chuabuuchau.com.vn,chuabuuchau, chua buu chau, chùa bửu châu, chua buu chau cu chi

Cái đẹp của Phật giáo trong thời Lý Trần - Thích nữ Hạnh Thuận

CÁI ĐẸP CỦA PHẬT GIÁO TRONG THỜI LÝ TRẦN
Thích nữ Hạnh Thuận

Kết quả hình ảnh cho Cái đẹp của Phật giáo trong thời Lý TrầnPHẦN MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài 
Nói đến Phật giáo chúng ta không thể không nói đến Phật giáo thời Lý - Trần. Đây là thời kỳ mà có thể cho là cục thịnh nhất trong quá trình Phật giáo tồn tại ở Việt Nam. Song song với sự phát triển của Phật giáo thời bấy giờ, nền văn học Việt Nam cũng được khơi nguồn từ đó.

Toàn bộ những tác phẩm văn thơ Lý – Trần đều toát lên một sự giải thoát tự tại, chứa đựng những triết lý sâu xa nhưng rất gần gũi với con người. Bằng những việc làm, sự nhập thể tích cực của các vị thiền sư, các vua quan là những Phật tử thuần thành đã đưa văn thơ Lý – Trần vào lòng dân tộc. Qua những bài thơ chúng ta thấy chính phong cách sống của quý ngài đã tạo nên cái đẹp của Phật giáo với tinh thần “nhập thế mà không trụ thế”. Bằng tư tưởng bình đẳng, vô ngã, vị tha các vị đã góp nhặt và thể hiện qua những áng văn thơ tuyệt đẹp. Ngoài ra các ngài đã biết kết hợp chọn lọc và dung hoà các hệ tư tưởng với nhau, tìm tòi những cái riêng để tạo thành một cái chung cho dân tộc. Đây chính là nét độc đáo mà chúng ta có thể tìm thấy ở thời đại Lý – Trần mà không thể tìm thấy ở một thời đại náo khác.

Đọc những tác phẩm văn thơ Lý – Trần chúng ta cảm thấy có một cáo gì đó rất thâm thuý nhưng cũng rất nhẹ nhàng. Tìm lại nét đẹp trong thơ Lý – Trần chính là tìm lại phong cách sống của các thiền sư, cái đẹp đó thể hiện qua những bài thơ, những bài văn đã đi sâu vào lòng dân tộc và đó cũng chính là lý do vì sao người viết chọn đề tài này.

Nhưng vì kiến thức người viết còn hạn hẹp cho nên không sao tránh khỏi những sai sót trong khi viết, dù đã hết sức cố gắng. Người viết mong được quý vị hoan hỷ và chỉ bảo thêm.

2. Phương thc nghiên cứu
Đây là một đề tài khá rộng và nội dung chủ yếu là nói về cái đẹp của Phật giáo qua những tác phẩm văn thơ Lý – Trần. Cho nên khi viết người viết chỉ chú trọng đến những tài liệu có liên quan đến cái đẹp. Tuy nhiên cái đẹp đó đều được thể hiện qua các hành động, phong cách sống của các vị Thiền sư, các vị Vua thời Lý – Trần. Cho nên khi viết người viết cũng có khái quát một đôi nét về tiểu sử của các vị Vua và lịch sử đất nước Việt Nam trong thời Lý – Trần. Tất cả những tài liệu mà người viết sử dụng đều, không ngoài những phạm vi những tác phẩm liên quan đến thời Lý – Trần.

3. Phạm vi nghiên cứu
Với đề tài “Cái đẹp của Phật giáo trong thời Lý – Trần”. Cho nên người viết trình bày nội dung gồm ba chương :

Chương I : Quá trình du nhập của Phật giáo Việt Nam từ đầu Công nguyên đến thế kỷ 14.
Chương II : Những nét đẹp của Phật giáo Việt Nam được khơi nguồn qua văn thơ Lý – Trần.
Chương III : Phật giáo Lý – Trần với tinh thần dung hoà các hệ tư tưởng.


Tuy nhiên vì đề tài có liên quan đến cái đẹp cho nên người viết chỉ chú trọng nhiều đến chương II và III. Đó là nội dung chính của đề tài.

4. Ý nghĩa mục đích và tính thực tiễn :
Cái đẹp luôn là mục tiêu hướng tới của con người. Trong cuộc sống cái đẹp của con người không phải là những hình thức bên ngoài, mà cốt yếu là ở nhân cách đạo đức. Tuy nhiên những cái đó rồi cũng mất dần thưo thời gian. Với Phật giáo cái đẹp ở đây là sự trường tồn, vĩnh cửu. Cho nên đề tài này có một ý nghĩa rất thiết thực cho cuộc sống, bởi chính có những cái đẹp được xây dựng trên tinh thần bình đẳng, lợi tha, vô ngã … là cái đẹp vĩnh cửu nhất.

Khi viết đề tài này người viết không ngoài mục đích là muốn khơi nguồn lại một thời vàng son của Phật giáo Việt Nam trong thời đại Lý – Trần và đồng thời giúp người viết hiểu rõ hơn vè tư tưởng của các vị Thiền sư. Qua những phong cách, những tư tưởng đó cũng là lợi ích phần nào cho cuộc sống tu tập.
 
DẪN NHẬP
Theo dòng thời gian người Việt nam chúng ta càng ngày càng nhận thức thấu đáo hơn về giá trị của văn hoá Phật giáo trong nền văn hoá chung của dân tộc. Muốn hiểu sâu về văn hoá dân tộc không thể không hiểu sâu về văn hoá Phật giáo. Trong văn hoá Phật giáo có văn học Phật giáo. Văn học Phật giáo là một bộ phận cấu thành văn học Phật giáo dân tộc.

Phật giáo Việt nam trãi qua nhiều biến thiên lịch sử, tồn tại trong một quốc gia chịu nhiều tang tóc chinh chiến, nhưng vẫn có những nét đặc thù riêng lẽ từ kiến trúc hội hoạ, điêu khắc, nghệ thuật, văn chương cho đến những câu hò điệu lý… đều xuất phát từ tinh hoa Phật giáo. Đạo Phật đi vào lòng người ở thời Lý Trần bằng tất cả sự nghiệp, tư tưởng, lời nói, hành động của các vị Vua, Thiền sư.g thời đại ấy đèu thấm nhuần giáo lý Phật giáo nên họ đã hình thành một cuộc sống tốt đẹp đưa đ ất nước đến đỉnh cao của sự phồn vinh, hạnh phúc. Tuy nhiên lật lại những trang sử của những ngày ấy chúng ta cũng thấy được lịch sử đất nước Việt nam được hình thành như thế nào.

Lịch sử của Việt nam là lịch sử của chiến tranh dựng nước và giữ nước. Đó hẳn là tiếp nối của những tráng ca và bi ca. Trên cơ sở văn minh sông Hồng và nền văn hoá Đông Sơn, một nhà nước Việt nam được hình thành trong phôi thai. Nhưng lịch sử Việt nam không được viết lên trang đầu bằng sự phát triển kinh tế mà trang đầu của nósớm vẽ lên những gươm đao chống quân xâm lược  nhà Hán, Trung Hoa. Kể từ đó đất nước Việt Nam phải chịu ách đô hộ  hàng ngàn năm trải qua không biết bao nhiêu đau thương tang tóc. Nhưng cũng từ mảnh đất hoang tàn ấy dân tộc Đại Việt đã khôi phục mạnh mẽ, hồi sinh những tiềm năng , làm thay đổi bộ mặt đất nước. Một mặt khôi phục những giá trị tinh thần truyền thống, mặt khác đón nhận những tinh hoa, văn hoá nước ngoài, chuyển hoá nó, dung hoà với cái vốn có của mình để làm thành một nền văn hoá phong phú, đa dạng có bản sắc góp phần thúc đẩy sự phát triển đất nước ngày một đi lên.

Đã qua rồi những giông tố  bão bùng, bầu trời lại trong xanh hơn. Đất nước chúng ta đang chuyển mình vào thiên  niên kỷ mới, nhưng không vì thế mà chúng ta bỏ qua đi thời đại vàng son .Và hơn bao giờ hết chúng ta cần làm sống lại những dòng văn học cổ – Trung đại, nền văn học Lý- Trần khơi lại một thời đại Phật giáo thịnh hành.

Phật giáo Việt Nam qua những tác phẩm thơ  Lý- Trần đã tự hoàn thiện .Thời đại mà con  người và văn chương hợp thành một. Xã hội đương đại và con người thời Lý- Trần hoà quyện vào nhau. Thơ văn là quan  điểm, là hiện thân của nhân dân. Điều đáng nói nói ở đây là Phật giáo là quốc giáo đã ho nhập vào lòng dân tộc , đưa đất nước song song với đạo Phật đi lên .

Để vượt qua những tín ngưỡng thần bí siêu nhiên , những nhà Vua Thiền Sư đã tiếp nhận  và đemnhững điều hay, ý đẹp vun đắp cho  thực tại làm tăng thêm sức mạnh  ý thức đối lập tự lực, tự cường của dân tộc, đồng thời giúp chúng sự đóng góp của Phật giáo đối với việc xây dựng và phát triển đất nước.
 
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: QUÁ TRÌNH DU NHẬP CỦA PHẬT GIÁO VIỆT NAM

1.1 Quá trình du nhập và phát triển của Phật giáo Việt Nam từ đầu Công nguyên đến thế kỷ thứ XIV.
Đạo Phật từ Aán Độ du nhập vào Việt Nam từ rất sớm, vào khoảng thế kỷ thứ II. Trong những năm đầu của Công nguyên các thương nhân hàng hải ở Aán Độ qua miền Viễn Đông để mua hàng hoá, gỗ, trầm hương, vàng... Đạo Phật đã theo những  đoàn khách buôn bằng đường thuỷ băng qua Srilanka, Java, Indonesia, Aán Độ và Trung Hoa. Ngay từ khi mới du nhập đạo Phật đã được người Việt Nam đĩn nhận và trở thành một nền văn hĩa đặc sắc của dân tộc.

Trong suốt hơn hai mươi ngàn năm đất nước chúng ta chịu biết bao thống khổ vớí bao đổi thay thăng trầm, nhưng đạo Phật không vì vậy mà thay đổi. Luôn đồng cam cộng khổ vớí vận mệnh thăng trầm của đất nước, vớí công cuộc chống ngoại xâm cũng như sự nghiệp dựng nước và giữ nước, mở mang bờ cõi. Trong mọi hoàn cảnh nào Phật giáo luôn luôn có mặt trong sức sống của nền văn hoá cũng như trong công cuộc chống xâm lăng.

