chuabuuchau.com.vn,chuabuuchau, chua buu chau, chùa bửu châu, chua buu chau cu chi

Phụ lục: Chú thích các thuật ngữ và danh từ riêng (M-Q) - Thích Giác Hoàng

MỤC LỤC

Ma vương王: Đồng nghĩa với ác ma . Phiên âm và dịch nghĩa của Māra. Nam và Bắc tạng đều ghi Ma vương chỉ cho vị chúa của loài ma. Đây là cảnh giới cao nhất của Dục giới, gọi là Tha Hoá Tự tại Thiên. Trong các bản chữ Hán thường dịch nghĩa là Ma vương cõi này là Thiên ma Ba-tuần (P. Mara Sainya Pramardana). Theo như Kinh điển ghi lại, khi Đức Phật sắp thành đạo quả vô thượng giác thì chính ma vương Ba-tuần này đã sai khiến con gái của mình đến quyến rủ Đức Phật trở về đời sống thế tục. Sau khi Đức Phật thành đạo thì Ma Vương xuống thỉnh Đức Phật nhập Niết-bàn. Khi Đức Phật tới tuổi 80, Ma vương lại đích thân thỉnh Đức Phật nhập Niết-bàn.Tuy nhiên, trong một vài ngữ cảnh khác, ma vương cũng chỉ cho các dục vọng nhiễm ô trong tâm thức của mình nên sau này mới phân biệt thành 2 loại ma, tức ngoại ma và nội ma là vậy.

Lâm-tỳ-ni: Phiên âm của chữ Lumbini (S=P), tên khu vườn nơi Đức Phật đản sanh, nay thuộc Nepal.

Ma-da 耶: Phiên âm của từ Māyā (S=P). Hoàng hậu của Ca-tỳ-la-vệ, Mẹ cuả Thái tử Tất-đạt-đa. Sau khi sanh hạ thái tử Tất-đạt-đa được bảy ngày thì bà băng hà và được sanh lên cõi trời Đao-lợi.

Ma-đăng-già 伽: Phiên âm của Mātaṅga (S=P). Tên của một dòng họ tiện dân thuộc bậc nhất nhì trong hệ thống giai cấp Ấn Độ. Trong Kinh Thủ Lăng Nghiêm, nhân danh chỉ cho cô gái sắc nước hương trời của giai cấp mang cùng tên, đã dùng chú thuật mê hoặc tôn giả Ānanda làm tôn giả sắp mất giới thể. Theo truyền thống Phật giáo Nam truyền, thì nàng Ma-đăng-già chỉ thương tôn giả Ānanda và được Đức Phật hoá độ, chẳng bao lâu chứng được Thánh quả A-la-hán.

Ma-hê-thủ-la = Đại Tự Tại thiên.

Mạt-lợi 利 (cũng thường gọi là Ma-li-ka): Phiên âm của Mallikā hoặc Mālikā (S=P), vợ của vua Ba-tư-nặc nước Câu-sa-la.

Mâu-ni hay Mưu–ni 尼: Phiên âm của Muni (S=P).Có nghĩa là bậc ẩn sĩ, bậc tu hạnh tịch tịnh.Trung Hoa dịch là "Tịch Mặc" . Sau khi Đức Phật đoạn trừ được các lậu hoặc, các vận động của nghiệp lực và ý thức tạo tác đều dừng tắt, các hành trong tâm của Ngài được an tịnh, Ngài được tôn xưng với danh hiệu "bậc ẩn sĩ của dòng họ Thích-ca (Thích-ca Mâu-ni).

Minh Hạnh Túc (S. Vidyā-caraṇa-saṃpanna; P. Vijjā-caraṇa-sampanna): Nghĩa là bậc Trí tuệ và đức hạnh viên mãn. Một trong mười danh hiệu của Đức Phật.

Mục-kiền-liên 連: Phiên âm của Maudgalyāyana (S), hoặc Moggallāna (P). Trong kinh điển Pāli và Sanskrit, Ngài là bậc có thần thông đệ nhất trong hàng đệ tử của Đức Phật. Ngoài ra, theo kinh điển Đại thừa, Ngài là biểu tượng của hạnh hiếu thảo. Để phân biệt với nhiều vị có cùng họ, nên Ngài thường được gọi là Đại Mục-kiền-liên (S. Mahāmaudgalyāyana).

