chuabuuchau.com.vn,chuabuuchau, chua buu chau, chùa bửu châu, chua buu chau cu chi

Những điểm khác biệt giữa tư tưởng Ấn Độ giáo và Phật giáo

Hình ảnh có liên quan

DẪN NHẬP

1. Giới thiệu khái quát và lý do chọn đề tài

Nền đạo học phương đông đã dâng tặng cho nhân loại một kho tàng tri thức vô tận về vũ trụ và nhân sinh. Trong mấy ngàn năm qua, nền đạo học này đã và đang cống hiến cho nhân loại nhiều bài học vô giá về đạo đức, về triết lý nhân sinh…. và nó như suối nguồn tuôn chảy bất tận vào hàng triệu triệu trái tim con người trên khắp thế giới. Phương đông cũng là nơi cho ra đời nhiều tôn giáo nhất như Phật Giáo, Ấn độ giáo, Đạo giáo, Khổng giáo, Hồi giáo….

Nền đạo học ấy đã và đang ảnh hưởng sâu sắc đến xã hội. Như Sử gia người Pháp Y.Michelet (1798-1874) đã hết lời ca ngợi: “Ở phương tây cái gì cũng chật hẹp. Hy lạp nhỏ bé làm cho tôi ngột ngạt. Xứ Do Thái khô khan làm cho tôi khó thở. Hãy để cho tôi hướng về châu Á cao cả và phương đông thâm trầm trong giây lát. Chính nơi đó đã phát sinh ra bài thơ vĩ đại của tôi, mênh mang như Ấn Độ Dương ngập tràn ánh nắng mặt trời rực rỡ, tốt lành… tạo nên không khí thái hòa và tình thương vô bờ bến ngay giữa những cảnh tượng xung đột”.

Nói đến phương đông không thể không nhắc đến Ấn Độ. Ấn Độ là một trong những cái nôi của nền triết học phương đông. Và cũng chính nơi đây đã khai sinh ra nhiều trường phái triết học và tôn giáo lớn trên thế giới “một tiểu vũ trụ của các tôn giáo và các nền triết học”. Nói đến Ấn Độ người ta liền nghĩ ngay đến Phật giáo và Ấn Độ giáo. Đây là hai tôn giáo lớn của Ấn độ nói riêng và của nhân loại nói chung. Mặc dù  ra đời cách đây hơn mấy nghìn năm, trải qua biết bao thăng trầm lịch sử, sự nghiệt ngã của dòng thời gian…nhưng nó vẫn luôn mang tính thực tiễn cao và có thể đương đầu với mọi vấn đề của xã hội hiện đại; Như nhà vật lý học nổi tiếng người Đức Albert Einstein (1879-1955) đã nói về Phật giáo: “Nếu có một tôn giáo nào đương đầu với các nhu cầu của khoa học hiện đại thì đó là Phật Giáo hay tôn giáo của tương lai sẽ là tôn giáo toàn cầu vượt lên mọi thần linh giáo điều và thần học. Tôn giáo ấy phải bao quát cả phương diện tự nhiên lẫn siêu nhiên đặt trên căn bản của ý thức đạo lý phát sinh từ kinh nghiệm tổng thể gồm mọi phương diện trên. Trong cái nhất thể đầy ý nghĩa đó chỉ có Đạo Phật đáp ứng đủ các điều kiện đó”.

Có một điều chúng ta không thể phủ nhận là Ấn Độ giáo và Phật giáo đều ra đời tại Ấn độ nhưng về tư tưởng cũng như về giáo pháp có nhiều điểm khác biệt. Với mong muốn nghiên cứu về những điểm khác biệt ấy nên người viết  mạnh dạn chọn đề tài “Những điểm khác biệt giữa tư tưởng Ấn Độ giáo và Phật giáo” làm luận văn tốt nghiệp của mình. Có thể nói đây là đề tài mới mẽ mà Giáo sư Minh Chi gợi ý và hướng dẫn. Với luận văn này, Người viết chỉ xem đây như là một công việc tự nghiên cứu, tìm hiểu cho chính bản thân mình và có thể chia sẻ một phần nào đó cho những ai muốn tiếp cận với hai tôn giáo ấy. Tuy nhiên, sự nỗ lực cũng có giới hạn, cho nên luận văn này không sao tránh khỏi những khuyết điểm , ngưỡng mong các bậc thiện tri thức từ bi chỉ giáo.

2. Giới hạn đề tài và phương pháp thực hiện

“Những điểm khác biệt giữa tư tưởng Ấn độ giáo và Phật giáo” là một đề tài lớn, có thể viết thành một cuốn sách mấy trăm trang. Vì luận văn tốt nghiệp có độ dài giới hạn nên người viết chỉ giới thiệu đôi nét về sự khác biệt giữa hai tôn giáo ấy mà thôi.

Để thực hiện luận văn, người viết dựa vào kiến thức đã học tập ở trường, cũng như một số tư liệu hiện có để so sánh và đối chiếu. Với đề tài trên, người viết sẽ trình bày khái quát về các quan niệm, tư tưởng của Phật giáo và Ấn độ giáo và sau đó chỉ ra nhưng điểm sai khác.