Về quá trình du nhập và phát triển của Phật giáo từ đầu công nguyên đến thế kỷ thứ XIV chúng ta có thể khái quát qua các giai đoạn sau:

Giai đoạn I: Từ giữa thế kỷ thứ II đến đầu thế kỷ thứ III.

Có thể nói ở giai đoạn này sự du nhập của Phật giáo như một tôn giáo, mở ra hai con đường là Thiền tông và Tịnh độ tông.

Giai đoạn II :Từ thế kỷ thế VI đến thế kỷ thứ X

Đây là thời kỳ Phật giáo đặt nền móng xây dựng và phát triển. Với hai thiền phái chính là Tỳ Ni Đa Lưu Chi vàVô Ngôn Thông đã khẳng định sự hiện hữu của Phật giáo như là một tôn giáo không thể thiếu trong lòng dân tộc. Phật giáo đưa con người hướng đến một đời sống tâm linh thánh thiền , biết phân biệt thiện , ác.

Giai đoạn III : Từ cuối thế kỷ thứ X đến cuối thế kỷ XIV (tức cuối đời Trần)

 Đây là thời kỳ Phật giáo phát triển cực thịnh. Trong giai đoạn này có thể xem Phật giáo như là một quốc giáo của dân tộc Việt nam .Điểm đặc biệt của giai đoạn này là sự thống nhất của các thiền phái và lập nên các phái Thiền ở Trúc Lâm và Yên Tử. Với sự nhiệt thành của Trần Thái Tông và Tuệ Trung Thượng Sỹ , khai sơn đệ nhất tổ là Thiền sư Hiện Quang và tổ thứ hai là Thiền sư Viên Chứng hiệu Trúc Lâm là vị thầy của vua Trần Nhân Tông được vua tơn xưng là Quốc Sư.

Đạo Phật có thể nói là một tôn giáo rất dễ gần gũi, luôn uyển chuyển trong mọi thời đại, mọi tình huống. Thế cho nên các Thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi, Vô Ngôn Thông dù có mang màu sắc Phật giáo của Ấn Độ hay Trung Hoa  ưng khi vào Việt Nam thì nhanh chóng thể nhập, dung hoà gần gũi với đời sống dân tộc. Đó  cũng chính là đặc điểm nổi bật của Phật giáo trong suốt quá trình du nhập phát triển.Trần:

Nhờ sự phát triển của mười thế kỷ trước, nên khi đất nước được độc lập, Phật giáo Việt nam càng có điều kiện phát triển mạnh mẽ hơn. Phật giáo lúc này không chỉ ảnh hưởng lớn trong đời sống tâm linh, đời sống văn hoá của dân tộc mà còn chi phối đến chính trị, xã hội… Phật giáo có lúc chiếm vị trí độc tôn ở các triều đại Ngô, Đinh, Tiền, Lê, Lý và đầu  đời Trần, và có lúc được coi như là một quốc giáo, các vị vua, quan và dân  hầu hết là những Phật tử thuần thành đều đến chùa quy y, tụng kinh sống một đời sống có giơí luật cho nên nhân dân  thời đại này được coi  là thời đại thái bình nhất. Tất cả đều thể hiện được  tinh thần bình đẳng, tương thân tương ái. Chính những cái này đã làm cho Phật giáo Việt Nam phát triển mạnh mẽ hơn. Và những nhân cách cao đẹp , những tấm lòng vị tha đó mà triều đại Lý- Trần đã trị  vì đất nước trong gần 400 năm

1.2.1 Phật giáo thời nhà Lý
Sau khi thoát khỏi ách đô hộ Bắc thuộc đất nước Việt Nam được độc lập, tự chủ  tiến bước trên con đường phát triển xã hội. Vào triều đại nhà Lý (1010-1225) xã hội Việt Nam tiến tới ổn định hoàn toàn. Bộ máy nhà nước Trung ương tập quyền được củng cố vững chắc. Bộ Luật Hình Thư đầu tiên được viết thành văn hồn  chỉnh. Nền kinh tế nông, công thương nghiệp được phát triển. Cuộc kháng chiến chống quân xâm lược nhà Tống (1075-1077) thắng lợi vẻ vang.

Song song với bước tiến xã hội, Nho giáo cố vươn lên, tác động vào hệ tư tưởng và đời sống tinh thần của nhân dân, tranh giành ảnh hưởng vớí  Phật giáo nhất là những thập ky ũcuối đời  Lý. Nhưng vớí tài ba lỗi lạc của các Thiền Sư, lòng kính tin Phật pháp của triều đình, quan lại và quần chúng, Phật giáo vẫn tiếp tục phát triển và chiếm lĩnh đỉnh cao trong thời đại nhà Lý.

Lý  Thái Tổ (1010-1225)
Lý Thái Tổ tên  huý là Lý Công Uẩn, con nuôi của sư Lý Khánh Vân chùa Cổ Pháp. Thuở nhỏ thọ giáo với Thiền sư Vạn Hạnh, lớn  lên theo Thiền sư vào Hoa Lư làm quan dưới triều Lê được giữ chức “ Tả thân vệ điền tiền chỉ huy sứ “. Trị vì triều đại này bấy giờ là vua Lê Long Đỉnh (Lê Ngoạ Triều) nhưng vì vị vua này ăn chơi trác táng, hoang dâm vô độ, suốt ngày chỉ lo hưởng những dục lạc trong cung mà không lo đến đời sống dân chúng, cho nên  khi Lê Ngoạ Triều băng hà Lý Công Uẩn được quan đại thần Đào Cam Mộc cùng với Thiền Sư Vạn Hạnh suy tôn làm Hoàng đế lấy hiệu là Lý Thái Tổ niên hiệu Thuận Thiên (1010) đóng đô ở Thăng Long (Hà Nội) . Xuất thân ở chốn thiền môn và được sự huấn dục của Thiền Sư Vạn Hạnh nên vua Lý Thái Tổ  hết lòng sùng kính Phật giáo.

Năm Thuận Thiên thứ 15 (1024) nhà vua tổ chức giảng dạy Phật pháp ngay trong nội thành để tiện việc cho dân  chúng lui tớí nghe pháp và vua đã thỉnh Thiền Sư Vạn Hạnh làm Quốc sư, suy tôn Phật giáo là quốc giáo. Cũng trong giai đoạn này các Thiền Sư thuộc hai  thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi và Vô Ngôn Thông đã thực sự dấn thân vào các lĩnh vực như kinh tế, chính trị… đế góp phần xây dựng đất nước ngày một phát triển.

Qua những sự kiện trên chúng ta thấy rằng Phật giáo trong thời Lý rất thịnh, trải qua 215 năm trị vì với tám đời vua, triều đại Lý đã chỉnh đốn lại Phật giáo, xây dựng rất nhiều chùa chiền, đóng một vai trò quan trọng trong công cuộc xây dựng đạo pháp dân tộc. Phật giáo đã chiếm vị trí độc tôn. Các lĩnh vực văn hóa, học thuật, chính trị lúc bấy giờ đều nằm trong Phật giáo.

1. 2.2 Phật giáo thời nhà Trần (1226-1400)
Vào đầu thế kỷ XIII, ba thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi, Vô Ngôn Thông và Thảo Đường dần dần sát nhập thành một, do ảnh hưởng lớn của Trần Thái Tông và Tuệ Trung Thượng Sĩ đã đưa đến sự phát triển của Thiền phái Trúc Lâm ở núi Yên Tử là thiền phái duy nhất của đời Trần. Thời Trần được coi là Phật giáo Nhất Tông tức là thời đại của một “ Phật Giáo Duy Nhất”. Tông phái này xuất phát từ  núi Yên Tử mà vị tổ khai sơn là Thiền Sư Hiện Quang, Thiền Sư Viên Chứng hiệu Trúc Lâm Thầy của Trần Thái Tông là vị tổ thứ hai của phái Yên Tử được vua tôn xưng là Quốc sư.

Trần Thái Tông (1218-1277)
Trần  Thái Tông tên thật là Trần Cảnh, chồng Chiêu Thánh (tức Lý Chiêu  Hoàng), lên ngôi năm 8 tuổi lấy hiệu là Trần Thánh Tông là vị khai sáng đời Trần, vì còn nhỏ tuổi nên mọi việc đều do Trần Thủ Độ đảm trách.

Năm 1327 khi Thái Tông 20 tuổi, Hoàng hậu Chiêu Thánh mớí 19 tuổi cả hai chưa có con để nối dõi. Trần Thái Tông bị ép bỏ Chiêu  Thánh để lấy Thuận Thiên vợ của anh là Trần Liễu (Thuận Thiên lúc đó đang mang thai) lập Thuận Thiên làm Hoàng hậu để sau vài tháng Thái Tông sẽ có con để nối dõi, vì bị ép bỏ người yêu để lấy chị dâu, không hợp đạo lý Trần Thái Tông buồn nản khổ đau cho nên vào lúc 10 giờ đêm mồng ba tháng tư  năm Bính Thân vua trốn lên núi Yên Tử.

Khi đến chùa Hoa Yên, Vua vào báo yết Đại Sa Môn Trúc Lâm, với vẻ ung dung mừng rỡ Đại Sa Môn nói với Trần Thái Tông : “Lão tăng ở chốn sơn lâm lâu ngày, xương cứng mắt gầy, ăn rau răm , nhai hạt dẻ, uống nước suối, quen vui với cảnh núi rừng, lòng nhẹ như đám mây nổi theo gió mà đến đây. Nay bệ hạ bỏ địa vị nghĩ đến cảnh quê mùa, nuí rừng hẳn là muốn tìm cầu gì mới khổ công đến đây ? “

Trần Thái Tông cảm động nước mắt trào dâng, thưa : ”Trẫm còn thơ ấu đã mất cha mẹ, chơ vơ đứng trên sĩ dân, không nơi  nương tựa. Trẫm thấy sự nghiệp đế vương đời trứơc phế hưng không thường. Vì thế Trẫm vượt suối , băng ngàn đến đâychẳng cầu gì khác, chỉ muốn cầu thành Phật.”

Đại Sa Môn Trúc Lâm đáp :

 “Trong núi vốn không có Phật, Phật ở trong tâm ta. Nếu tâm vắng lặng, trí tuệ xuất hiện chính đó là Phật. Nếu Bệ hạ giác ngộ được tâm đức khắc thành Phật tại chỗ, chẳng cần khổ  công tìm cầu bên ngoài.”