Mun-đa: Phiên âm của Muṇḍa (P), con của Vua Anuruddha, cháu nội của Vua A-xà-thế. Ông giết cha mìnhchiếm ngôi và sau này cũng bị chính người con trai của mình Nāgadāsaka cuớp ngôi.

Mười danh hiệu của Đức Phật gồm: Như Lai, Ứng Cúng,Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều NgựTrượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Xem thêm từng mục liên hệ.

Mười địa: Thuật ngữ Sanskrit là daśabhūmi, chữ Hán là “Thập địa” , gồm có Hoan Hỷ, Ly Cấu, Phát Quang, Diệm Huệ, Nan Thắng, Hiện Tiền, Viễn Hành, Bất Động, Thiện Tuệ và Pháp Vân Địa.

Mười điều ác: Ngược lại với mười hạnh lành.

Mười hai khía cạnh: Dịch nghĩa của “thập nhị hành” 行 trong Kinh Chuyển Pháp Luân. Đức Phật thuyết pháp Tứ Đế hoàn thiện trên ba phương diện, đó là chỉ bày (thị chuyển), khuyến tấn (khuyến chuyển) và giới thiệu tự thân Đức Phật đã chứng đạt (chứng chuyển). Bốn đế nhân với ba phương diện thành 12 khía cạnh.

Mười hai thể loại kinh: Tiếng Sanskrit là dvādaśāṅga-buddha-vacana, Hán dịch là “thập nhị bộ Kinh”經 hoặc “Thập nhị phần thánh giáo” . Theo quan điểm của Phật giáo Đại thừa thì kinh điển Đức Phật thuyết thuyết trong 49 năm gồm 12 thể loại sau: 1. Sūtra: Trường hàng còn gọi là Khế kinh ,thuộc văn xuôi. 2. Geya: Trùng Tụng , loại kệ có tiết điệu được lập lại phần văn xuôi. 3. Gātha: Cô Khởi , hay còn gọi là "Cảm hứng ngữ", những vần thi kệ do Đức Phật cảm hứng mà trình bày hoặc kể lại cho đại chúng. 4) Avadāna: Thí dụ : Loại Kinh thuộc ẩn dụ hay dụ ngôn. 5) Nidāna: Nhân duyên những Kinh nói về nhân duyên khi Đức Phật thuyết pháp. 6) Udāna: Tự thuyết những Kinh do Đức Phật tự thuyết, không do ai thỉnh cầu. 7) Jātaka: Bổn sanh các câu chuyện tiền thân của Đức Phật. 8)Itivṛttaka: Bổn sự các công hạnh của Đức Phật khi đang tu hạnh Bồ-tát. 9) Adbhuta-dharma: Vị tằng hữu :những điều ít có trong cuộc đời. 10) Vaipulya: Phương Quảng chỉ cho các kinh căn bản của Đại thừa. 11) Upadeśa: Luận nghị các bài Kinh có tính chất vấn đáp và lý luận. 12) Vyākarṇa: Ký biệt hoặc thọ ký : lời tiên đoán của Phật về việc các hàng đệ tử thành Phật trong tương lai.

Mười hai xứ: Dịch nghĩa của “thập nhị xứ”, bao gồm 6 căn và 6 trần. Sáu căn gồm: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý. Sáu trần gồm: Hình sắc, âm thanh, mùi thơm, vị ngon, sự xúc chạm êm dịu, các đối tượng của tâm.

Mười hạnh lành: Thuật ngữ Hán gọi là Thập Thiện Nghiệp Đạo. Mười hạnh lành gồm: 1. Không sát sanh; 2. Không trộm cắp; 3. Không tà hạnh; 4. Không nói dối; 5. Không nói khoe khoang; 6. Không nói đâm thọc; 7. Không rủa chửi; 8. Không tham lam; 9. Không sân giận; 10. Không si mê.