3.  Bố cục của luận văn

Luận văn này được trình bày theo bố cục sau:

NỘI DUNG

Chương 1: Giới Thiệu Khái Lược Về Ấn Độ Giáo và Phật Giáo

1.1. Bối cảnh xã hội Ấn độ cổ đại
1.2. Ấn độ giáo
1.3. Phật giáo


Chương 2: Những Điểm Khác Biệt Giữa Tư Tưởng Ấn Độ Giáo Và Phật Giáo

2.1. Quan niệm về giá trị  con người
2.2. Quan niệm về Linh Hồn
2.3. Tư tưởng Nghiệp
2.4. Tư tưởng Giải thoát


KẾT LUẬN

NỘI DUNG

CHƯƠNG 1:  GIỚI THIỆU KHÁI LƯỢC VỀ ẤN ĐỘ GIÁO VÀ PHẬT GIÁO

1.1. BỐI CẢNH XÃ HỘI ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI

Ấn độ cổ đại là một bán đảo có diện tích lớn nằm ở miền Nam châu Á. Đông nam và tây nam giáp với Ấn độ dương; Phía bắc là dãy núi Hymalaya và có hai con sông lớn: sông Ấn và  sông Hằng. Từ hai con sông này đã hình thành nên đồng bằng phù sa thuận lợi cho việc trồng trọt, đồng thời cũng là nơi sản sinh ra nền văn hóa cổ xưa và rực rỡ nhất châu Á. Phía nam Ấn độ là cao nguyên Decan, là vùng đất nghèo nàn, cằn cõi, khô hạn, quanh năm nắng nóng.

Do vậy, khí hậu giữa các miền của Ấn độ  không đồng nhất với nhau, có nơi quanh năm tuyết phủ, có nơi lại khô hạn, nắng nóng.

Thời cổ đại, Ấn độ có nhiều dân tộc sinh sống nên có nhiều ngôn ngữ khác nhau. Đông nhất và có vị trí quan trọng là tộc người Dravidiens ở phía nam và người Aryan sống ở phía bắc. Trong quá trình phát triển, có những quốc gia và các dân tộc khác bên ngoài xâm nhập vào Ấn độ rồi định cư như người Ba tư, Hi lạp….Những dân tộc này sống hòa lẫn với nhau xây dựng nên một nền văn minh vĩ đại cho nhân loại, thể hiện qua các mặt sau:

Về kinh tế

Nông nghiệp lúa nước là ngành kinh tế chủ yếu của người Ấn độ cổ đại. Họ biết đắp đê dẫn nước vào ruộng, biết dùng trâu cày và các công cụ bằng đồng….Ngoài ra ngành chăn nuôi cũng phát triển mạnh, các súc vật được nuôi thành từng đàn, từng bầy  như ngựa, dê, lợn, gia cầm…..Vì nhu cầu cuộc sống nên nghề làm đồ gốm, đồ đồng  cũng phát triển; từ đây quan hệ buôn bán, trao đổi xuất hiện ở hình thức sơ khai. Theo đà phát triển của xã hội, nghề thủ công nghiệp đã xuất hiện và gặt hái những thành tựu đáng kể “những thợ thủ công nghiệp đã tụ tập thành những tổ chức đặc biệt kiểu như phường hội. Những nghề thủ công nghiệp phát đạt nhất thời đó là nghề dệt bông, đay, tơ lụa, nghề làm đồ gốm và đồ trang sức”. [10, 25]

Về chính trị

Vào khoảng 1500 đến 1000 năm trước CN, tộc người Aryan đã di cư vào Ấn độ. Lúc đầu họ sinh sống bằng nghề chăn nuôi, du mục. Khi tấn công và chiếm đoạt được nhiều vùng đồng bằng tươi tốt của người Dravidien, họ đã học tập được kỹ thuật canh tác của người dân bản xứ và thay đổi lối sống từ chăn nuôi du mục sang định cư làm ruộng.  Về sau người Aryan tổ chức ra các công xã nông thôn và phân chia ruộng đất cho các thành viên trong công xã. Đứng đầu công xã là xã trưởng và hội đồng bô lão của công xã. Họ vừa là người quản lý công xã, vừa là người đại diện cho công xã giao thiệp với các cấp trên (tù trưởng, sau khi thành lập quốc gia là vua).

Khoảng 1000 đến 600 năm trước CN, thế lực người Aryan bành trướng dẫn đến kinh tế phát triển nhanh chóng, từ đây sự phân hóa giai cấp gay gắt tạo điều kiện hình thành các quốc gia. Như ở miền bắc Ấn độ, thế kỷ thứ VI trước CN có đến mười sáu quốc gia, hùng mạnh nhất là quốc gia Magadha ở hạ lưu sông Hằng.

Về sau, vương triều Magadha bị lật đổ, thành lập nên triều đại Maurya (312 trCN), Asoka đã thống nhất và kiểm soát toàn bộ Ấn độ. Sau khi Asoka mất vương triều này suy sụp và dẫn đến diệt vong vào năm 28 trCN. Ấn độ lại bị ngoại bang xâm lược, mãi đến thế kỷ IV thì mới mới được thống nhất dưới triều Gupta và triều đại Harsa.