Trần Thủ Độ hay tin Thái Tông đã lên núi Yên Tử đã đích thân dẫn các quan và xa giáđi đón Vua về Kinh đô. Vua Thái Tông nói: ‘Trẫm còn nhỏ tuổi chưa kham nổi sơn hà, xã tắc to lớn. Vì thế Trẫm không dám ở ngôi vua.Thái sư hãy chọn người tài ba lỗi lạc để thay thế hầu khỏi nhục xã tắc.” Năn nỉ vài ba lần không được, Trần Thủ Độ liền bảo các quan :”Hoàng thượng ở đâu lập triều đình ở đó.”

Nói xong Trần Thủ Độ truyền lệnh xây cung điện trong nú i Yên Tử. Thấy tình thế không ổn Đại Sa Môn tâu với vua:” Xin bệ hạ h ãy về Kinh gấp, chớ  ở lại làm hại núi rừng lão tăng”
(Đại Việt sử ký toàn thư)

Đại Sa Môn  Trúc Lâm tiến đến  cầm tay vua nói tiếp:

 “Phàm làm đấng quân nhân, phải lấy ý  muốn thiên hạ làm ý muốn mình và lấy tâm thiên hạ làm tâm mình. Nay thiên hạ muốn bệ hạ về bệ hạ khơng về sao được? Tuy nhiên ngồi chính trị , bệ hạ chớ quên nghiên cứu nội điển và tham thiền”

Trong tình cảnh bắt buộc, và theo lời khuyên của Đại Sa Môn, Trần Thái Tông bất đắc dĩ phải trở về kinh đô và lại lên ngôi báu. Nhưng ngoài việc trị quốc an dân suốt mười năm, khi nhàn rỗi Vua thưởng tập họp các bậc kỳ đức tham khảo Thiền học. Nhà vua luôn luôn  nghiên cứu các kinh điển Phật giáo thuộc các hệ phái chính, nhà vua còn tham học với các thiền sư Tức Lư, Ứng Thuận , Đại Đăng và Thiên Phong. Vua đã lập viện Tả Nhai và mời Thiên Phong đến để tham vấn đạo Thiền.  Vì thế Vua chịu ảnh hưởng thiền Lâm Tế rất đậm.
 
CHƯƠNG 2: NHỮNG NÉT ĐẸP CỦA PHẬT GIÁO VIỆT NAM  ĐƯỢC KHƠI NGUỒN QUA VĂN THƠ LÝ-TRẦN

2.1 Tinh thần nhập thế ca các v Thin Sư thi Lý –Trần

Có thể nói tinh thần của các vị Thiền sư trong thời Lý –Trần là một hành động tích cực . Nhập thế mà không trụ thế. Hình ảnh con người có thể dung nạp được mình để hòa đồng và vuii vẻ suốt ngày với thiên nhiên là hình ảnh con người mang khát vọng hòa nhập và chế ngự thiên nhiên được thể hiện qua lời thơ thoát phàm bay bổng:”còn một tiếng kêu vang, lạnh cả trời”  . Có thể là một tiếng reo của một người chứng ngộ, thoát khỏi cảnh giới trần thế. Cái kêu vang lạnh ấy phải chăng là tiếng kêu sảng khoái của một tâm hồn khoáng đạt với tư tưởng phá chấp triệt để và với một tinh thần thoái mái tột cùng, chứ không phải là một người suốt ngày cứ câu nệ vaò tín điều một cách cứng ngắc, khô khan. Tiếng kêu đó chính là sự trực cảm tâm linh, là trạng thái chứng ngộ của các Thiền sư. Sự nhập thế tích cực của các Thiền sư thời Lý – Trần đã đưa Phật giáo đến đỉnh cao của sự phồn vinh.

Các nhà sư là những Thiền Sư  đã chiếm một vị trí quan trọng trên chính trường và trên nhiều lĩnh vực khác. Nền văn học Việt Nam trong giai đoạn này là những kho tàng quý báu. Những  áng văn thơ của các Thiền sư đã mở ra một cách nhìn mới mẻ, một không khí lạc quan , yêu đời.

Những áng văn, thơ của các Thiền Sư đã mang đầy chất liệu sống, bởi các Ngài đã hiện hữu trong cuộc sống bằng tuệ đúc và trả về cho chính bản thân cuộc sống bằng sự từ bi. Thơ văn của các vị Thiền Sư mang chất liệu Phật hoá đã len lõi và thấm sâu vào tâm thức của đông đảo quần chúng nhân dân. Phong cách của các Ngài luôn thể hiện bằng sự ung dung, tự tại. Vì thế nên những áng văn của các Ngài rất sinh động nội dung phong phú bao gồm nhiều lĩnh vực khác nhau

2.1.1 Tự lợi
Thông thường chúng ta hiểu tự lợi chỉ mang tính cách cá nhân, mang lại lợi ích cho chính bản thân mình. Tuy nhiên ý nghĩa tự lợi của các vị Thiền sư không phải dừng lại ở nghĩa hẹp như vậy, mà điều muốn nói ở đây chính là sự ngộ nhận chân lý của các Ngài. Các Ngài đã nhận chân được sự vật một cách rốt ráo, nhận rõ chân tướng sự vật bằng thể tánh tịch tịnh vắng lặng. Các nhà sư, vua chúa, thần dân lúc bấy giờ đều thấm nhuần giáo lý nhà Phật cho nên khi đối cảnh thì vẫn sanh tình, nhưng tình ở đây không phải là những tình cảm tầm thường mà là cái đẹp cái hay mang tính thoát tục. Trần Nhân Tông khi viếng cảnh Thiên Trường vào một buổi hoàng hôn đã thốt lên:

Thôn hậu thôn tin đm t yên
Bán vô bán hữu tch dương biên
Mục đng đch lý ngưu quy tn
Bạch l song song phi h đin
 
Dịch nghĩa:
Thôn trước thôn sau ta khói hng
Bóng chiều như có li như không
Mục đng thổi sáo trâu v hết
Cò trắng tng đôi ling xung đng.
                                                                (TVLT- Tập 2- 464)

Với cái nhìn bằng đôi mắt của một bậc giác ngộ, các Thiền sư đã xem cuộc đời vốn là như huyễn, cho nên đối với sự còn mất của vạn vật trong vũ trụ cũng là thường tình. Như Ngài Huyền Quang đã xem sự nở tàn của hoa cúc khoe sắc cùng sương gió bao năm vẫn thế:           

Vương thân vương thế dĩ đô vương
Toạ cu tiên nhiên nht tháp lương
Tuế vãn sơn trung vô lch nht
Cúc hoa khai xứ túc trùng dương
 
Dịch nghĩa:
Quên mình quên hết cuộc tang thương
Ngồi lng đìu hiu mát c giường
m cui trong rng không có lch
Thấy hoa cúc n biết trùng dương
                 (Trích Thiền Sư Việt Nam – 362- HT Thanh Từ)

Và cứ như thế Ngài đã sống an lạc trong núi rừng vắng vẻlàm bạn với trăng sao và Ngài cũng đã đánh tiếng chuông cảnh tĩnh cho những ai còn đắm chìm trong trong mộng để rồi mãi chìm  đắm trong sự khổ đau của cuộc đời. Đối với các Ngài phú quývinh hoa chỉ là giả danh như cây cỏ có rồi lại không
           

Phú quý phù vân trì vị đáo
Quan âm lưu thu cp tương thôi
Hà như tiu n lâm tuyn h
Nhất tháp tùng phong trà nht bôi
 
Dịch nghĩa
Phú quý mây bay tự no xa
Tháng ngày nước chy vi vàng qua
Chi bằng vui thú lâm tuyn n
Giường c thông reo mt chén trà
                           (TVLT- Tập 2- 697)

Cũng như bao người khác, với vẻ ung dung, với đời sống tự tại Trần Nhân Tông đã nhận thức được chân tướng các pháp, của vạn hữu vũ trụ, thấy rõ bộ mặt thật của chính mình tất cả đều không ngoài tự ngã của mình khởi sanh Đối với những người phàm phu bình thường thì sự sanh diệt luôn làm cho mình lo âu sợ hãi, cứ như thế tâm trạng khát khao lo lắng ấy cứ mãi nung nấu trong tâm trí và theo họ mãi mãi. Nhưng với các vị Thiền Sư thì không như vậy, hôm nay và ngày mai chỉ là một hiện tiền sanh khởi, con người sống hay chết đều có nguyên lý nhất định. Thiền Sư Chân Không thì cho rằng
 

Xuân lai xuân khứ nghi xuân tn
Hoa lạc, hoa khai chỉ th xuân
 
Dịch nghĩa:
Xuân đến xuân đi ng xuân tàn
Hoa dù nở rng tiết xuân vn là
                  (TVLT- Tập 1- 697)

Ngài Mãn Giác Thiền Sư cũng biến cuộc đòi thành mùa xuân vĩnh cửu, vẫn thấy xuân đến trăm hoa đua nở, xuân đi thì muôn hoa đều rụng, nhưng thể tánh của hoa vẫn không thay đổi. Hoa ở đây chỉ là cái tướng bên ngoài vì thể tánh còn nên hoa vẫn nở, mặc dù tịch diệt nhưng thể tánh chơn như vẫn còn:

Đừng bo xuân tàn hoa rng hết
Đêm qua sân trước mt cành mai
            (Cáo tật thị chúng- Mãn Giác Thiền Sư)

Thật vậy chân lý chẳng ở đâu xa mà luôn hiện hữu trong cuộc sống hiện tại, chân lý chỉ có một mà đường đi đến chân lý thì muôn vạn nẽo. Nếu biết tĩnh giác và lắng sâu thì chân lý hiển lộ như một vầng trăng sáng, hiện hữu lấp lánh trên mặt nước trong xanh yên tĩnh. Chân lý được thật sự hiển bày chỉ khi nào chúng ta nhận chân được các pháp một cách như thật.

Có thể nói tư tưởng của các vị Thiền Sư trong thời Lý Trần là những tư tưởng độc đáo. Các Ngài đã tự kiềm chế mình và vượt ra ngoài lợi danh, tài sắc để hoà nhập vào cuộc sống bằng hành động mang lợi ích đến cho mọi người. Cho nên với Trần Thái Tông xem nhẹ ngai vàng chỉ như một chiếc giày cỏ có thể vứt bỏ khi nàocũng được, với Trần Nhân Tông cũng thế

Cư trần lc đo th tu duyên
tc sang h khn tc miên
Gia trung hữu bảo hưu tm mích
Đối cnh chi tâm mc vn Thin
 
Dịch nghĩa
đi vui đo mc tu duyên
Hễ đói thì ăn mt ng liền
Trong nhà sẵn ngc tìm đâu na
Đối cnh vô tâm hi chi thin.
                (TVLT- Tập 2- 504) 

Ngay giữa chợ đời mà tuỳ duyên đói ăn, mệt ngủ. Nguồn sống đó chính là chân lý đích thực của cuộc sống chân thặt. Phải chăng sự hiện hữu của những con người mang tính tự giác siêu việt sẽ làm cho cuộc đời tươi đẹp thêm và muôn loài được hạnh phúc hơn. Đó chính là một trong những nét đẹp của Phật giáo qua thơ văn Lý- Trần.

