thuần thục, vọng tưởng tự dứt, tâm tự không, Phật tánh tự hiện bày, đơn giản thế thôi. Tóm lại, chỉ cần có niềm tin vững chắc, có niềm tin tuyệt đối rồi, quyết tâm hạ thủ công phu bằng mười sáu chữ sau đây:

“BUÔNG XẢ VẠN DUYÊN,
NHẤT TÂM NIỆM PHẬT,
NIỆM NHIỀU, KHÔNG XEN TẠP,
KHÔNG GIÁN ĐOẠN”.


Quyết định sẽ thành tựu chí nguyện vãng sanh Cực Lạc thành Phật độ chúng sanh.

Nam mô A Di Đà Phật

* DI HUẤN CỦA PHÁP NHIÊN THƯỢNG NHÂN:

- Chúng sanh thời mạt pháp là đương cơ của Vãng sanh Cực Lạc.
- Hạnh tuy ít, chớ nghi một niệm mười niệm đã đủ.
- Tuy tội chướng chớ nghi, dù tội nặng cũng được cứu.
- Thời mạt pháp chớ nghi, chúng sanh sau thời mạt pháp còn được cứu.
- Thân tuy ác xin chớ nghi, Tổ Thiện Đạo nói: “Bản thân tôi là phàm phu đầy nghiệp chướng”.


HAI MƯƠI ĐIỀU KHÓ LÀM

Đức Phật dạy người tu hành có hai mươi điều khó làm như sau:

1. Nghèo nàn bố thí là khó.
2. Giàu sang học Đạo là khó.
3. Bỏ thân mạng quyết chết là khó.
4. Thấy được kinh Phật là khó.
5. Sinh vào thời có Phật là khó.
6. Nhẫn sắc là điều khó.
7. Thấy tốt không cầu là khó.
8. Bị nhục không tức là khó.
9. Có thế lực không dựa vào là khó.
10. Gặp việc vô tâm là khó.
11. Học rộng nghiên cứu sâu là khó.
12. Diệt trừ ngã mạn là khó.
13. Không khinh người chưa học là khó.
14. Tâm bình đẳng là khó.
15. Không nói chuyện phải trái là khó.
16. Gặp Thiện trí thức là khó.
17. Thấy tánh học Đạo là khó.
18. Tùy duyên hóa độ là khó.
19. Thấy cảnh tâm bất động là khó.
20. Khéo biết phương tiện là khó.

Người tu là đi ngược giòng thế tục, làm những việc mà người thế gian khó làm, khó làm mà làm được mới là quý (nhiều phước đức, nhiều công đức). Ai vượt qua được, làm trọn vẹn hai mươi điều khó làm này sẽ nhập giòng Thánh, vãng sanh Thượng Phẩm sớm thành Phật độ chúng sanh. Vậy ngưỡng mong chư hành giả phấn đấu thực hành những điều khó làm này được càng nhiều càng tốt hầu hổ trợ mạnh cho việc vãng sanh theo đúng chí nguyện.
_______________

CHÚ THÍCH

(1) Thập tín gọi đủ là Thập tín tâm, gọi tắt là thập tâm, chỉ cho 10 Tâm mà Bồ Tát của mười giai vị đầu tiên trong 52 giai vị tu hành.

Mười tâm này thuộc tín vị, có khả năng giúp cho hành giả thành tựu hạnh tín.

(2) Ngũ căn là năm pháp làm gốc nảy ra tất cả thiện pháp khác.

Gồm có: Tín căn là tin tưởng Tam Bảo, Tứ Đế; Tấn căn (còn gọi là Cần căn) là dũng mãnh tu thiện pháp; Niệm căn là nhớ đến chính niệm pháp; Định căn là giúp cho tâm định ở một cảnh mà không mất; Tuệ căn là suy nghĩ chân lý.

(3) Tam Tạng là kinh, luật và luận.

(4) Tam Tụ Tịnh Giới là Giới Bồ Tát Đại thừa dù xuất gia hay tại gia đều tu được cả. Gồm có:

- Nhiếp Luật Nghi giới là thọ trì hết thảy giới luật

- Nhiếp Thiện Pháp giới là lấy việc tu hành hết thảy thiện pháp làm giới.

- Nhiếp Chúng Sanh giới còn gọi là Nhiêu Ích Hữu Tình giới là lấy việc làm lợi ích cho hết thẩy chúng sanh làm giới.