Về văn hóa

 Về văn hóa, Ấn độ cổ đại đã thành tựu được một số lãnh vực sau:

- Ngôn ngữ và chữ viết: Khi người Aryan xâm nhập vào Ấn độ họ đã dùng tiếng nói của mình để sáng tác ra bộ Kinh Veda (ngôn ngữ Veda). Đến thế kỷ thứ IV trước công nguyên Panini đã sáng tác ra ngôn ngữ Sanskrit (ngôn ngữ này chỉ sử dụng trong tầng lớp quý tộc). Dân chúng mỗi vùng có một thứ tiếng khác nhau. Do vậy ở Ấn độ có rất nhiều ngôn ngữ bình dân như Pali (ngôn ngữ của Phật Giáo), tiếng Tamin của người Dravidien ở miền Nam Ấn.

- Thiên văn học: Xuất hiện từ thời Veda, họ đã quy định được một tháng gồm ba mươi ngày, một năm gồm có mười hai tháng…. và phỏng đoán được trái đất hình cầu và quay quanh trục của nó. Cuối thế kỷ thứ V trước CN, Thiên văn học đã giải thích được hiện tượng nhật thực, nguyệt thực.

- Toán học: Người Ấn độ đã phát hiện ra chữ số thập phân và hình tượng các chữ số. Đặc biệt là họ đã tính được số Pi khá chính xác, biết được định lý Pitago, biết giải phương trình bậc hai, bậc ba….

- Y học: Người Ấn đã biết chữa bệnh bằng cách dùng các loại cây và các phương pháp trị bệnh đơn giản. Về sau y học ngày càng phát triển, họ đã biết điều trị bệnh lâm sàng một cách thuần thục và chính xác….

- Kiến trúc: Nổi bật nhất là lối kiến trúc xây dựng chùa chiền, đền tháp.

- Văn học: Dân Ấn đã sáng tác ra các áng văn chương bất hủ như bộ Veda và các bộ sử thi: Mahabharata, Ramayana…..đây là niềm tự hào của nền văn hóa Ấn độ.

1.2. ẤN ĐỘ GIÁO

1.2.1. Quá trình hình thành

Hầu hết các nhà nghiên cứu cho rằng Ấn độ giáo được hình thành và hoàn chỉnh qua các giai đoạn sau:

1.2.1.1. Vệ Đà giáo hay Phệ Đà Giáo

Đây là tôn giáo được hình thành sớm nhất ở Ấn độ, cũng là giai đoạn đầu tiên của Ấn Độ giáo. Nó ra đời dựa trên triết lý thánh kinh Vệ Đà.

 Người ta thường gọi tôn giáo này là đa thần giáo, bởi họ thờ cúng rất nhiều các vị thần như: Indra (thần sấm), surya (thần mặt trời), agni (thần lửa),  apas (thần nước),  rudra (thần bão tố), vayu (thần gió)…Có thể nói, hầu hết các hiện tượng thiên nhiên đều có một vị thần trông coi, cai quản. Việc thờ cúng các vị thần linh, đối với dân tộc Ấn độ cổ đại, không phải là mê tín mà do lòng tin tưởng chân thành. Họ cho rằng cúng bái thần linh là lẽ sống, là nhu cầu thiết yếu, cần thiết của con người. Do đó, “Bất cứ việc gì, đối với bản thân, gia đình hay với bộ tộc, hơi động một tí là cúng bái trước đã. Thắng trận, thu được chiến lợi phẩm dù ít hay nhiều, làm lễ cưới vợ, sinh được con cái, mua may bán đắt, gia súc không bệnh tật và sinh đẻ nhiều, mưa nắng điều hòa, mùa màng tươi tốt, trong nhà an vui khoẻ mạnh….nhất nhất đều cúng tế trước để tạ ơn hay kêu cầu rồi sau đó có làm gì thì làm. Hoặc giả là làm điều gì không phải mà ăn năn, sám hối, biết mình phạm tội nên cầu xin thần linh tha thứ đừng giáng tai họa trừng phạt đều đến trước bệ thờ kêu cầu, khấn vái, rồi lựa những bài thánh tán ca xưng tụng công đức từ bi của vị thần mình cầu xin để ca hát”. [15, 31-32]

Qua đây chúng ta thấy được rằng, các vị thần linh có nhiệm vụ chở che và hộ trì mọi người, chuyển họa thành phúc…Do đó, người Ấn cổ đại bao giờ cũng đặt trọn niềm tin của mình vào các vị thần linh.

1.2.1.2. Bà La Môn giáo

Đến những thế kỷ đầu của thiên niên kỷ thứ nhất trước CN, do xã hội phát triển dẫn đến sự bất bình đẳng về giai cấp ngày càng sâu sắc; và dựa trên nền tảng Vệ đà, cũng như các hình thức dân gian… đã tập hợp thành một tôn giáo mới gọi là Bà La Môn. Đây cũng là giai đoạn chuyển bị thứ hai của quá trình hình thành Ấn độả giáo sau này.