2.1.2 Lợi tha
Như chúng ta đã biết Đức Phật ra đời với mục đích mang đến cho nhân loại nièm an lạc , hạnh phúc .Vậy cho nên nhiệm vụ của những người con Phật là thay Phật dẫn dắt , giáo hĩa chúng sanh đạt đến cuộc sống an vui, giải thốt sau khi Ngài diệt độ.

Thế cho nên hành trang của những người con Phật ở đây chính là trí tuệ và từ bi. Với trí tuệ làm sự nghiệp những người con Phật có thể lên đường đi đến bất cứ nơi nào. Các Thiền sư trong thời Lý –Trần là tiêu biểu cho những con người như vậy

Chính nhờ có trí tuệ siêu việt như vậy mà các Thiền sư đã quán triệt một cách thấu đáo những lời Đức Phật dạy để áp dụng trong công việc trị nước an dân. Có thể nói rằng trong suốt mấy trăm năm trị vì đất nước cả hai triều đại này đã dùng phương pháp đức trị. Phải chăng chính phưong pháp ấy đã nói lên sự bền vững của hai triều đại

Phải nói rằng nhân dân dươí hai triều đại này rất thái bình an lạc. Vơí một tâm niệm là đem lại niềm vuicho muôn dân, đặt vận mệnh đất nước lên hàng đầu, lấy ý dân làm ý chung. Chính sự xả bỏ tự ngã đó cho nên đất nước luôn sống trong cảnh giới hoà bình. Các Ngài hiểu rõ nếu lấy đúc trị dân thì sẽ giải phóng được ý tưởng phân biệt giai cấp, xoá bỏ những thành kiến và tạo được một lối sống bình đẳng trong xã hội.

Nhưng không dừng lại ở việc trị nước an dân, các Thiền sư còn thể hiện sự giải thoát của mình qua những vần thơ trong sáng nhẹ nhàng tự tại. Một lần khi đưa sứ nhà Tống sang sông lúc ngồi trên thuyền Lý Giác thấy hai con ngỗng bơi liền cảm hứng ngâm:

                                                Nga nga lưỡng nga nga
                                                Ngưỡng diện hướng thiên nga

Dịch nghĩa :
                                                Song song ngỗng một đôi
                                                Ngữa mặt ngó lên trời


Lúc đó nhà Sư Đỗ Pháp Thuận làm người chèo đò liền ứng khẩu

                                                Bạch mai phô đầu thuỷ
                                                Hồng trạo bãi thanh ba

Dịch nghĩa :
                                                Lông trắng phơi dòng biếc
                                                Sóng xanh chân hồng bơi
                                                                 ( TVLT- Tập 1- 202)

Chính sự thông thái văn chương ấy đã làm cho sứ nhà Tống thán phục, qua đó chúng ta cũng thấy rằng sự dấn thân đích thực của các nhà sư vào cuộc sống nhưng mà không bị cuộc đời ràng buộc. Trong thời đại Lý – Trần Phật giáo đã gắn liền với sự thăng trầm nhục vinh của đất nước. Sự đóng góp của Thiền sư Vạn Hạnh dưới triều Lý đã thể hiện rõ truyền thống yêu nước của Phật giáo Việt nam. Vua Lý Nhân Tông đã khẳng định:

                                                Vạn Hạnh dung tam tế
                                                Chơn phù cổ sấm xưa
                                                Hương quan danh cổ pháp
                                                Trụ tích vấn vương kỳ

Dịch nghĩa :
                                         Thiền sư học rộng bao la
                                         Giữ mình hợp pháp sấm ra ngoài lời
                                         Quê hương Cổ pháp danh ngời
                                         Tháp bia đứng vững muôn đời Đế đô.
                           (Trích VNPG sử lược –121- HTMật Thể )

            Cả cuộc đời bảo vệ non sông đất nước Vạn Hạnh Thiền sư đã cống hiến cho nền độc lập tự chủ của nước nhà. Tư tưởng hành đạo của Ngài là phụng sự dân tộc trong tinh thần từ bi và trí tuệ:
           

                                                 Thân như điện ảnh hữu hoàn vô
                                                Vạn mộc xuân vinh thu hựu khô
                                                Nhậm vận thịnh suy vô bố uý
                                                Thịnh suy như lộ thảo đầu phô

Dịch nghĩa :
                         Thân như ánh chớp có rồi không
                          Cây cỏ xuân tươi thu não nùng
                         Mặc cuộc thịnh suy đừng sợ hãi
                         Kia kìa ngọn cỏ giọt sương đông.
                                                 ( VNPG sử lược- 121- HT Mật Thể)

 
Cầu giải thoát cho mình nhưng các vị Thiền sư không bao giờ thờ ơ lãnh đạm với xã hội. Thiền không chỉ suốt ngày bĩ gối ngồi thiền ở chốn hang hiểm rừng sâu, mà ngay trong cuộc đời này cũng đã thể hiện được phong cách của quý Ngài.

Nhưng không chỉ dừng lại ở các Thiền sư mà các vua quan hồi đó cũng đã đi vào lòng dân một cách tận tình. Lý Thánh Tông vào một năm trời rét lắm, bảo với các quan hầu cận rằng: “ Trẫm ở trong cung ăn mặc như thế này mà vẫn còn rét lắm, nghĩ những tù phải giam trong ngục phải trói buộc, cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc, vả lại có người xét hỏi chưa xong, gian ngay chưa rõ, lỡ rét quá mà chết thì thật là thương lắm” (Việt nam Phật giáo sử lược- HT Thích Mật Thể)

Nói rồi Ngài truyền lấy chăn chiếu cho tù nhân nằm và cho ăn ngày hai buổi đầy đủ.

Lại một hôm Thánh Tông ra ngự ở điện Thiện Khánh xét án, lúc đó có Động Thiên công chúa đứng hầu một bên. Ngài chỉ công chúa mà bảo với các quan rằng “Lòng trẫm yêu dân như yêu con trâm vậy, hiềm vì trăm họ ngu dại mà làm càn phải tội, trẫm lấy làm thương lắm, vậy từ nay về sau tội gì cũng giảm nhẹ bớt đi (Trích VNPG sử lược – Trần Trọng Kim)

Như trên đã nói mọi hành vi, mọi ứng xử trong xã hội với mục đích là đem lại cuộc sống an lạc cho muôn dân. Điều đó đã thể hiện qua tinh thần nhập thế tích cực của các nhà Sư và chính tinh thần đó đã thể hiện được cái đẹp Phật giáo qua những tác phẩm văn thơ Lý – Trần.

2.2 Nét đẹp của Phật giáo được thể hiện qua các thi kệ của những vị Thiền Sư

2.2.1 Ý nghĩa cái đẹp và cái bi
Cái đẹp luôn gắn liền với đời sống cá nhân vừa chịu ảnh hưởng sâu đậm của văn hoá  và sự phát triển của dân tộc. Cái đẹp trong đời sống xã hội gắn bó chặt chẽvới cái thiện về mặt đạo đức. Một hành động vô đạo đức không thể gọi là đẹp. Trái lại một con người với vẻ bên ngoài không đẹp nhưng cũng có thể coi là một con người đẹp chân chính.

Thật ra thì sự hiện diện của con người trên trái đất, trong cuộc sống đã là một tác phẩm nghệ thuật tuỵêt đẹp rồi. Bởi nếu không có con người aisẽ làm chủ trong cuộc sống? Ai là người cảm thọ nghệ thuật? Ai là người cảm nhận được vẻ đẹp của thiên nhiên? Cuộc đời cần có những con người như vậy mới hưởng thụ được hết những cái đẹp của sự sống.

Tuy nhiên theo quan điểm của Phật giáo cái đẹp chỉ là những gì rất mong manh. Đối vơí Phật giáo thì trước cái đẹp không vui mừng hân hoan, trước cái bi không tỏ ra chán nản.Con  người vốn đã là đẹp rồi, đẹp cả tâm hồn lẫn thể xác. Nhưng cái đẹp hoàn thiện nhất là khi con người biết hoà quyện nhất là khi con ngừơi biết hoà quyện giữa thể xác và tâm hồn vào nhau.

Nhưng cuộc đời bao giờ cũng vậy trong hạnh phúc luôn có mầm móng của sự đau khổ. Cũng như giữa cái đẹp ấy vẫn có cái bi ngự trị, nhưng cái bi ở đây không phải là bi lụy, yến thế, không phải là những tấn bi kịch của cuộc đời, cái bi ở đây thể hiện tư tưởng của những cái đẹp.

Theo cái nhìn của Phật giáo thì cái bi được thấy ở đây là “ khổ đế”. Đây chính là một nét đặc sắc của Phật giáo, nó vừa là một năng lực cảm nhận  thể nghiệm tâm linh, vừa là một năng lực tư tưởngvề sự giải phóng nhân sinh. Thái tử Tất Đạt Đa tuy sống trong cung vàng điện ngọc nhưng cũng đã cảm nhận sự sa đoạ của chính tầng lớp thống trị. Chính cái bi đó đã trở thành nghệ thuật chiến đấu cho các phong trào. Nó đã phản ảnh được thực tại của một xã hội tối tăm lúc bấy giờ. Không thể ngồi nhìn cái bi phát triển, chúng ta phải chuyển hoá, dung hoà cái bi ấy thành một tác phẩm nghệ thuật tuyệt đẹp. Vì đằng sau cái ấy chính là những cái gì đẹp đẽ nhất, cao thượng nhất. Có như vậy mới đúng nghĩa với cái bi của Phật giáo.

2.2.2 Nét đẹp của Phật giáo được thể hiện qua một số thi kệ của các Thiền Sư
Thơ văn Lý – Trần đã tập trung thể hiện caí đẹp của con người. Nó không chỉ là sản phẩm tinh thần cuả một bộ phận nhà tu hành theo giaó lý nhà Phật mà là sản phẩm tinh thần của toàn xã hội bây giờ. Thơ văn thơì ấy đã phản ánh sâu sắc và tập trung vào đời sống  tâm hồn của con người.