Mười lực: Dịch từ “Thập lực” (S. daśabala, P. dasabala), 10 khả năng trí giác của Đức Phật, gồm có 1) Tri giác xứ phi xứ trí lực: Trí lực biết về sự vật nào là có đạo lý, sự vật nào là không có đạo lý; 2) Tri tam thế nghiệp báo trí lực: Trí lực biết rõ ba đời nghiệp báo của chúng sanh; 3) Tri chư thiền giải thoát tam muội trí lực: Trí lực biết các Thiền định và trí lực biết tám giải thoát, ba tam-muội; 4) Tri chúng sanh tâm tính trí lực: Trí lực biết tâm tính của tất cả chúng sanh; 5) Tri chủng chủng giải trí lực: Trí lực biết mọi loại trí giải của tất cả chúng sanh; 6) Tri chủng chủng giới trí lực: Trí lực biết khắp và đúng như thực mọi loại cảnh giới khác nhau của tất cả chúng sanh); 7) Tư nhất thiết chí đạo sở trí lực: Trí lực biết hết đạo mà người tu hành sẽ đạt tới, như người tu ngũ giới thập thiện thìđược ởcõi người, hoặc lên cõi trời, người tu pháp vô lậu thì sẽ chứng đạt Niết-bàn; 8) Tri thiên nhãn vô ngại trí lực: Trí lực vận dụng thiên nhãn nhìn thấy sự sinh tử và nghiệp thiện ác của chúng sanh, lại còn biết rõ vô lậu Niết-bàn; 9) Tri túc mạng vô lậu trí lực: Trí lực biết túc mạng của chúng sanh, lại còn biết rõ vô lậu Niết-bàn; 10) Tri vĩnh đoạn tập khí trí lực: Trí lực có thể biết rõ được như thực đối với mọi tàn dư tập khí sẽ vĩnh viễn đoạn diệt chẳng sinh.

Mười nhơn duyên: Dịch nghĩa của từ Thập nhân duyên,gồm có: Danh sắc, thức, xúc, thọ, ái, thủ, hữu, sanh, lão tử, sầu bi khổ ưu não.

Mười tám đặc tính của Phật: dịch nghĩa của cụm từ “Thập bát bất cộng pháp” . Đây là 18 đặc tính mà chỉ có Đức Phật mới có, còn các hàng Bồ-tát, Thanh Văn không thể có được. Mười tám đặc tính như sau: 1) Thân vô thất: Thân không có sai sót; 2) Khẩu vô thất: Miệng không sai sót; 3) Niệm vô thất: Ý niệm không sai sót; 4) Vô dị tưởng: Không có tư tưởng khác; 5) Vô bất định tâm: Đức Phật dù đi đứng nằm ngồi đều khônglìa Thắng định; 6) Vô bất tri dĩ xả: Phật đối với tất cả các pháp đều biết rõ rồi mới xả bỏ; 7) Dục vô giảm: Phật có đủ điều thiện thường muốn độ cho tất cả chúng sanh, tâm không biết chán; 8) Tinh tiến vô giảm: Siêng năng làm các việc thiện không mệt mỏi; 9) Niệm vô giảm; 10) Tuệ vô giảm: Chư Phật ba đời, hết thảy trí tuệ sáng ngời, đầy đủ, 11) Giải thoát vô giảm; 12) Giải thoát tri kiến vô giảm; 13) Tất cả thân nghiệp làm theo trí tuệ; 14) Tất cả khẩu nghiệp làm theo trí tuệ; 15) Tất cả ý nghiệp làm theo trí tuệ; 16) Trí tuệ biết đời quá khứ vô ngại; 17) Trí tuệ biết đời vị lai vô ngại; 18) Trí tuệ biết đời hiện tại vô ngại.

Mười tám giới: Dịch nghĩa của "thập bát giới" , bao gồm 6 giác quan (lục căn), 6 đối tượng giác quan (lục trần) và 6 thức giác quan (lục thức).

Mười tám yếu tố = mười tám giới.

Na-do-tha: Phiên âm của nayutahoặc niyuta(S), đơn vị đo lường khoảng cách của Ấn Độ, tương đương với 10 vạn dặm của Trung Quốc. Kinh thường ghi con số muôn ức na-do-tha, nghĩa là rất nhiều, không thể tính đếm được.