Lúc đầu, Bà La Môn giáo phát triển rất mạnh mẽ và có ảnh hưởng rất sâu sắc đối với xã hội Ấn độ cổ đại. Nếu như Vệ đà giáo thờ cúng rất nhiều thần linh thì Bà La Môn giáo chỉ tập trung tôn thờ  ba vị thờ chính yếu như sau:Brahma (Phạm thiên hay Đại Phạm Thiên),Visnu (Tì nữu), Shiva (Thấp bà thiên). Ngoài ra Bà La Môn giáo còn thờ các vị thần khác như thần Agni, thần Indra, thần surya…..và họ cũng sùng bái nhiều loại động vật như voi, khỉ và nhất là bò….

Bà la môn cũng đã góp công thiết lập và duy trì chế độ giai cấp xã hội. Do vậy, xã hội Ấn độ thời bấy giờ được chia ra làm bốn giai cấp: Giai cấp Brahmin (Bà la Môn), giai cấp Kshatriya (Sát đế lợi), giai cấp Vaisya (Vệ xá), giai cấp Sudra (Thủ đà la). Ngoài các giai cấp trên còn có một giai cấp nữa gọi là Paria, là những người nô lệ, cùng khổ.

Để củng cố cũng như  bảo vệ hệ thống giai cấp trên, người Aryan còn tạo ra một bộ luật Manu-đây là bộ luật nghiêm khắc và có rất nhiều điểm cực đoan. Nói về các giai cấp, luật Manu viết: “Vì sự phồn vinh của cả thế giới, từ mồm, tay, đùi và bàn chân của mình (Brahma) đã tạo ra Brahmin, Kshatriya, Vaisya, Sudra” hay:  “Do sinh ra từ bộ phận cao quý nhất của thân thể Brahma, do sinh sớm nhất, do hiểu biết Veda, Bà la môn có quyền là chúa tể của tất cả các tạo vật ấy” [20, 88]. Trong bộ luật này cũng khẳng định: “Bà la môn mười tuổi  và vua một trăm tuổi nên được coi là cha con nhưng trong ấy cha là Bà la môn”. [20, 88]

Vào thời kỳ này có đến sáu phái triết học: Sankhya (Số luận), Yoga (Du già), Vaisesika (Thắng luận), Nyaya (Chánh lý), Mimansa (Di man tát) và Vedanta (Phệ đàn đà). Các phái triết học này được xem thuộc hệ thống của Bà la môn giáo.

Qua đây chúng ta thấy được rằng chế độ giai cấp ở Ấn độ thời bấy giờ thật là nặng nề, khắc khe; nó buộc con người phải sống đúng thân phận của mình và phải tuân thủ theo bộ luật Manu và những gì đạo Bà la môn quy định.

Bà la môn phát triển rộng rãi ở Ấn độ nhưng khi Phật giáo xuất hiện  thì bị suy tàn trong một thời gian dài.

1.2.1.3. Ấn Độ Giáo

Sau một thời gian dài suy vi, đến thế kỷ VII Bà la môn dần dần được chấn hưng trở lại. Sau đó họ bổ sung thêm nhiều vấn đề mới như về đối tượng sùng bái, về kinh điển, về nghi thức tế tự…. Về đối tượng sùng bái, họ tập trung và đề cao ba vị thần : Brahma, shiva và visnu; về kinh điển họ tiến hành biên soạn lại kinh điển như bộ Brahmana (Phạm thư)- bộ này nhầm chú giải và thuyết minh những tinh hoa của Veda. Cũng từ đây các bộ lớn khác như Aranyaka (Lâm trung thư), Upanishad (Áo nghĩa thư) cũng được biên soạn. Thời kỳ này người ta gọi là Ấn độ giáo (hay Bà la môn canh tân). So với Bà la môn, thánh điển Ấn độ giáo có phần khác hơn nhưng nền tảng chung thì vẫn là căn cứ vào bộ Veda và chế độ giai cấp nặng nề, khắt khe của Bà la môn giáo gần như được giữ nguyên.

Nói chung: Ấn độ giáo là một tôn giáo đa thần. Lúc đầu họ thờ cúng rất nhiều vị thần linh, về sau được hệ thống hóa lại chỉ còn có ba vị thần chủ yếu mà thôi. Các bộ thánh điển của tôn giáo này có ảnh hưởng rất lớn đối với đời sống văn hoá xã hội cũng như các tôn giáo được khai sinh sau đó. Điểm đặc biệt của Ấn độ giáo là không có một vị giáo chủ nào sáng lập rõ cả. Sự duy trì và truyền bá của tôn giáo này hoàn toàn phụ thuộc vào các giáo sĩ mà thôi. Có một điều chúng ta không thể phủ nhận, dù Ấn độ giáo không được truyền bá rộng rãi như Phật giáo nhưng ở tại Ấn độ nó có ảnh hưởng rất lớn. Theo số liệu thống kê của các nhà nghiên cứu vào năm 1991 thì ở Ấn độ có tới 83% dân số là tín đồ của Ấn giáo, trong khi đó tín đồ Phật giáo chỉ chiếm 0.76% mà thôi.