(5) Ưu đàm đại sư, người đời Nguyên, họ Tương, quê ở Đơn Dương, gia thế thường thờ Phật. Mười lăm tuổi Ngài xuất gia nơi chùa Đông Lâm ở Lô Sơn, tỉnh Giang Tây. Đời Nguyên lại có một hội tên Bạch Liên Hội làm tất cả các việc tà đạo gây rối loạn nước nhà. Đứng trước tình thế này, năm đầu tiên hiệu Đại Đức (1305) đời vua Nguyên Thành Tông, đại sư Ưu Đàm đem hết tâm tư soạn thuật mười quyển Liên Tông Bảo Giám, làm rõ giáo nghĩa chân thật của Liên Tông, do Ngài Từ Chiếu đề xướng, đồng thời phá dẹp tà thuyết, tà hạnh của Bạch Liên Hội đương thời. Năm đầu niên hiệu Chi Đại (1308), do Bạch Liên Đạo Nhân thuộc Bạch Liên Dương ở tỉnh Phước Kiến làm việc sai quấy, vua lại xuống chiếu bãi bỏ Liên Tông. Đại sư Ưu Đàm đích thân đến kinh đô dâng sách lên Hoàng đế Nhân Tôn, cầu xin phục hưng giáo pháp Tịnh Độ. Vua xem xong bèn chuẩn y và cho phép in ấn, lưu hành, dạy Ngài làm giáo chủ, ban cho hiệu Hồ Khê Tôn Giả. Năm đầu tiên niên hiệu Thuận Hóa (1330) Đại sư ẩn tướng ngồi niệm Phật vãng sanh.

(6) Gia hựu: Gia là tăng thêm, hựu là sự giúp đỡ đầy ân phước của bậc thánh minh. Gia hựu nghĩa rộng hơn gia hộ, vì ngoài ý nghĩa gia hộ, Đức Phật A Di Đà còn vận lòng từ bi, dùng quả đức trang nghiêm, phước đức vô tận của mình để gìn giữ tâm chánh niệm cho hành giả, dẹp yên ma ngoại, phiền não, chướng duyên khởi lên lúc lâm chung.

(7) Phật Thuyết Thập Vãng Sanh A Di Đà Phật Quốc Kinh nói: “Nếu có chúng sanh tin tưởng sâu xa kinh này, niệm A Di Đà Phật, nguyện vãng sanh thì Đức Phật A Di Đà trong thế giới Cực Lạc kia bèn sai Quán Thế Âm Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát, Dược Vương Bồ Tát, Dược Thượng Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát, Pháp Tự Tại Bồ Tát, Bảo Tạng Bồ Tát, Kim Tạng Bồ Tát, Kim Cang Bồ Tát, Sơn Hải Huệ Bồ Tát, Quang Minh Vương Bồ Tát, Hoa Nghiêm Vương Bồ Tát, Chúng Bảo Vương Bồ Tát, Nguyệt Quang Vương Bồ Tát, Nhất Chiếu Vương Bồ Tát, Tam Muội Vương Bồ Tát, Tự Tại Vương Bồ Tát, Đại Tự Tại Vương Bồ Tát, Bạch Tượng Vương Bồ Tát, Đại Oai Đức Vương Bồ Tát, Vô Biên Thân Bồ Tát, hai mươi lăm Bồ Tát ấy ủng hộ hành giả, dù đi hay đứng, dù nằm hay ngồi, dù ngày hay đêm, trong hết thảy thời, hết thảy nơi, chẳng cho ác quỷ, ác thần được dịp làm hại.

(8) Mười hai loại bộ kinh cũng gọi là Thập Nhị Phần Giáo, chỉ cho mười hai loại kinh được phân biệt theo hình thức và nội dung giáo pháp của Phật:

1) Khế Kinh cũng gọi là Trường Hàng, tức thể văn xuôi, trực tiếp ghi chép giáo thuyết của Phật.

2) Ứng Dụng cũng gọi là Trùng Tụng, là phần kệ tụng giải thích lại cho rõ ràng những giáo thuyết mà Khế Kinh đã nói.

3) Ký Biệt cũng gọi là Thọ Ký, vốn là thể loại giải thích về giáo nghĩa. Đời sau đặc biệt chỉ cho những lời ấn chứng trước của Phật về các việc làm trong vị lai của các đệ tử.

4) Phúng Tụng cũng gọi là Cô Khởi, là thể loại kệ tụng độc lập, trực tiếp ghi chép giáo thuyết của Phật, không lặp lại ý nghĩa trong phần văn trường hàng đã nói trước đó như vai trò của Ứng Dụng.

5) Tự Thuyết nghĩa là Đức Phật không đợi người khác thưa hỏi mà Ngài tự khai thị giáo pháp.

6) Nhân Duyên là ghi chép nhân duyên giáo hóa thuyết pháp của Phật.

7) Thí Dụ là dùng thí dụ để giảng nói pháp nghĩa.

8) Bổn Sự là thể loại ghi chép về hành trạng của Phật và các đệ tử ở đời quá khứ ngoài bổn sinh giám. Hoặc các kinh mở đầu bằng câu “Phật thuyết như thị” cũng thuộc thể loại này.