Na-hàm = A-na-hàm.

Na-ku-la: Phiên âm của Nakula. Tên của người con trai của hai vị cư sĩ hiểu đạo. Chính thân mẫu Na-ku-la đã thuyết pháp cho thân phụ của Nakula, nhờ đó thân phụ của Na-ku-la hết bệnh. Đức Phật khen ngợi và xác nhận Mẹ của Nakula là một người vợ lý tưởng.

Năm căn: Tiếng Sanskritlà pañca- Indriya,tiếng Hoa là "ngũ căn" nghĩa là năm nhóm căn bảncần tu tập để đưa hành giả đến giác ngộ,gồm có: 1) Tín căn (S. Saddhā-Indriya): Có niềm tin kiên cố đối với Tam Bảo. 2) Tấn căn (S. Vīrya-Indriya): Nỗ lực tu tập thiện pháp. 3) Niệm căn (S. Smṛti-Indriya): Luôn nhớ nghĩ đến lời dạy của Đức Phật. 4) Định căn (S. Samādhi-Indriya): Trụ tâm vào một cảnh. 5) Tuệ căn (S. Paññā-Indriya): Nhìn mọi sự vật hiện tượng đúng như bản chất thật của nó.

Năm đồng tu: Tức năm anh em tôn giả Kiều Trần Như đồng tu khổ hạnh với Đức Phật tại Khổ Hạnh Lâm. ®năm anh em Kiều-trần-như.

Năm dục: Dịch nghĩa của ngũ dục . Theo cả hai truyền thống Kinh điển Nam và Bắc truyền cho rằng: Năm dục là sắc đẹp, tiếng hay, hương thơm, vị ngon, xúc êm dịu. Năm dục cũng còn hiểu là năm đối tượng để thoả mãn của thân và tâm: Của cải (tài), sắc đẹp (sắc), tiếng tăm (danh), thực (ăn uống) và ngủ nghỉ (thuỳ).

Năm giới: Dịch nghĩa là ngũ giới , nghĩa là năm giới luật hay năm nguyên tắc đạo đức mà một Phật tử phải tuân thủ, bao gồm: Không sát sanh, không trộm cắp, không tà hạnh, không nói dối và không uống rượu.

Năm giới pháp = năm giới.

Năm lực: Tiếng Sanskrit là Pañca bala, tiếng Hoa là "ngũ lực" nghĩa là năm sức mạnh do tu tập năm cănviên mãn, đó là: 1) Tín lực (S. Sadhā-bala); 2) Tấn lực (S.Viriya-bala); 3) Niệm lực (S.Smṛti-bala); 4) Định lực (S. Samādhi-bala) và 5) Tuệ lực (S. Paññā-bala).

Năm nguyên tắc đạo đức = ngũ giới.

Năm pháp chướng ngại tâm: Nghĩa là năm phiền não thiêu đốt, trói cột, làm trở ngại cho việc tu tập thiền định của hành giả. Trong Kinh, năm pháp chướng ngại này được gọi là "năm triền cái", thuật ngữ Hán gọi là “ngũ cái” (S. pañca āvaraṇāni), gồm có: Tham dục (S. rāga-āvaraṇa), sân hận (S. pratigha-aavarṇa), trạo hối (S. auddhatya-kaukṛtya), hôn trầm (S.stāna-middha) và nghi ngờ (S. vicikitsā).

Năm sợi dây ràng buộc đầu: Còn gọi là năm kiết sử đầu, tiếng Hán gọi là "ngũ thượng phần kiết sử". ® năm thứ độn sử.

Năm sợi dây ràng buộc sau: Còn gọi là năm kiết sử sau, tiếng Hán gọi là "ngũ hạ phần kiết sử" 使, chúng còn gọi là "lợi sử" 使vì chúng dễ trừ, gồm có thân kiến, biên kiến, kiến thủ, giới cấm thủ và tà kiến.

Năm sự ngăn che = năm pháp chướng ngại tâm.