 Có lẽ nét đặc trưng độc đáo nhất của Phật giáo Việt nam mà Phật giáo trên thế giới không thể có được đó là tinh thần nhập thế của các vị Thiền sư, vừa một lúc mà hoàn thành hai nhiệm vụ, có khi là một ông vua trị nước an dân có khi là một Thiền sư phục vụ cho đạo pháp dân tộc. Chính cái tư tưởng tự tại ấy mà thơ văn của các vị Thiền sư toát lên một cái gì đó rất giải thoát:

                             Thân như điện ảnh hữu hoàn vô
                            Vạn mộc xuân vinh thu hựu khô
                            Nhậm vận thịnh suy vô bố uý
                            Thịnh suy như lộ thảo đầu phô.

Dịch nghĩa :
                              Thân như ánh chớp có rồi không
                               Cây cỏ xuân tươi thu não nùng
                              Mặc cuộc thịnh suy đừng sợ hãi
                              Kia kìa ngọn cỏ giọt sương đông.
                                 ( VNPG sử lược –121-HT Thích Mật Thể)           

Thực tại của cuộc sống là như vậy, sanh diệt chỉ là ánh chớp mà thôi. Sự thăng trầm thịnh suy của cuộc đời cũng chỉ là làn sóng nhấp nhô trên biển, hay chỉ là hạt sương lấp lánh trên ngọn cỏ có rồi lại không. Nhưng đối với các vị thiền sư trước sự sanh diệt đổi thay không khởi lên một ý niệm nào cả, bởi vạn vật không phải là một bản thể nhất định. Cho nên chúng ta có thể tìm thấy muôn vàn cái đẹp đang tiềm ẩn trong con người và trong thế giới tự nhiên. Trong cái xấu xa luôn tiềm ẩn cái chân thường của nó. Điều này trong thơ văn Lý –Trần các vị Thiền sư đã khéo vận dụng những phương tiện để xây dựng nên cái đẹp và những giá trị cao cả của nó.

 Về mặt vật chất cái đẹp luôn  tuỳ thuộc vào thời gian là hữu hạn, nhưng đối với lĩnh vực tâm linh thì theo cách hiểu của Phật giáo là vĩnh cửu, là vô thường nếu muốn nhận thức đúng hay đánh giá đúng thì nhận thức, đánh giá ấy phải phù hợp với chân lý.

Đấy là nói chung về nội dung chúng ta thấy thơ văn của các vị Thiền sư toát lên một cái gì đó rất tự tại, không sợ hãi trước sự đổi thay của cuộc đời. Còn về mặt nghệ thuật thì cũng thật tuyệt vời, vì các Ngài đã biết chủ động sáng tạo các bài thơ để phù hợp với thời thế. Những bài thơ thấm đựơm tinh thần giác ngộ của các Thiền sư.

Thử nhìn lại những bài thơ bài sấm đã mang đậm chất Phật giáo với những lời lẽ uyên thâm các vị  đã ỉ tìm sâu vào thực chất tâm linh của con người. Quay trở lại với Mãn Giác Thiền Sư chúg ta thấy Ngài đã làm nổi bật nét đẹp về sự an định của chính mình trước sự sống chết qua bài “ Cáo tật thị chúng”

                                                Xuân khứ bách hoa lạc
                                                Xuân đáo bách hoa khai
                                                Sự trục nhãn tiền khứ
                                                Lão tòng đầu thượng lai
                                                Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận
                                                Đình tiền tạc dạ nhứt chi mai.

Dịch nghĩa :
                                 Xuân đi trăm hoa rụng
                                 Xuân dến trăm hoa nở
                                Trước mắt đời diễn biến
                                 Trên đầu già đến nơi
                                  Đừng nói xuân tàn hoa rụng hết
                                 Đêm qua sân trước một cành mai.
                          ( VNPG sử luận Tập 1- 238 –Nguyễn Lang)

 
Với một phong thái tự tại tuyệt đỉnh, vừa là Thiền sư vừa là thi nhân, vừa là một nghệ sỹ… đã cho chúng ta thấy sự đến đi vô thường của vạn vật. Thật ra đây là một bài kệ Ngài Mãn Giác đoc cho các đệ tử nghe trước lúc thị tịch:

Xuân đi trăm hoa rụng
Xuân đến trăm hoa nở
Trước mắt đời diễn biến
Trên đầu già đến nơi

Đây là những câu thơ nói lên một chân lý một quy luật hiển nhiên của cuộc sống trong đó vạn sự vạn vật luôn luôn biến động chuyển đổi không ngừng Đó là lẽ vô thường của cuộc đời.

Hai câu sau với hình ảnh cành mai kỳ diệu vẫn trổ hoa trong buổi xuân tàn lá rụng.Thật là sinh động khi đứng trước bờ vực thẳm của sự sống chết mà có ý thức tự tại, xem cái chết chỉ như sự đến đi của mùa xuân mà không hề tỏ ra sợ hãi.

 Bài “Cáo tật thị chúng” đã vượt qua tính chất suy tưởng thuần tuý của triết học để trở thành thi ca. Hấp thụ cái ngôn ngữ sơ khai hình tượng trời đất, nó đã trở thành bài thơ toàn bích. Không hề dụng công nhưng bài kệ đa õlà cấu trúc ngôn ngữ cực kỳ tinh diệu. Nó làm cho con người vượt ra khỏi sự sanh tử, đồng thời thổi một luồng gió  mát vào những trái tim biết yêu đời, yêu ngưòi cho dù hiện thực cuộc đời còn có lúc khổ đau.

Đây là một tác phẩm tuyệt tác của một vị Thiền sư đã chứng đạo,  dẫu trong sanh tử khổ đau niết bàn hạnh phúc vẫn luôn có mặt. Nét đặc sắc trong văn thơ Lý – Trần là những thi phẩm nói về thiền. Thông thường người ta cho rằng thơ của các vị Thiền sư thường là khô khan, nhưng thực tế những bài thơ của các vị Thiền sư đầy chất lãng mạn, mang tính thẩm mỹ rất cao, dễ làm xúc động lòng người. Cho dù chỉ một bông hoa, một cành mai trong cảnh đông tàn, một con thuyền hư ảo trên sông nước lạnh lùng, một ánh trăng lấp lánh giữa trời đêm … bấy nhiêu đó cũng tạo nên một hình ảnh đẹp, sinh động trong thơ thiền:

                                                Trước mắt đời diễn biến
                                                Trên đầu già đến nơi

Thịnh suy còn mất, vô thường luôn biến đổi không ngừng, nhưng thơ văn của các vị Thiền sư không dừng lại nhìn sự biến đổi mà bi quan chán nản.

“Cáo tật thị chúng” tỏ ra một sức sống mãnh liệt,kỳ diệu một sự nhạy cảm trước thiên nhiên tươi mát và sinh động đang vươn lên, biểu hiện một tư tưởng lạc quan, yêu đời, yêu cuộc sống. Trong cái tàn lụi vẫn nảy sinh mầm sự sống của mùa xuân bất tận. Bài thơ đã đưa đến một sự hài hoà giữa nhà thơ với thiên nhiên. Cành hoa vẫn trổ hoa và toả hương thơm ngào ngạt. Dẫu đã bao thời gian đi qua, bài thơ vẫn sống mãi trong lòng của mọi người. Những Thiền sư đã khuất bóng nhưng hình ảnh và tư tưởng của các Ngài vẫn luôn còn mãi với thời gian. Đó chính là cái đẹp vĩnh hằng của Phật giáo.

Nhưng không dừng lại ở đó. Ta có thể tìm thấy tinh thần hư vô qua bài thị tịch của Ngộ Ấn Thiền sư:

               Diệu tánh hư vô bất khả kham
               Hư vô tâm ngộ đắc hoà nan
               Ngọc phần sơn thượng sắc thường nhuận
               Liên phát vô trung thấp vị cam

 
Dịch nghĩa :
                    Diệu tánh hư vô chẳng thể bàn
                   Tâm ngộ hư vô khó thể kham
                    Ngọc thêu trên núi sắc thường nhuận
                   Sen nở tronglò màu vẫn tươi.
                                     ( VHLT-Bản dịch Ngô Tất Tố)

 
Nếu nhìn theo cái nhìn của một nhà Phật học thì bài thơ mang giá trị thẩm mỹ rất cao 

                                                Trên núi ngọc thêu màu vẫn nhuận
                                                Trong lò sen nở sắc vẫn tươi.

Đây là hai câu thơ tuyệt đẹp trong bài. Cái đẹp ở đây không phải là hiện tượng đứng yên mà nó luôn luôn biến đổi, còn gì đẹp và cao quý hơn khi ngọc bị đốt cháy mà sắc màu vẫn nhuận. Hoa sen tuy ở trong lò nhưng vẫn giữ được sắc tươi của hoa. Điều này muốn nói lên rằng mặc dù ở giữa chốn trần gian nhưng tư tưởng của các vị Thiền sư không bao giờ bị đắm nhiễm, hoa sen tuy mọc lên giữa bùn lầy nhưng hương hoa vẫn thơm ngát “ gần bùn nhưng chẳng hôi tanh mùi bùn”.

Cái hoà điệu “ trong lò sen nở màu vẫn tươi” ấy hoà quyện vào nhau tạo nên một bức tranh hài hoà tự tại giữa cuộc đời. Nội dung của những bài thơ thiền chứa đựng tính triết học rất cao. Tôn giáo là sự tự tại của tâm hồn, một con người đắc đạo bình thản trước cái chết, tự tại trước mọi lẽ sanh tử.
 
CHƯƠNG 3: SỰ DUNG HOÀ CÁC HỆ TƯ TƯỞNG QUA THỜI ĐẠI LÝ – TRẦN

3.1 Vài nét khái quát về tư tưởng của các Tôn giáo
Vấn đề tôn giáo trong quá trình tồn tại và phát triển có ảnh hưởng sâu sắc đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và là một trong những vấn đề nhạy cảm ở nhiều dân tộc quốc gia. Ở Việt nam vấn đề tôn giáo đã ảnh hưởng đến đời sống tâm linh của con người.

Việt nam vốn là một dân tộc có tín ngưỡng đa thần, lại có vị trí thuận lợi cho việc tiếp thu hai nền văn minh ở Phương Đông. Đó là hai nền văn minh của Aán Độ và Trung Hoa. Nhìn chung nhân dân ta chịu ảnh hưởng sâu đậm nền văn minh Đông Phương, điều này có liên quan đến đặc điểm, tín ngưỡng tôn giáo ở nước ta.