9) Bổn Sinh là thể loại ghi chép những hạnh đại bi mà Đức Phật tu hành trong các đời quá khứ.

10) Phương Quảng là các kinh giảng nói giáo nghĩa sâu xa, rộng lớn.

11) Hỷ Pháp cũng gọi là Vị Tằng Hữu pháp tức thể loại ghi chép những việc hiếm có của Phật và các đệ tử.

12) Luận Nghị là thể loại kinh ghi chép việc Đức Phật nghị luận về thể tính các pháp, phân biệt rõ ràng ý nghĩa.

(9) Chánh báo là quả báo chánh thức mà thân tâm thọ dụng. Hết thảy mọi sự vật thế gian mà thân tâm ta nương tựa gọi là y báo.

(10) Tương ứng là khế hợp ví như thùng và nắp khớp với nhau vậy.

(11) Hám Sơn đại sư tự là Đức Thanh, họ Thái, người đất Kim, Kim Lang. Xuất gia từ lúc 19 tuổi. Ngài chuyên tâm niệm Phật. Có một đêm, Đại sư nằm mơ thấy Đức A Di Đà hiện thân giữa hư không. Từ đó về sau, Ngài thấy tướng Phật dường như phưởng phất trước mặt. Đại sư tham thiền gần mười năm, khi được tỏ ngộ liền vào ẩn trong núi Lô Sơn tu tịnh nghiệp. Rồi Ngài đến Tào Khê niệm Phật mà hóa vãng, thọ 78 tuổi. Nhục thân vẫn còn thờ ở chùa Nam Hoa, Tào Khê chung với nhục thân của Đức Lục Tổ Huệ Năng.

(12) Thiện Đạo đại sư là Tổ thứ hai của Tịnh Độ tông, là Phật A Di Đà hóa thân.

(13) Tám thức là nhãn thức, nhĩ thức, tỹ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức, mạt na thức và tạng thức. Tứ trí là Diệu quan sát trí, Bình đẳng tánh trí, Thành sở tác trí và Đại viên cảnh trí.


TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Tịnh Độ Tam Kinh
, Hòa thượng Thích Trí Tịnh dịch.
2. Kinh Niệm Phật Ba La Mật, Cố Hòa thượng Thích Thiền Tâm dịch.
3. Kinh Pháp Cú.
4. Kệ Niệm Phật, Hòa thượng Thích Trí Tịnh biên soạn.
5. Niệm Phật Thập Yếu, Cố Hòa thượng Thích Thiền Tâm biên soạn.
6. Niệm Phật Cảnh, đại sư Thiện Đạo tập ký, Thích Minh Thành dịch.
7. Quán Kinh Tứ Thiếp Sớ, đại sư Thiện Đạo tập ký, Thích Pháp Chánh dịch.
8. Liên Trì Cảnh Sách, Thích Quang Ánh dịch.
9, Ngẫu Ích Đại Sư Pháp Ngữ, Như Hòa dịch.
10. Triệt Ngộ Đại Sư Thị Chúng, Thích Nguyên Chơn dịch.
11. Tuyển Trạch Bổn Nguyện Niệm Phật Tập, Niệm Phật Tông Yếu, Pháp Nhiên Thượng Nhân soạn, Thích Tịnh Nghiêm và Nguyễn Văn Nhàn dịch.
12. Ấn Quang Pháp Sƣ Văn Sao, Như Hòa dịch.
13. Tuyết Hư Lão Nhân Tịnh Độ Tuyển Tập, Như Hòa dịch.
14. Pháp Sư Tịnh Không Pháp Ngữ, Thích Nguyên Tạng dịch.
15. Công Đức Niệm Phật, Hoà thượng Tịnh Không tập ký, Thích Nguyên Tạng dịch.
16. Từ điển Bách Khoa Phật Giáo Việt Nam: Cố Hòa thượng Thích Trí Thủ chủ trương, Lê Mạnh Thát chủ biên.
17. Pháp Môn Dễ Tu, Dễ Chứng, Hợp Thời Cơ, Thích Thông Lạc dịch.
18. Luận Tịnh Độ, Nguyên tác Thích Ca Tài.
19. Tịnh Độ Cảnh Ngữ, Hành Sách Đại Sư tập ký.
20. Niệm Phật Kính Luận, Thiện Đạo Đại Sư tập ký, Thích Minh Thành dịch.
21. Trùng Đính Tây Phương Công Cứ, Ấn Quang Đại Sư, Vật Nhân Pháp Sư tập ký.
22. Liên Tông Bửu Giám, Ưu Đàm Đại Sư, Thích Minh Thành dịch.
23. Đường Về Cực Lạc, Hòa Thượng Thích Trí Tịnh tập ký.
24. Tịnh Độ Chỉ Quyết, Đạo Bái Thiền Sư soạn, Thích Minh Thành dịch.
25. Tịnh Độ Pháp Ngữ (Lá Thư Tịnh Độ, Hương Quê Cực Lạc, Tịnh Độ Thập Nghi Luận, Tịnh Độ Hoặc Vấn), Cố Hòa Thượng Thích Thiền Tâm dịch.
26. Một Đời Vãng Sanh Chấm Dứt Luân Hồi Tuyển Tập 2010.
27. Liễu Sinh Thoát Tử
Thích Quang Phú dịch.