Năm thứ độn sử: Dịch nghĩa của cụm từ pañca- ūrdhvabhāgīta-saṃyojanāni(S),Hán dịch là "ngũ độn sử" 五 cũng được gọi là “ngũ thượng phần kiết sử” 使 nghĩa là năm thứ phiền não trói buộc con người, gồm có dục tham, sân nhuế, si, mạn, nghi. Vì chúng rất khó trừ nên gọi là "độn"

Năm thứ dục lạc: Dịch nghĩa của "ngũ dục lạc" gồm: Sắc đẹp, tiếng hay, hương thơm, vị ngon và xúc chạm êm dịu.

Năm thứ phước đức cõi người: Sống lâu, sắc đẹp, sức khoẻ, an vui và trí tuệ.

Năm tổ hợp nhân thể hay năm nhóm nhân thể: Dịch nghĩa của từ năm uẩn. Trong một vài chỗ còn viếtlà "hợp thể tinh thần và xác thân." Năm hợp thể cấu tạo nên con người, bao gồm, xác thân, cảm giác, ý niệm hóa, sự vận hành và thức phân biệt. ® năm uẩn.

Năm uẩn: Dịch nghĩa của pañca-skandha(S) hoặc pañcakhandhā(P)tiếng Hoa là "ngũ uẩn" , hay là "Ngũ ấm" , nghĩa là năm nhóm tích tụ hay năm nhóm che đậy. Trong bản Kinh Nhật Tụng Hàng Ngày này có chỗ dịch là "năm nhóm nhân thể." Năm uẩn gồm sắc uẩn (S. rūpa-skandha), thọ uẩn (S. vedanā-skandha), tưởng uẩn (S. samṃjñā-skandha), hành uẩn (S. saṃskāra-skandha) và thức uẩn (S. vijñāna-skandha).

Năm vị Tỳ-kheo đầu tiên: Dịch nghĩa của cụm từ Pañca bhikṣavaḥ(S) hoặcPañca-vaggiyā bhikkhū(P).Còn gọi là năm anh em Kiều-trần-như: 1. Ājñāta Kauṇḍinya (S),Añña Koṇḍañña (P) A-nhã Kiều-trần-như ; 2. Āśvajit (S), Assaji (P) Mã Thắng ; 3. Bhadhrika (S), Bhadiya (P) Bà-đề ; 4. Daśabala Kāśyapa (S), Dasabala Kassapa (P) Thập Lực Ca-diếp ; 5. Mahānāma Kulika (S) Ma-ha-nam .

Nan-đà: Phiên âm của Nārada (P). Kinh Nhổ Mũi Tên Sầu Muộn đề cập Nan-đà, tên một trưởng lão sống sau thời Đức Phật, khác với tôn giả Nan-đà, người em cùng cha khác Mẹ với Đức Phật.

Nan-di-ya: Phiên âm Nandiya (P), tên của một vị Tỳ-kheo sống rất hoà hợp với hai vị khác tên là Anaruddha và Kimbila.

Năng Nhân: Nghĩa là một bậc có năng lực rộng lớn và có lòng từ bi quảng đại. Đây là danh hiệu của Đức Phật mà người Hoa dịch từ Śākya (Thích-ca).

Na-tiên 先: Phiên âm của Nāgasena (S=P). Tên của một Tỳ-kheo có tài biện luận, đã thuyết phục được vua Milinda quy y Tam Bảo.

Ngạ quỷ鬼: Nghĩa là quỷ đói, vốn từ nguyên của nó là Preta (S) hoặc Peta (P) nghĩa là các loài chúng sanh đã chết chưa đi đầu thai sang kiếp khác. Đây là cảnh giới đau khổ thứ hai tính từ dưới lên.

Nghiệp cuối đời: Tiếng Hán gọi là"cận tử nghiệp" 業 (S.maraṇasnṛti;P. maraṇa-sati), nghĩa là các niệm khởi của người sắp chết tạo thành một động lực, còn gọi là nghiệp. Nghiệp này rất mạnh, nó thúc đẩy thần thức đi tái sanh vào cõi tương ứng.

Ngũ dục 欲 = năm thứ dục lạc.