1.2.2. Kinh điển của Ấn Độ Giáo

Kinh điển của Ấn độ giáo chủ yếu có ba bộ lớn như sau:

1.2.2.1. Bộ Veda (Vệ đà)

Veda bắt nguồn từ căn ngữ “Vid”, nghĩa là tri thức, kiến thức, hiểu biết. Như vậy Veda là bộ sách của sự hiểu biết, bộ sách về tri thức. Bộ này vốn không do một ai sáng tạo ra cả mà nó là bộ sách được sưu tập và biên soạn lại bằng tiếng Sanskrit vào khoảng từ năm 1000 đến 800 trước CN, được mọi người tôn xưng là “Thánh kinh Veda”. Theo các học giả hiện đại, Veda được sắp xếp theo bốn tập sau:

Bốn tập Samhitas (Sam có nghĩa là cùng với nhau, hita là sắp xếp hay sưu tập), cũng gọi là bốn bộ Veda

Rig Veda (thường được phiên âm là Lê câu vệ đà): Gồm có 1028 bài thánh ca nhằm ca tụng, tán dương các vị thần linh. “Những bài thánh ca này ngoài ý nghĩa tín ngưỡng, nó còn là tác phẩm văn học có giá trị và thông qua đây chúng ta cũng hiểu được về nhân sinh quan và vũ trụ quan của người Ấn độ cổ đại” [27, 11]…Đây là quyển xưa nhất và quan trọng nhất trong bốn quyển Veda.

Sama Veda (Sa ma vệ đà): Gồm có 1549 bài tán ca được trích ra từ Rig Veda kết hợp với một ít bài mới. Nó được coi là “tri thức về các giai điệu ca chầu, cầu nguyện thần linh khi hành lễ”.

Yajur Veda (Da du vệ đà): Bộ này tập hợp những nghi thức khấn vái thần linh và cách bố trí các lễ vật trong khi cúng tế. Có nhiều đoạn trong này được rút ra từ Rig Veda. Tuy nhiên Yajur Veda lại có những đoạn văn xuôi ngắn và một số đoạn tán ca có chung một đề tài.

Atharva Veda (A thát bà vệ đà): Là bộ ghi chép những câu thần chú, ma thuật…dùng để cầu phúc, cầu an, giải hạn, cầu cho mọi người tai họa được tiêu trừ… nhằm đem lại điều may mắn tốt lành cho bản thân, gia đình và xã hội. Mặt khác nó còn có thể gây thương tổn cho kẻ thù, nguyền rủa kẻ thù….

1.2.2.2. Upanishad (Áo nghĩa thư) có ba nghĩa chủ yếu

- Theo Max Muller, Upanishad có nghĩa là lớp học trong rừng, ở đây những người học trò ngồi xung quanh thầy và nghe thầy giảng.

- Theo Deussen, thì Upanishad có nghĩa là giáo lý bí mật, mà người thầy chỉ truyền trao cho một số ít học trò đã được thử thách và lựa chọn.

- Theo Sankara, nhà sớ giải nổi tiếng của tập Upanishad, thì Upanishad có nghĩa là đoạn trừ, tiêu hủy tức là triết lý này đoạn trừ sự si mê, ngu dốt và mở đường cho chánh kiến và giác ngộ, giải thoát.

Upanishad có tổng cộng 180 cuốn, được biên soạn vào cuối thời kỳ Veda. Cho nên nó còn có tên là Vedanta, nghĩa là sự kết thúc của Veda (sự kết thúc ở đây tức là sự hoàn chỉnh, hoàn thiện của tư tưởng Veda)

Nội dung chủ đạo của Upanishad là nhất nguyên và duy tâm

Nhất nguyên là vì các tác giả của Upanishad cho rằng: “Atman là Brahman, ẩn sâu trong con người” [5, 25]. Cũng có nghĩa  bản thể của vũ trụ vạn hữu là cái bí mật của con người và biết được Atman tức cũng biết được Brahman. Mà muốn “hiểu biết về Atman không thể đạt được bởi lý luận. Atman sẽ trở nên dễ dàng lĩnh hội khi được giảng giải bằng cách khác (nhận thức trực giác, hướng nội hay thực nghiệm tâm linh). Bây giờ ngươi đã đạt được sự hiểu biết đó” [8, 100]. Như vậy muốn nhận ra được Atman, chúng ta phải quay về bên trong bằng con đường thực nghiệm tâm linh thì mới có thể thấy được bản chất của con người tức là Atman. Có khi người ta còn đồng nhất Atman với hơi thở.

Duy tâm là vì Atman là cái nằm ẩn sâu bên trong, là cái bản chất của con người, của mỗi chúng sanh, “Atman ẩn dấu sâu kín trong trái tim của vạn vật đang sinh tồn. Người thoát khỏi sự ràng buộc của dục vọng và thế giới vật dục là người thấy được vẻ uy nghiêm của Atman qua sự yên tĩnh của tri giác và trí tuệ, người đó sẽ đạt được tự do từ khổ đau” [8, 103].

Trong Upanishad, chúng ta cũng tìm thấy được những thuyết nghiệp (Karma), luân hồi và các phương pháp thực tập đưa đến giải thoát……. 

1.2.2.3. Bhagavad Gita (Chí Tôn Ca )

Mahabharata là tác phẩm sử thi của Ấn độ nói riêng và của nhân loại nói chung, được xem là cuốn “Bách khoa toàn thư”. Ngạn ngữ Ấn cũng đã khẳng định: “Cái gì không được thấy trong Mahabharata thì cũng không thể thấy được ở Ấn độ”. Bộ sử thi này gồm có 200.000 câu thơ, dài gấp bảy lần tổng số câu của hai bộ sử thi cổ Hy Lạp Iliade và Odyssee cộng lại. Nó được biên soạn vào khoảng năm 500 trước công nguyên, đây là công trình sáng tác tập thể của nhiều thi nhân và trải qua nhiều thế hệ.