Đất nước Việt nam vốn là nơi tập trung của nhiều dân tộc, lại có sự pha hợp của nhiều dòng máu nên nhu cầu tâm linh cũng rất đa dạng và phong phú. Cách đây hàng ngàn năm với nền văn hoá Đông Sơn người Việt đã hình thành Nhà nước Văn Lang sau đó là Aâu Lạc. Trong quá trình Nam tiến người Việt lại tiếp nhận các nền văn hoá như Chăm Pa, Phù Nam, Chân Lạp, Khơ Me… Trong quá trình mở mang bờ cõi một mặt vừa khẳng định nền văn hoá dân tộc, mặt khác tiếp nhận nền văn minh mới đã làm cho tín ngưỡng tôn giáo Việt nam trở nên phong phú hơn.

Như chúng ta đã biết dân tộc ta là một dân tộc có tinh thần dân chủ và sống phóng khoáng cho nên ngay sau khi các Tôn giáo hội nhập vào Việt nam cha ông ta đã biết mở cửa đón nhận những tinh hoa của các hệ tư tưởng ấy. Chọn lọc dung hoà và biến chúng thành cái riêng của mình phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh sống của mình.

Trong quá trình hình thành, tồn tại và phát triển của các Tôn giáo nói chung và từng Tôn giáo cụ thể nói riêng, các Tôn giáo ít nhiều đều có sự bảo lưu, kế thừa và tác động lẫn nhau qua thời gian và không gian.

3.1.1  Nho giáo
Người đầu tiên khởi xướng học thuyết Nho giáo là Khổng Tử (511- 497 BC). Ông sống vào thời Xuân Thu (khoảng thế kỷ thứ II trước công nguyên). Ông xuất thân trong một gia đình quan lại, bố là Thức Lương Ngột, mẹ là Nhan Thị, tương truyền ông bà không có con trai, nên bà Nhan Thị đi cầu tự ở Ni Khâu và sinh ra Khổng Tử.

Cũng như bất cứ một học thuyết khác, Khổng giáo xuất hiện trong một bối cảnh lịch sử cụ thể đó là xã hội thời Đông Châu. Lúc này sự thống trị của nhà Châu suy yếu, các nước chư hầu đua nhau tranh bá đồ vương, chiến tranh xảy ra liên miên, người dân bị  lâm vào cảnh giết chóc khốn cùng. Trước tình hình đó khiến các nhà tư tưởng đương thời đề ra đường lối trị nước an dân khác nhau mong lập lại kỷ cương xã hội.

Khổng giáo truyền vào Việt nam trong một hoàn cảnh lịch sử đặc biệt như thế. Người Hán xâm lược Việt nam và đưa nho học vào. Lúc đầu Nho học là cái xa lạ với tư tưởng và tập tục của người Việt nam, về sau nó được bản địa hoá và trở thành một nhu cầu tinh thần của người Việt. Cũng như những tôn giáo khác tư tưởng của Nho giáo cũng đã làm lợi ích cho dân tộc. Với Khổng Tử việc trị nước giúp dân trước hết là phải tu sửa bản thân mình. Cho nên chủ trương “ tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ” là việc cần thiết.

3.1.2 Phật giáo
Phật giáo ra đời cách đây hơn hai ngàn năm trăm năm, Người sáng lập ra Đạo Phật là thái tử Tất Đạt Đa con của vua Tịnh Phạn và hoàng hậu Ma Gia ở xứ Ma Kiệt Đà thuộcẤn Độ.

Xã hội Aán Độ vào những năm Cổ đại là một xã hội đa thần giáo. Lúc bấy giờ xã hội Aán Độ chia làm ra bốn giai cấp: Bà la môn, Sát đế lợi, Phệ xá và Thủ đà la. Từ những sự phân chia như vậy cho nên Aán Độ lúc bấy giờ rất phức tạp, người dân mất lòng tin vì vậy họ mong ước có một vị cứu tinh ra đời để ổn định cuộc sống, xoá bỏ những giai cấp bất công đem lại an lạc hạnh phúc cho mọi ngưòi.

Trước bối cảnh xã hội như vậy thái tử Tất Đạt Đa đã từ bỏ cung điện nguy nga, bỏ vợ đẹp con ngoan lên đường tìm cầu chân lý nhằm đáp ứng bao sự mong ước của nhân loại. Sau một thời gian tìm cầu cuối cùng Ngài đã giác ngộ thành Phật hiệu là Thích Ca Mâu Ni, người đã tìm ra con đường đưa chúng sanh thoát khổ.

Cũng như bao tôn giáo khác Đ ạo Phật truyền vào Việt nam từ rất sớm (vào khoảng thế kỷ thứ hai trước công nguyên). Ngay từ khi mới truyền vào Đạo Phật đã được dân chúng đón nhận một cách nồng nhiệt, bởi giáo lý của Đạo Phật rất phù hợp với căn cơ của mợi ngưòi, xa dịu những nỗi đau của nhân loại. Điều đặc biệt là giáo lý của Ngài rất gần gũi với mọi người, bình đẳng ai cũng có thể thực hành và có thể tu chứng. Ngài nói rằng “Tất cả chúng sanh ai cũng có Phật tánh, mọi người đều có thể thành Phật”.

3.1.3 Đạo giáo
Không như Phật giáo hay Khổng giáo. Đạo giáo dược hình thành trong phong trào nông dân khởi nghĩa vùng nam Trung Hoa vào khoảng thế kỷ thứ II sau công ngưyên. Thuyết này do Lão Tử đề xướng và được Trang Tử hoàn thiện. Đạo giaó không phải xuất phát từ Việt nam mà là từ Trung Quốc truyền sang. Gọi là đạo vì Đạo là khái niệm chung của tôn giáo này. Người sáng lập ra đạo này là Lão Tử và tác phẩm kinh điển được coi trong nhất là cuốn “Đạo đức kinh”.

Cùng với Nho giáo, Đạo giáo lúc đầu theo chân người Trung Quốc xâm lược truyền vào Việt nam. Như chúng ta đã biết người Việt nam chúng ta có tín ngưỡng đa thần giáo, cho nên ngay sau hki truyền vào Việt nam Đạo giáo đã có tác dụng trong đời sống tâm linh của người con Việt. Giáo lý Đạo giáo chủ yếu dựa vào tư tưởng của Lão Tử, chỉ tập trung các khái niệm về đạo đức và thuyết vô vi. Việc thái thú Giao chỉ lúc bấy giờ là Sy Nhiếp đã sử dụng Đạo sỹ vào việc cầu cúng và trị bệnh cho cho mình đã ảnh hưởng đến tín ngưỡng nhân gian. Cũng như Nho giáo những hành động những mục đích của Đạo giáo là mang lại sự lợi ích an lạc cho muôn dân.

Nhìn chung lại mỗi tôn giáo đều có những nét đặc thù riêng của nó. Nếu như Phật giáo chủ trương mang lại nguồn an lạc, hạnh phúc cho nhân loại. Đạo giáo đã có tác dụng trong đời sống tâm linh vủa người dân Việt thì Khổng giáo cũng có nhiệm vụ lập lại kỷ cương của đời sống xã hội. Song thử nhìn lại các Tôn giáo chúng ta thấy rằng giáo lý của nhà Phật có một cái gì đó rất đẹp, biết uyển chuyển trong mọi tình huống, nhập thế chứ không yếm thếm, không bi quan. Giáo lý của Đức Phật là giáo lý bình đẳng tự mọi người tu tự mọi người chứng. Chính nhờ những nét đặc thù đó mà Đạo Phật vẫn tồn tại mãi với thời gian cho dù đất nước đã trãi qua bao cuộc thịnh suy.

Và hơn ai hết các vị Thiền sư là những người tiếp nhận giáo lý một cách rốt ráo nhất. Các Ngài đã biết đón nhận và kết hợp các tư ưởng của Phật giáo, Lão giáo và Khổng giáo để đi đến một sự thống nhất là “ Tam giáo đồng nguyên”. Đó là một trong những nét đẹp của Phật giáo Lý – Trần với tinh thần dung hoà các hệ tư tưởng.

3.2 Sự dung hòa các hệ tư tưởng
Như đã nói ở trên dân tộc ta vốn có tinh thần dân chủ và sống phóng khoáng, cho nên ngay sau khi tam giáo vào cha ông ta đã biết đón nhận một cách tích cực và biến chúng thành cái riêng của mình để phù hợp với điều kiện sống.

Nhìn lại các tác phẩm văn thơ Lý – Trần chúng ta nhận thấy được tinh tần dung hoà này, có khi là sự phân công hợp tác giữa Phật và Thánh. Có khi là sự kết hợp uyển chuyển giữa Lão và Phật để đi đến sự thống nhất là Tam giáo đồng nguyên. Như chúng ta đã biết tư tưởng Phật giáo không phải là tư tưởng khép kín trong khuôn khổ trong quy tắc giáo điều, mà nó là một tư tưởng mở đầy khai phóng. Nhờ tư tưởng ấy mà các nhà tu hành có cái nhìn thông thái, khoan dung độ lượng, có thái độ sống cởi mở, phá chấp. Các Ngài vào đời một cách tự tại mà không bị ràng buộc nhập thế mà không trụ thế.

Đối với nhận thức của các Thiền sư là người tu hành không phải là vào chùa cạo đầu tu tập, suốt ngày chỉ bó gối ngồi thiền, mà ngay giữa cuộc đời này họ cũng có thể thiền định và chứng ngộ. Có những vị Thiền sư vào đời giúp vua trị nước an dân mà vẫn hoàn thành nhiệm vụ tu hành của mình. Khi xã hội cần đến thì họ vẫn xông pha trong cuộc đời, xong nhiệm vụ thì trở lại nếp sống an vui thanh tịnh. Nhưng không dừng lại ở các nhà Sư, tính chất rộng mở này còn được thể hiện qua nhữngnhệ thống, kiến trúc của nhà chùa. Nhà chùa không chỉ là chốn nghiêm trang thờ tự mà là nơi luôn mở rộng cửa đón khách thập phương tới lễ bái, chiêm ngưỡng. Tính chất rộng mở ấy còn được thể hiện qua hệ thống triết lý, kinh điển với chủ trương bình đẳng không phân biệt. Đấy chính là cái đẹp của sự dung hoà. Sự dung hoà kết hợp của các hệ tư tưởng ấy được thể hiện qua những yếu tố sau.