MƯỜI CÔNG ĐỨC ẤN TỐNG KINH TƯỢNG PHẬT

1- Những tội lỗi đã tạo từ trước, nhẹ thì được tiêu trừ, nặng thì chuyển thành nhẹ.

2- Thường được các thiện thần ủng hộ, tránh được tất cả tai ương hoạn nạn, ôn dịch, nước, lửa, trộm, cướp, đao binh, ngục tù.

3- Vĩnh viễn tránh khỏi những quả báo phiền khổ, oán cừu oan trái của đời trước cũng như đời này.

4- Các vị hộ pháp thiện thần thường gia hộ nên những loài dạ xoa ác quỷ, rắn độc, hùm beo tránh xa không dám hăm hại.

5- Tâm được an vui, ngày không gặp việc khốn, đêm ngủ không thấy ác mộng. Diện mạo hiền sáng, mạnh khỏe, an lành, việc làm thuận lợi, được kết quả tốt.

6- Chí thành hộ pháp, tâm không cầu lợi, tự nhiên y phục đầy đủ, gia đình hòa thuận, phước lộc đời đời

7- Lời nói, việc làm trời người hoan hỷ, đến đâu cũng được mọi người kính mến, ngợi khen.

8- Ngu chuyển thành trí, bệnh lành mạnh khỏe, khốn nghèo chuyển thành thịnh đạt. Nhàm chán nữ thân, mệnh chung liền được nam thân.

9- Vĩnh viễn xa lìa đường ác, sanh vào cõi thiện tướng mạo đoan nghiêm, tâm trí siêu việt, phước lộc tròn đầy.

10- Hay là vì tất cả các chúng sanh trồng các căn lành. Lấy tâm cầu của chúng sanh làm ruộng phước điền cho mình.

Nhờ công đức ấy đạt được vô lượng phước quả thù thắng.

Sanh ra nơi nào cũng thường được thấy Phật, nghe Pháp, phước huệ rộng lớn, chứng đạt lục thông sớm thành Phật quả.

ẤN QUANG TỔ SƯ DẠY:

“Ấn tống kinh, sách Phật được công đức thù thắng như vậy, nên khi gặp chúc thọ, thành hôn, cầu phước, thoát nạn, sám hối, cầu tiêu trừ bệnh tật, cầu siêu độ hương linh, hãy tinh tấn phát tâm Bồ Đề ấn tống, để trồng cội phước đức cho chính mình và thân bằng quyến thuộc”.

MƯỜI BỐN ĐIỀU DẠY CỦA PHẬT

1. Kẻ thù lớn nhất đời người là chính mình.
2. Ngu dốt lớn nhất của đời người là dối trá.
3. Thất bại lớn nhất của đời người là tự đại.
4. Bất hạnh lớn nhất của đời người là ghen tị.
5. Sai lầm lớn nhất của đời người là đánh mất mình.
6. Tội lỗi lớn nhất của đời người là
bất hiếu.
7. Đáng thương lớn nhất của đời người
là tự ti.
8. Đáng khâm phục lớn nhất của đời người là vươn lên sau khi ngã.
9. Phá sản lớn nhất của đời người là tuyệt vọng.
10. Tài sản lớn nhất của đời người là sức khoẻ, trí tuệ.
11. Món nợ lớn nhất của đời người là tình cảm.
12. Lễ vật lớn nhất của đời người là khoan dung.
13. Khiếm khuyết lớn nhất của đời người là kém hiểu biết.
14. An ủi lớn nhất của đời người
là bố thí.

HỒI HƯỚNG

Nguyện đem công đức này
Hướng bốn ân ba cõi
Khắp Pháp giới chúng sanh
Đồng vãng sanh Cực Lạc
Thành Phật độ chúng sanh.

Giảng sư

Kết nối

Tổng số truy cập
Thông tin: 22.356
Pháp Âm: 27.981
Đang truy cập
Hôm qua: 14119
Tổng truy cập: 4.354.159
Số người đang online: 557
hosting gia re , web gia re tron goi , thiet ke web tron goi tai ho chi minh, binh duong, vung tau, ha noi, ca nuoc , thiet ke web tron goi gia re