Ngũ nghịch 逆: Năm tội lớn: Giết cha, giết mẹ, giết A-la-hán, làm thân Phật ra máu và phá sự hoà hợp của Tăng chúng. Người nào phạm một trong tội này đều đoạ vào địa ngục Vô Gián (nghĩa là đạ ngục trong đó sự hành phạt không có dừng nghỉ).

Ngũ nghiệp 業: Trong Kinh Nhận Thức Vô Thường và Đau Khổ, ngũ nghiệp gồm như sau: Thời phân bất định dị thục nghiệp, thuận hậu thứ hậu nghiệp, thuận hiện pháp thụ nghiệp, thuận thứ sinh thụ nghiệp

Ngũ phần hương 香: Năm loại hương cúng dường chư Phật, đó làhương của giới,hương của định, hương của tuệ, hương của giải thoát, hương của giải thoát tri kiến.

Ngũ thông 通: Năm thần thông do công phu tu tập các loại thiền định mà đạt được, đó là thiên nhãn thông, thiên nhĩ thông, tha tâm thông, thần túc thông và túc mạng thông. Năm loại thần thông này một vị còn lậu hoặc phiền não cũng có thể đạt được (trong khi lậu tận thông chỉ có Đức Phật và các vị A-la-hán mới chứng được).

Ngũ uẩn = năm uẩn.

Như Lai 來: Dịch nghĩa của Tathāgata (S=P), một trong mười danh hiệu của Đức Phật. Danh hiệu nầy là từ xưng mình của Đức Phật đối với các hàng đệ tử. Kinh Kim Cang định nghĩa bậc "vô sở tùng lai, diệc vô sở khứ, cố danh Như Lai" nghĩa là bậc từ không có chỗ đến mà cũng không có chỗ đi, gọi là Như Lai. Một số Kinh điển Bắc truyền viết vềtrạng thái của Như Lai như sau: Như Lai là trạng thái cao quý, Như Lai là trạng thái mát mẻ, Như Lai là trạng thái không nóng bức, Như Lai là trạng thái không còn khóc than. Kinh tạng Pāli định nghĩa Như Lai là một bậc làm sao nói vậy, nói sao làm vậy.

Nhứt hoàn 還 = Tư-đà-hàm.

Nhứt thiết chủng trí, cũng đọc là Nhất thế chủng trí 智 tức trí tuệ vô lậu rốt ráo của chư Phật Thế Tôn.

Nhứt thừa乘: Dịch nghĩa của ekayāna(S), nghĩa là người học Phật học hỏi và tu tập theo giáo pháp của Đức Phật với mục đích duy nhất là để thành Phật, nên nhiều chỗ gọi là "Phật thừa" Buddha-yāna.

Niết-bàn: Phiên âm của Nirvāṇa(S) hoặcNibbāna(P). Đây là trạng thái tịch tịnh vắng lặng của một bậc A-la-hán, nên người Hoa cũng dịch là "tịch tịnh" . Niết-bàn có hai loại: hữu dư Niết-bàn (S. Rupadhiśeṣa-nirvāṇa): trạng thái Niết-bàn chứng được ngay khi hành giảcòn sống, còn có thân thể năm uẩn. Vô dư Niết-bàn (S. Nirupadhiśeṣa-nirvāṇa): Trạng thái Niết-bàn chứng đạt ngay khi hành giả từ bỏ cõi sống, từ bỏ xác thân. Trạng thái này không thể diễn đạt bày bằng ngôn ngữ mà phải thân chứng. Khái niệm này thường để chỉ cho Đức Phật khi qua đời, Trung Hoa dịch là "diệt độ" 度 hoặc "thị tịch" .

Ô-sô-sắt-ma 摩: Còn được phiên âm là Ô-sô-sa-ma phiên âm của Ucchuṣma (S). Tên của một vị Bồ-tát được đề cập trong Kinh Lăng Nghiêm.