3.2.1 Sự hợp tác giữa Phật giáo và Nho giáo
Như trên đã trình bày Nho học truyền vào Việt nam trong một hoàn cảnh lịch sử đặc biệt. Nếu như giáo lý Đức Phật cần thiết cho đem lại an lạc cho nhân loại thì tư sự tưởng Nho gia cũng cần thiết cho sự duy trì lập lại kỷ cương xã hội. Mặc dù mỗi tôn giáo đều có những quan miệm những tư duy khác nhau nhưng mục đích chung đều hướng con người đến cái thiện. Tinh thần hoà đồng đó được Ngài Trí Thiền nói lên rằng: “Như Lai lục ngữ cái bất hư thiết. Thế gian chư pháp hư huyễn, bất thực, duy đạo vi thực, ngã phụ hà cầu. Thả Nho gia khả thuyết quân thần phụ tử chi đạo. Phật pháp khả ngôn Bồ tát, Thanh văn chi công. Nhị giáo chi thù, kỳ qui tắc nhất. Nhiên, xuất sanh tử, nhược đoạn hữu vô kế phi Thích tắc bất năng dã”.

Dịch: “ Mấy lời nói kia phải chăng là lời nói suông, các pháp trên thế gian này đều là hư ảo, không thực chỉ có Đạo mới là thực ta còn cần gì nữa. Vả lại Nho gia thì nói đạo vua tôi, cha con. Phật pháp thì nói về công đức của các bậc Thanh văn, Bồ tát. Hai giáo tuy là khác nhưng mà quy chung về chỉ có một mối mà thôi. Nhưng muốn vượt qua khỏi sanh tử, dứt khỏi sự cố chấp, hữu vô ngoài Phật giáo ra thì không thể được”.

Phật giáo và Nho giáo tuy khác nhau ở chỗ thục hiện giáo lý nhưng đều cần thiết như nhau. Sự phân biệt chẳng qua là phân công để giúp ích cho đời.

3.2.2 Phật giáo và Lão giáo kết hợp đan xen
Nếu như giữa Phật giáo và Nho giáo có sự phân công hợp tác với nhau như vậy thì ở Phật giáo và Lão giáo cũng không ngoài mục đích ấy. Trong văn thơ Lý –Trần đã có những tư tưởng siêu thoát nữa Phật, nữa Lão như bài “ Phóng cuồng ngâm” của Tuệ Trung.

Đạo giáo là một tôn giáo có mặt ở Việt nam từ thời kỳ đầu phong kiến. Đạo giáo đã cùng với Phật giáo, Nho giáo tạo nên quan niệm “ Tam giáo đồng ngưyên” và đã chi phối đời sống nhân dân. Đạo giáo đã ảnh hưởng lớn đến đời sống tâm linh của dân tộc. Đạo giáo tồn tại ở Việt nam hàng ngàn năm và có một vai tròxã hội nhất định. Vai trò ấy khác nhau ở mỗi con người nhìn nhận, có người xem đó là phương pháp dưỡng sinh điều khí… làm cho con người khoẻ mạnh. Cũng như tư tưởng của các nhà Nho tư tưởng Lão Trang mang yếu tố thoát tục, nếu như những áng thơ, văn của các Thiền sư, các nhà Nho mang tư tưởng an nhàn, tự tại thì thơ của Lão Trang cũng chứa đựng sự phiêu diêu lãng đãng.Những bài thơ của nhóm Bích Động chủ yếu là những dòng thơ ca ngợi thú vui nhàn tản, ca ngợi thiên nhiên, xem thường lợi danh đó vừa mang ý vị Thiền đạo, vừa đầy tính phóng khoáng của Lão Trang.

Ngoài ra sự kết hợp giữa Phật giáo – Lão giáo được thể hiện rõ nét qua những câu chuyện lưu truyền mà sau này được chép lại trong “ Lĩnh Nam Chích Quái”. Qua những câu chuyện ấy chúng ta thấy tính chất thần bí lộ rõ nét ảnh hưởng của Phật giáo Mật Tông hay Đạo giáo phù phép. Câu chuyện Man Nương nói về nguồn gốc Phật giáo truyền vào Việt nam. Việc Sư Gìa La Đồ Lê cho Man Nương chiếc gậy thần làm nước suối tuôn chảy cứu dân khỏi nạn hạn hán, việc đặt tên cho bốn tượng Phật tạc từ cây có dấu đứa bé con của Man Nương là Pháp Vân , P háp Lôi, Pháp Điện, Pháp Vũ là kết quả Phật hoá các hiện tượng thiên nhiên, bởi mây, sấm, chớp, mưa vốn được người Việt sùng tín. Việc Man Nương dùng gậy đụng vào cây, cây trôi giạt vào bờ trong lúc hàng trăm người mà không kéo đuợc cho thấy rằng những người tin theo Phật vẫn còn mang trong mình niềm tin về huyết thống.

Và vơí một Từ Đạo Hạnh, Nguyễn Minh Không với pháp thuật phù chú dùng pháp thuật để trị bịnh để hoá kiếp đầu thai đã thể hiện được đức tin của quần chúng, chứng tỏ sức mạnh uy linh thần bí Tất cả do sự kết hợp giữa Phật giáo, Nho và Lão giáo, sự kết hợp ấy đã đưa đến một sự thống nhất. Đó chính là quan niệm tam giáo đồng nguyên.

3.2.3 Quan niệm về “Tam giáo đồng nguyên”
Lịch sử tư tưởng Việt nam có thể được chia làm ba thời đại, bắt đầu từ thời Đinh, Lê, Lý. Trong thời đại này các Thiền sư đã có tinh thần dân tộc sâu sắc, ra phò vua giúp nước như Đỗ Pháp Thuận, Khuông Việt Quốc Sư… luôn nhiệt tâm với vận mệnh độc lập của quốc gia. Ngay từ buổi đầu dựng nước các Ngài đã đem cái lý xuất thế từ bi để nhập thế, kết hợp với các nhà chính trị thực tiễn khai quốc quân thần. Đời Lý (1010- 1225) Triều đình đã bắt đầu lập ra trường Quốc học với chủ trương “ Tam giáo đồng nguyên” dựa trên đạo của Lão Tử , Chân Như của Phật và Thái Cực của Nho giáo.

Trãi qua suốt hơn bốn trăm năm cái quan điểm tam giáo ấy đã làm nguồn sinh lực cho toàn dân, từ vua quan cho đến bình dân thứ sĩ đều tin dùng ba giáo lý ấy, phối hợp dung hoà mật thiết vơí nhau. Chính nhờ sự thống nhất tư tuởng ấy của toàn quân toàn dân mà dân tộc ta nhất trí vào một ý thức phong phú ấy, Triều đại Lý –Trần là một trong những triều đại oanh liệt nhất của ngàn năm lịch sử dân tộc. Một trong những khuôn mặt tiêu biểu thể hiện tam giáo đồng nguyên là Tuệ Trung Thượng. Ông là một Thiền sư nổi tiếng đời Trần, là học trò của Tiêu Dao Thiền Sư ( một nhà Thiền học nổi tiếng cuối đời Lý). Ở Tuệ Trung có một cá tính phong phú, một nhân cách trong sáng, phóng khoáng trong cái thế giới thanh tịnh của Phật giáo. Nhờ vào tinh thần cởi mở, tinh thần sống phóng khoáng đó mà Thiền của Tuệ Trung có sức dung hợp lớn lao, sống động đầy biến hoá. Bài thơ “ Phóng Cuồng Ngâm” có thể nói lên đầy đủ phong cách của Ông, trong đó tổng hợp được tinh thần của Nho giáo với thái độ “ dụng tắc hành, xã tắc tàng”. Với Phật yếu chỉ giải thoát “ Phật tức tâm, tâm tức Phật”. Lão Tử vơí phong cách phóng khoáng “ tiêu dao tự tại”. Sự tổng hợp này tạo thành ánh sáng hoà quang đồng trần trong cuộc sống của Ông.

Trời đất liếc trông hề sao thênh thang
Chống gậy chơi rong hề phương ngoại phương
Hoặc cao cao hề mây đỉnh núi
Hoặc sâu sâu hề nước trùng dương .

Thử nhìn sâu vào ý nghĩa nội dung của đoạn thơ này ta thấy rằng đây là cái ý thức khai phóng, cảm thông cái ý thức vũ trụ hoà, trời đất thì thênh thang, núi cao chót vót, nước sâu mênh mông và Tuệ Trung dạo chơi trong cái thế giới vô biên ấy.

Tuy nhiên vấn đề “ Tam giáo đồng nguyên” không phải là hiện tượng riêng ở Việt nam mà là hiện tượng chung của lịch sử tư tưởng Đ ông Á. Ở Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên đều đã xuất hiện tư tưởng này. Xét về cội nguồn thì tư tưởng này xuất hiện từ thời Nguỵ – Tấn Nam Bắc triều ở Trung Quốc, mà người đầu tiên đề xướng là Đạo sỹ Cát Hồng (284- 364 ) sau đó đuợc Đạo sỹ Đào Hoằng Cảnh sống vào đời Tề – Lương phát triển thêm. Từ đó quan niệm này đã ảnh hưởng đến các nhà Sư của phái Hoa Nghiêm Tông, phái Thiền Tông , Lâm Tế Nghĩa Huyền và Tào Động.

Tư tưởng này còn ảnh hưởng đến các nhà Nho, các Nho sỹ đời Tống như Chu Tôn Di, tuy bề ngoài phê phán Lão , Phật nhưng thực chất bên trong lại kế thừa và phát huy tư tưởng của Phật –Lão. Oâng là người chủ trương tam giáo dung hoà. Lịch sử Trung Quốc có ghi lại những câu chuyện về sự dung hợp này, như câu chuyện Phó Ông một nhân vật sống vào thời Nam Bắc Triều đầu đội mũ nhà Nho, thân mang áo nhà Sư, chân đi dép Đạo sỹ. Điều đó cho chúng ta thấy rằng Phật – Lão – Nho tuy ba mà một.

Tính dung hợp hoà đồng đan xen của các Tôn giáo còn được thể hiện qua cách thờ phụng của dân tộc ta trên điện thờ, chùa chiền, miếu phủ... Nếu như ở chùa Đức Phật Thích Ca ngồi cao nhất thì ở đền miếu ngôi vị ấy lại dành cho Khổng Tử, còn ở điện phủ thì lại dành cho Thánh Thượng Lão Quân hoặc Đức Bà Liễu Hạnh.