Dưới triều đại các vua của Gupta, Bhagavad Gita được bổ sung vào bộ sử thi này và trở thành cuốn VI của toàn tập Mahabharata. Theo một số học giả thì. Bhagavad Gita gồm có 700 câu thơ và được chia thành 18 đoạn.

Bhagavad Gita là bộ thánh điển quan trọng của Ấn độ giáo. Nó không những là tác phẩm văn học có giá trị mà còn cô đúc được hầu như tất cả những nguyên lý chính của đời sống tâm linh ấn độ cổ đại. Nội dung chủ yếu của thánh ca này là trình bày về:

- Con đường tri thức

 “Nhờ ánh sáng của Jnana (tri thức), nhà ngươi sẽ nhận biết Brahma trong chính Atman của mình và ở trong Ta”. [13, 149]

- Con đường của hành động:

“Hành động của ai thoát khỏi dục vọng, được ngọn lửa của tri thức soi sáng, người đó xứng đáng là bậc hiền giả ở đời” [13, 149]

- Con đường của sự sùng tín:

“…..Những ai có lòng thành kính, vọng tưởng đến Ta…..những người đó mới thật là tông đồ mộ đạo, hiện hữu gần nhất bên Ta”. [13, 151]

1.3. PHẬT GIÁO

1.3.1. Quá trình hình thành

Trước khi Phật ra đời, xã hội Ấn độ rơi vào cuộc khủng hoảng trầm trọng về mọi  mặt của đời sống xã hội. Thời kỳ này tầng lớp Bà La Môn được kính trọng, tôn sùng tuyệt đối; bởi họ là những người được coi là có tri thức, có khả năng giảng dạy đạo lý và cúng tế thần linh. Còn giai cấp Sát Đế lợi (vua chúa, tướng lĩnh….) thống trị quốc gia, thâu tóm gần như toàn bộ đất đai. Trong khi đó, các giai cấp dưới phải lao động vất vả, chịu mọi sự khổ cực để cung phụng cho các giai cấp trên. Chính những lý do này khiến cho đời sống xã hội ngày càng nảy sinh mâu thuẫn sâu sắc và dẫn đến sự phản kháng của đông đảo quần chúng nhân dân lao động, đòi quyền tự do, bình đẳng. Cũng chính vào thời điểm này ánh sáng từ bi trí tuệ của Phật giáo đã xuất hiện. “Phật giáo xuất hiện như là sự đáp ứng nhu cầu tinh thần phản kháng xã hội; một mặt nó phản ánh nỗi bất hạnh, đau khổ thực tế của nhân dân Ấn độ; mặt khác nó phản kháng chế độ đẳng cấp nghiệt ngã, chống lại sự áp bức, bất bình đẳng giữa con người. Nó công khai chống lại giáo lý truyền thống của kinh Veda và đạo Bà la môn, bác bỏ uy quyền thần thánh, xây dựng niềm tin vào chính con người”.

Vậy Ai là người khai sáng ra Phật giáo?

Đó chính là Đức Phật Thích Ca Mâu Ni-Người đã khai sáng ra Phật giáo ra đời vào năm 563 trCN tại vườn  Lumbini (Lâm Tỳ Ni), trong thành Kapilavastu (Ca tỳ la vệ) ở gần biên giới Nepan ngày nay. Ngài được đặt tên là Siddhattha (có nghĩa là người được toại nguyện), họ Gotama. Cha là quốc vương suddhodana (Tịnh Phạn) trị vì vương quốc Kapilavastu; mẹ là hoàng hậu Màyà (Ma Gia). Sau khi Siddhattha chào đời được bảy ngày thì hoàng hậu đột ngột qua đời, việc nuôi dưỡng thái tử được giao lại cho em gái là Pajàpati Gotamì.

Thời niên thiếu, thái tử được chăm sóc và dạy dỗ một cách toàn diện cả hai lĩnh vực văn và võ. Không bao lâu Ngài đã tinh thông tất cả, đến nỗi các vị danh sư nổi tiếng phải cúi đầu thán phục. Ngoài sự thông minh, văn võ toàn tài, Thái tử còn được mọi người yêu mến vì sự hiếu thảo, tính khiêm cung và lòng thương người…..

Khi mười sáu tuổi, vâng lời vua cha, thái tử kết hôn với công chúa Yasodhara (Da du đà la)-một người em cô cậu cùng tuổi với Ngài, ít lâu sau công chúa đã hạ sinh một hoàng nam tuấn tú đặt tên Ràhula.

Mặc dù sống trong cung vàng điện ngọc, vợ đẹp con xinh nhưng lúc nào Thái tử cũng trầm ngâm, suy tư nhiều về kiếp sống nhân sinh “chính ta phải chịu cảnh sanh, già, bịnh, chết, phiền não và nhiễm ô”. hay Ngài suy niệm: “Cuộc sống tại gia rất tù túng chật hẹp, là chỗ ẩn náu của bụi trần ô trược”.