Phạm Chí 志: Thuật ngữ này dịch nghĩa của từ Bà-la-môn (S. Brāhmaṇa). Tuy nhiên,thuật ngữ này chính xác là dịch từ Brāhmacārin(S), cũng có nghĩa là "phạm hạnh" . Tên gọi một vị Bà-la-môn ở trong giai đoạn cuối của đời người theo truyền thống của họ. Theo họ, đời người có bốn giai đoạn như sau: Giai đoạn một từ 8 tuổi đến 20 tuổi theo các danh sư học Kinh điển Veda. Giai đoạn hai từ hai mươi tuổi trở lên được quyền lập gia đình, sinh con cái, lo làm ăn; giai đoạn 3 là phải đóng góp công sức xã hội khi tuổi đã quá trung niên; giai đoạn 4 là giai đoạn về già, xuất gia làm sa-môn khổ hạnh, giai đoạn này gọi là Saṃyāsin.Chính giai đoạn này, một Bà-la-môn được gọi là "phạm chí."

Phạm thiên 天: Viết đủ là phạm-ma thiên . Thuật ngữBrahmā (S=P) được phiên âm làphạm-ma là vị Trời có uy lực lớn nhất trong Sắc giới. Phạm Thiên cũng được tôn xưng là Đại Phạm Thiên , hay là phạm vương . Theo quan điểm của đạo Bà-là-môn, Phạm thiên là vị chúa tể của trời đất, vị sáng tạo vũ trụ. Đức Phật chỉ xác nhận Phạm thiên là một vị có phuớc đức lớn trong cõi dục, hoàn toàn không phải là đấng Tạo Hoá hay đấng Sáng Tạo. Trong Kinh điển Phật giáo, Phạm Thiên là người thỉnh cầu Đức Phật chuyển pháp luân, ngay sau khi ngài thành đạo.

Phạm vương 王: Cách gọi khác của Đại Phạm Thiên Vương ,vua cõi trời Sắc giới. Vua Đại Phạm tu tập tâm: Từ, Bi, Hỷ, Xả nên bốn pháp môn tu tập này cũng gọi là “Tứ phạm trú." . Vị thiên chủ này đã phát nguyện hộ trì những vị vâng giữ lời Phật dạy.

Pháp ấn印: Thường gọi là “Tam pháp ấn” , nghĩa là ba thuộc tính của mọi sự vật hiện tượng, đó là: Vô thường, khổ và vô ngã. Trong văn học Phật giáo Việt Nam, thuật ngữ này được dùng để chỉ ba dấu ấn xác minh giáo pháp của Đức Phật khác với giáo lý của ngoại đạo, vì giáo pháp của Đức Phật luôn đề cập đến ba thực tínhcủa mọi sự vật hiện tượng.

Pháp cao thượng: Theo quan điểm của Phật giáo, một vị hành giả đạt được các pháp cao thượng, tức vị ấy thành tựu các pháp dẫn đến đoạn trừ năm triền cái và chứng đạt các quả vị thiền định từ Sơ thiền đến Tứ thiền, tiến đến Diệt thọ tưởng định, thành tựu từ Sơ quả đến Tứ quả. 

Pháp Hoa 花: Viết đủ là Diệu Pháp Liên Hoa Kinh, dịch nghĩa của cụm từ Saddharma-puṇḍarīka sūtra(S) có nghĩa là Kinh Hoa Sen Chánh Pháp. Tên gọi một bộ Kinh căn bản của Đại thừa và cũng là Kinh nền tảng của tông Thiên Thai ở Trung Hoa và Nhật Bản.

Pháp hữu vi 法: Tiếng Sanskrit là saṃskṛta-dharma nghĩa là các pháp do các nhân duyên phối hợp mà thành. Nói chung mọi sự vật hiện tượng đều gọi là pháp hữu vi, ngoại trừ 3 hoặc 6 pháp thuộc thể Niết-bàn thì gọi là pháp Vô vi.

Pháp thân 身: Tiếng Sanskrit là Dharmakayāya, nghĩa là thân thường trú bất sanh bất diệt của Đức Phật. Thân này không bị già chết chi phối.

Pháp vô vi: Chữ Hán viết là Vô vi pháp 法 dịch nghĩa từ Asaṃskṛta-dharma(S), nghĩa là các pháp không bị tạo tác. Theo quan điểm của Duy Thức Học vô vi phápgồm có 6 pháp, theo Câu-xá tông pháp vô vi gồm 3 pháp. Vô Vi có lúc được hiểu như cảnh giới Niết-bàn tịch tịnh.