Nhưng không như ở các nước phương Tây, ở Việt nam không có một Tôn giáo nào thống trị trong suốt chiều dài lịch sử, mà vị trí vai trò các Tôn giáo đều khác nhau qua từng giai đoạn lịch sử cụ thể. Cho dù xã hội này cho Tôn giáo này là quốc giáo nhưng không đối đầu với các tôn giáo khác , bởi bản chất con người Việt nam cởi mở bao dung chứ không kỳ thị khép kín. Dù là tư tưởng gì , tôn giáo nào người Việt nam đều chấp nhận miễn là không vi phạm đến lợi ích quốc gia và không làm tổn thương đến đời sống của dân tộc. Mặc dù Lão-Phật – Nho được truyền vào nước ta từ những quốc gia khác nhau và được truyền từ rất sớm nhưng nó vẫn song song tồn tại và phát triển bên nhau cùng chung sống với tín ngưỡng bản địa mà không xảy ra việc kỳ thị tôn giáo là bởi sự biết kết hợp dung hoà các hệ tư tưởng của cha ông ta một cách uyển chuyển.

Đó là nói về lịch sử tôn giáo còn đối với cơ sở văn hoá thì Phật giáo phải học qua chữ Hán và nền văn hoá của Hán. Ở miền Bắc thì tíêp nhận nền văn hoá của Nho gia. Ở miền Nam thì tiếp thu tư tưởng của Lão Tử cho nên các nhà Sư đọc kinh sách bằng văn bản bằng chữ Hán thì phải tiếp nhận nền văn hoá của Hán.

Từ những tư tưởng này mà văn thơ Phật giáo Lý- Trần đã thể hiện được tinh thần hoà hợp một cách chặt chẽ. Sở dĩ ở Việt nam chưa có sự xung đột tam giáo như ở Trung Quốc là nhờ sự biết hợp một cách uyển chuyển linh hoạt của người Việt.

Lý tưởng của những ngưòi con có trí tuệ là một lý tưởng siêu việt, biết đem sức mạnh và tài sức ra giúp nước cứu dân, con ngưoì ấy khi xong công việc thì lại tiêu dao tự tại như bậc “ chí nhân vô kỷ, thần nhân vô công , thánh nhân vô danh” như Trang Tử. Lật lại những trang sử ngày xưa cũng đã cho chúng ta thấy rằng các nhà Sư thời nhà Lý tuy là người sùng mộ Đạo Phật nhưng cũng rất chú trọng đến Nho gia. Chính vua Lý Nhân Tông đã thiết lập khoa cử đầu tiên để chọn nhân tài (năm 1075) và cũng là người mở ra trường đại học đầu tiên (Quốc Tử Giám –1076) để đào tạo trí thức Nho học nhằm giúp ích cho nước nhà.

Bên cạnh đó Trần Thái Tông cũng đưa ra phương pháp sám hối của nhà Phật trong Khoá Hư Lục chẳng khác nào pháp tu tỉnh của Nho gia “ Nhất nhật tam tỉnh ngô thân” (mỗi ngày phải xét mình ba lần).

Tóm lại văn thơ Lý – Trần có được tinh thần trên là nhờ sự phóng khoáng, cởi mở dân chủ nên dân tộc ta sẵn sàng mở cửa tiếp nhận, chọn lọc những tinh hoa tư tưởng nước ngoài để rồi dung hợp chúng với nhau tạo nên nét độc đáo riêng cho chính mình.

Tín ngưỡng tôn giáo ở Việt nam là sự hoà đồng đan xen, bổ sung nương tựa vào nhau vừa có cái “Duy lý” của Nho giáo lại có cái “Tâm linh” của Phật giáo và cùng với cái “Siêu việt” của Lão Trang. Tất cả được hoà quyện vào nhau tạo nên một bản sắc tuyệt đẹp của văn hoá dân tộc Vịêt.

Nói chung tư tưởng “Tam giáo đồng nguyên” là tư tưởng hoà đồng của ba tư tưởng Nho –Phật –Lão. Tuệ Trung là một nhà thiền học chịu ảnh hưởng lớn lao của tư tưởng này. Ông đã đem tư tưởng thiền hoà hợp tuyệt đối với Đạo và Nho. Ông luôn luôn chú trọng đến sự đốn ngộ, là tư tưởng Thiền cốt lõi của thiền Vô Ngôn Thông để nâng cao đạo Huyền Viễn của Lão Trang. Ông lại khéo hoà hợp tư tưởng Nho gia để góp phần tạo nên tư tưởng hợp nhất. Sự hoà đồng này ta có thể tìm thấy trong các bài như  “ Dưỡng Chân Trang”, “ Ngẫu Tác”, “ Thị Học”, “ Mê Ngộ Bất Dị”... cũng mang đậm các yếu tố Lão Trang. Chính nhờ tinh thần dung hoà tam giáo ấy mà các nhà Sư có cái nhìn thông đạt, có sự điều chỉnh uốn nắn làm cho những quan điểm cố chấp ngày trước trở thành những quan điểm có tính khai thông, mở mang trí tuệ, bồi dưỡng tâm linh sống một cuộc đời tiêu dao tự tại.
 
KẾT LUẬN
“Cái đẹp luôn là mục tiêu sống của con người. Một sinh thể đẹp khi qua nó chúng ta thấy cuộc sống đúng theo như những khái niệm của chúng ta. Một sự vật được gọi là đẹp khi nó thể hiện cuộc sống hoặc làm cho chúng ta nghĩ đến cuộc sống” (Đại cương mỹ học –59- Tạ Văn Thành).

Cho nên tìm lại những cái đẹp của Phật giáo trong văn thơ Lý – Trần cũng là phương pháp tìm lại tâm hồn dân tộc, tìm về những cội nguồn trong sáng của dân tộc. Mỗi quốc gia, mỗi dân tộc đều có những nét đặc thù riêng về văn chương. Ở thời đại Lý –Trần cũng thế, qua văn thơ Lý- Trần chúng ta thấy được sự thể nhập của Phật giáo Việt nam. Con đường sáng tạo từ những thế kỷ đầu công nguyên đã tạo nên một bản chất văn hoá tư tưởng thuần tuý dân tộc, đậm đà tình yêu nhân dân.

Bên cạnh đó thơ văn Lý- Trần đã thể hiện cái cao cả, cái hùng của một thời đại dài trong lịch sử Việt nam. Với khả năng sáng tạo phong phú đa dạng, bằng hình thức nghệ thuật độc đáo các thi sỹ đã thể hiện được tâm hồn, tinh thần , tâm lý của con ngưòi trong thời đại. Với những bài thơ ngắn gọn, những ngôn ngữ tuy đơn sơ nhưng súc tích, thấu tình đạt lý tình cảm siêu việt mà thanh nhã phóng khoáng đẹp đẽ nhưng ý chí rất cao cả. Những áng thơ của thời Lý – Trần là những cảm xúc xuất phát từ đáy lòng. Hình ảnh thiên nhiên, mây gió trong thơ không những nói lên được nét đẹp của những cảm xúc bài thơ mà còn nói lên được những cái đẹp qua những hành động của chính tác giả. Điều đó tạo cho người đọc có một sự đồng cảm sâu sắc. Những lời trong thơ văn Lý – Trần là những lời lẽ thoáng đạt, thoát tục. Chính vì lẽ đó mà văn thơ Lý –Trần đã đưa con người đến một sự an lạc tuyệt vời, một niềm hạnh phúc vô biên ngay trong cuộc sống hiện tại này.       
    
Ngoài ra văn thơ Lý –Trần là một trong những chiến công có công trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước. Vì thế mỗi bài văn bài thơ chứa đựng những tâm hồn nhân đạo mang đậm nét nghệ thuật, nó đã ghi lại tâm hồn của những con người với những đức tính đáng quý. Đồng thời cái đẹp được thể hiện trong văn thơ Lý –Trần mang nét chân thiện mỹ rất sâu sắc. Đó chính là tình yêu nước yêu dân tộc, hình ảnh những ông vua luôn quan tâm đến đời sống của muôn dân, lấy ý muốn dân làm ý muốn chung của dân tộc, xem ngai vàng chỉ như một chiếc giày rách có thể vứt bỏ lúc nào cũng được thì thử hỏi còn hình ảnh nào đẹp hơn thế nữa.

Văn thơ Lý- Trần được hình thành và phát triển ụ nhờ lực lượng sáng tác là những nhà sư với thể loại phong phú, nội dung súc tích đa giọng , đa sắc thái thể hiện rõ bản sắc dân tộc đậm tính nhân văn và giàu lòng yêu nước. Nếu như yêu nước và nhân đạo là hai nội dung cảm hứng chủ yếu của văn học Việt nam thì văn thơ Phật giáo Lý- Trần là một trong những bộ phận văn học có vai trò ít nhiều góp phần việc đặt nền móng cho hai nội dung cảm hứng trên.           

Một nét đẹp nữa của thơ văn Lý –Trần chính là những bài thơ mang đậm nét trữ tình chứ không khô khan, không bi quan yếm thế. Chính nhũng phong cách sống, những hành động của các Thiền sư đã thể hiện rõ nét trong những lời thơ và phải chăng những cái đó đã góp phần hình thành nên những cái đẹp của Phật giáo Việt nam trong thời đại Lý –Trần.

 Văn thơ Phật giáo Lý- Trần có những đặc điểm rất riêng. Nhờ những đặc điểm rất riêng này mà trãi qua bao thời gian nó vẫn tồn tại phát triển và hấp dẫn bao thế hệ. Và cũng chính nhờ những bản sắc rất riêng ấy mà thơ văn Lý –Trần đã tạo nên một dấu ấn khó phai mờ và không thể lẫn lộn với các bộ phận văn học khác trong lịch sử văn chương Việt nam, góp phần hình thành nên một nền văn học đa giọng điệu đa sắc thái.

Đã qua rồi một thời hoàng kim của dân tộc nói chung và của Phật giáo Lý- Trần nói riêng, nhưng dư âm vẫn còn vang vọng mãi. Triều đại Lý –Trần đã làm xua tan đi những đám mây mờ để mở ra một bầu trời quang đãng hơn của sự ấm no hạnh phúc cho muôn dân. Cuộc sống nhân dân thời bấy giờ được bao bởi ánh sáng trí tuệ của các vị Thiền sư, các bậc vua quan sáng suốt. Thơ văn Lý –Trần mãi mãi là một dấu ấn, một điểm son tươi đẹp trong dòng văn học Phật giáo và văn học dân tộc Việt nam.  

Giảng sư

Nghe nhiều

Kết nối

Tổng số truy cập
Thông tin: 48.416
Pháp Âm: 28.393
Đang truy cập
Hôm qua: 6205
Tổng truy cập: 964.727
Số người đang online: 149

Các tin khác

PHÁP ÂM NỔI BẬT

Giảng sư Xem tất cả

hosting gia re , web gia re tron goi , thiet ke web tron goi tai ho chi minh, binh duong, vung tau, ha noi, ca nuoc , thiet ke web tron goi gia re