Do không chấp nhận chế độ phân biệt chủng tộc, đẳng cấp của xã hội, vì sự khát khao tìm cầu chân lý, nên thái tử Siddhattha từ bỏ tất cả, quyết chí ra đi tìm đạo cứu đời. Trải qua bảy năm tầm sư học đạo, thái tử đã thọ học với các vị danh sư nổi tiếng như Alàràma Kàlamà và Uddaka Ràmaputta và cũng đã kinh qua đời sống tu hành khổ hạnh với năm anh em Kiều Trần Như; nhưng tất cả điều không giải quyết thoả đáng ý nguyện của Ngài. Sau đó Thái tử quyết định   tĩnh toạ dưới gốc cây Tất bát la và thệ nguyện rằng: Nếu như không chứng được đạo Vô thượng bồ đề, thà thịt nát xương tan Ta cũng không rời khỏi chỗ này. Suốt bốn mươi chín ngày đêm suy tư thiền quán, cuối cùng khi sao mai vừa mọc Thái tử hoát nhiên đại ngộ, sạch hết phiền não, chứng được đạo quả Vô thượng Bồ đề hiệu Thích Ca Mâu Ni khi vừa tròn ba mươi lăm tuổi.

Sau khi viên thành đạo quả, Đức Phật liền đem giáo pháp của mình chứng ngộ được truyền bá cho tất cả mọi người. Trước tiên, Ngài dự định hóa độ cho hai vị danh sư Alàrà Kàlamà và Uddaka Ràmaputta. Sau khi thiền quán để xem các vị ấy cư ngụ ở đâu, Phật biết được hai vị ấy vừa mới qua đời. Kế đến Ngài nghĩ đến năm người bạn tu khổ hạnh, và biết họ đang vẫn còn tu tập tại Sarnath (Vườn Nai). Ở đây Ngài đã tuyên dương chánh pháp bằng bài giảng Tứ Diệu Đế. Sau khi nghe pháp năm anh em Kiều Trần Như đều xin quy y và trở thành đệ tử xuất gia đầu tiên của Phật, cũng từ đây Ba ngôi Tam Bảo được hình thành.

Sau đó, Ngài tiếp độ Yasa-con vị thương gia giàu có cùng 54 người bạn của ông trở thành đệ tử xuất gia. Không bao lâu những bậc vua chúa như vua Bimbisara, Pasenadi….những bậc trí thức, đạo đức như uruvela kassapa, nadì kassapa, Gaya kassapa, tôn giả Sariputta, Mogallana, Mahà Kassapa hay các vị tỷ phú thương gia như Anàthpindika, visàkhà….đều lần lượt trở thành đệ tử xuất sắc của ĐứcPhật.

Để hoàn thành hiếu đạo cũng như lợi ích cho hoàng gia, đức Phật trở về quê hương Capilavastu thuyết pháp hóa độ cho vua cha và tiếp độ vô số hoàng thân quốc thích như Ananda, Devadatta, Ràhula, Anuridha….Đặc biệt là Đức Phật õ cho phép di mẫu Pajapati xuất gia làm tỳ kheo ni và cho phép thành lập Ni đoàn.

Khi bước vào tuổi tám mươi, nhận thấy con đường giáo hóa đã viên mãn, đức Phật cùng chúng tỳ kheo du hành về thị trấn Kusinàra, ở đây Ngài đã hóa độ cho vị đệ tử cuối cùng là Subbadra, đồng thời cũng tuyên bố nhập niết bàn. Trước khi từ giã cõi đời, Phật cho phép các tỳ kheo nêu lên những thắc mắc về giáo pháp: “Có nghi ngờ, thắc mắc, phân vân gì liên quan đến Phật, Pháp, Tăng, đến đạo, đến phương pháp, hãy hỏi đi, đừng để sau này hối tiếc”. Và Ngài cũng không quên khuyến khích các đệ tử hãy nổ lực tinh tấn thực hành giáo pháp “Hỡi các đệ tử, Như Lai khuyên các con, các pháp hữu vi đều là vô thường, hãy tận lực, liên tục chuyên cần”. Sau khi Phật nhập diệt, tôn giả Mahà Kassapa đã chủ trì lễ trà tỳ. Xá lợi Phật được chia làm tám phần, được vua quan và Phật tử các nước xây tháp phụng thờ.

Sau khi Phật nhập niết bàn, Phật giáo được các vị đại đệ tử của Ngài truyền bá đi khắp nơi trên xứ Ấn độ. Đặc biệt là vào thế kỷ thứ III trước công nguyên, dưới triều đại của vua Asoka, vị Hoàng đế này có công rất lớn trong sự nghiệp hoằng dương thánh giáo. Asoka gởi các đoàn truyền giáo đi khắp nơi, trong ấy có đại đức Mahinda-con của ông cùng với bốn vị tu sĩ khác được gởi sang Tích Lan truyền bá Phật giáo. Đến thế kỷ thứ II trước công nguyên, vua Kanishaka cũng nhiệt tình ủng hộ Phật giáo. Ông đã ra lệnh cho khắc tam tạng kinh điển lên lá đồng và cho người bảo quản một cách cẩn thận.