Phật Nhiên Đăng: Chữ Hán viết là Nhiên Đăng Phật 佛 dịch nghĩa của Dīpaṃkara Buddha (S). Phật Nhiên Đăng là Đức Phật quá khứ đã thành đạo từ vô lượng kiếp về trước, đã thọ ký cho Đức Phật Thích-ca sẽ thành đạo lúc Đức Phật Thích-ca là một chàng thanh niên mua hoa cúng dường Ngài trong tiền kiếp. 

Phát tâm lớn: Nghĩa là phát tâm giác ngộ để độ tất cả chúng sanh đồng vào quả vị giác ngộ tối thượng. Trong các Kinh Đại thừa khi nói đến "phát tâm lớn" cũng có nghĩa là phát tâm Bồ-đề, hay nói cách khác là phát tâm cầu quả vị giác ngộ tối thượng.

Phật Tỳ-xá-phù: Viết theo cấu trúc chữ Hán là , phiên âm của Viśvabhuk (S) hoặc Viśvabhū (P), tên của một vị Phật trong thời quá khứ.

Phật-đà 陀: Phiên âm của người Trung Quốc về chữ Buddha (S=P), nghĩa là Bậc Giác Ngộ, viết tắt là Phật,Việt Nam phiên âm là Bụt.

Phi tưởng phi phi tưởng xứ định (S. Naiva saṃjñāsaṃjñāyatana dhyāna): Một trong 4 cảnh giới thiền của sắc giới.

Phiền não 惱: Dịch nghĩa của kleśa(S) hoặc kilesa(P). Các trạng thái tâm buồn phiền, nóng giận, tham lam, v.v… những tâm lý bất an của con người gọi chung là phiền não. Một số nhà Phật học dùng từ “phiền não" để chỉ cho nhân tạo tác các bất thiện nghiệp, được xem đồng nghĩa với "lậu hoặc."

Phổ Hiền 賢: Dịch nghĩa của Samantabhadra (S) hoặc Viśbhadra (S), tên của một vị Bồ-tát. Ngài tượng trưng cho các hạnh nguyện hoàn hảo của các vị Bồ-tát. Ngài cỡi bạch tượng, thường đi song đôi với Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi, tượng trưng cho trí tuệ.

Phú-đơn-na: Phiên âm của Pūtana (S), một loài quỷ vô lương, thường gây bệnh tật cho loài người.

Phú-lâu-na Di-đa-la-ni-tử 子 = Phú-lâu-na.

Phú-lâu-na: Gọi đủ là Phú-lâu-na Di-đa-la-ni-tử , phiên âm của Pūrṇa Maitrāyaṇīputra (S) hoặc Puṇṇa Mantāniputta (P), tên của một vị trong mười vị đại đệ tử của Đức Phật. Tôn giả được Đức Phật xác nhận là vị thuyết pháp số một.

Pi-ja-ka: Phiên âm của Piyaka (P), ông là quan đại thần chịu trách nhiệm coi ngó ngân khố thành Vương Xá dưới triều đại của vua Muṇḍa.

Quả Vào Dòng: Nghĩa là người đã vào dòng Thánh. Thuật ngữ Hán thường dịch là "Dự lưu quả" , hoặc là "Tu-đà-hoàn quả" . Quả vị nầy đoạn được 3 loại phiền não thô nhất, đó là Thân kiến, nghi và giới cấm thủ. Hay nói cách khác, người chứng đạt vào quả vị nầy thấy rõ thân năm uẩn nầy là không thật; có niềm tin bất thối chuyển đối với giáo Pháp; và uyển chuyển linh động trong cách thọ trì giới pháp.

Giảng sư

Kết nối

Tổng số truy cập
Thông tin: 23.040
Pháp Âm: 28.643
Đang truy cập
Hôm qua: 16371
Tổng truy cập: 6.468.760
Số người đang online: 555
hosting gia re , web gia re tron goi , thiet ke web tron goi tai ho chi minh, binh duong, vung tau, ha noi, ca nuoc , thiet ke web tron goi gia re