Trong quá trình phát triển, để phù hợp với từng thời đại, thích nghi với từng dân tộc, Phật giáo dần dần phân hóa thành hai bộ phái lớn đó là tiểu thừa và đại thừa hay còn gọi là Phật giáo nam truyền và Phật giáo bắc truyền. Mặc dù trên hình thức họ không đồng nhất với nhau về giáo lý cũng như về quan điểm…nhưng mục đích cứu cánh của hai truyền phái này là xiển dương thánh giáo nhằm đem lại lợi ích cho bản thân, tha nhân và xã hội.

Phật giáo nam truyền được truyền bá qua hầu hết các nước đông nam á như Tích lan, Miến điện, Thái lan, Lào, Campuchia, Việt nam….còn Phật giáo bắc truyền thì được truyền bá qua các nước như Trung Quốc, Nhật bản, Triều Tiên….trong đó có Việt nam

Ngày nay, do sự nhiệt tình hoằng pháp của các vị tổ sư nên Phật giáo cũng đã được truyền bá sang các nước như Mỹ, Pháp, Anh, Đức…..

1.3.2. Kinh Điển Cơ Bản Của Phật Giáo

Nói đến kinh điển Phật giáo thì phải đề cập đến Tam Tạng kinh điển

1.3.2.1.Kinh tạng

Sau khi Phật nhập niết bàn, các vị đại đệ tử của Ngài đã đúc kết lời Phật dạy thành năm bộ kinh chủ yếu như sau:

Kinh Trường Bộ: Đây là bộ kinh tập hợp những bài kinh dài do Phật nói gồm có 34 bài kinh, tương đương với Kinh Trường A Hàm thuộc hệ thống Hán tạng.

Kinh Trung Bộ : Đây là bộ kinh tập hợp những bài kinh trung bình gồm có 152 kinh, tương đương với Trung A Hàm thuộc Hán tạng.

Kinh Tăng Chi Bộ: Bộ kinh này được sắp xếp theo pháp số, có mười một chương gồm 171 phẩm, có 2203 bài kinh, tương đương với Tăng Nhất A Hàm thuộc Hán tạng.

Kinh Tương Ưng Bộ: Đây là bộ kinh tập hợp những bài kinh có cùng chung thể loại theo sự tương quan của từng vấn đề, gồm có 7762 bài kinh, tương đương với Kinh Tăng Nhất A Hàm thuộc Hán tạng.

Kinh Tiểu Bộ: Đây là bộ kinh tập hợp những bài kinh ngắn, và không có tương đương trong Hán tạng. Nội dung của kinh này chia làm mười lăm loại sau: kinh Tiểu Tụng, kinh Pháp Cú, kinh Tự Thuyết, Như Thị Ngữ, Kinh Tập, Thiên Cung Sự, Ngạ Quỷ Sự, Trưởng Lão Kệ, Trưởng Lão Ni Kệ, Thí Dụ, Kinh Bổn Sanh, Vô Ngại Giải Đạo, Kinh Phật Chủng Tánh, Sở Hành Tàng, Nghĩa Thích.

1.3.2.2. Luật Tạng: là những giới điều mà Phật đã chế định, về sau được đúc kết thành các bộ  như:

Tứ Phần Luật: Gồm có 60 quyển

Ngũ Phần Luật: Gồm có 30 quyển

Thập Tụng Luật: 60 quyển

Ma ha Tăng Kỳ Luật: Gồm 40 quyển

Căn Bản Nhất Thiết Hữu Bộ Tỳ Nại Da: Gồm 50 quyển

1.3.2.3. Luận Tạng: không phải do Phật trực tiếp nói ra mà là những giải thích về Kinh, Luật do các vị đệ tử sáng tác, gồm có các bộ sau:

Pháp Tập Luận: Bộ này nhằm phân loại, giải thích tất cả pháp

Phân Biệt Luận: Bộ này cũng nhằm phân loại, giai thích tất cả pháp trên, có người cho rằng đây là bộ tục biên của Pháp Tập Luận.

Giới luận: Trình bày về mối quan hệ giữa Uẩn, Xứ và Giới.

Nhân Thi Thiết Luận: Bộ này nhầm thuyết minh về sáu phần: Uẩn, Xứ, Giới, Căn, Đế, Nhân.

Song Luận: Gồm có mười phẩm nhầm nói rõ các mối hỗ tương của các pháp và các mối quan hệ sinh khởi và biến diệt.

Phát Trí Luận: Bộ này nhằm nói rõ mối liên hệ của 122 môn và 24 duyên.

Luận Sự: Gồm có 313 phẩm, 217 luận nhằm đả phá những chấp trước sai lầm của các bộ phái.

Trên đây là những kinh điển căn bản của Phật Giáo, được nói ra từ kim khẩu của Đức Phật hay các vị đệ tử xuất sắc của Ngài. Ngoài ra, sau khi đại thừa Phật Giáo phát triển đã hình thành nên một số bộ Kinh, luận lớn như sau: Bộ Kinh Đại Bát Nhã, Kinh Hoa Nghiêm, Kinh Pháp Hoa, Kinh Duy Ma, Kinh Lăng Già, Kinh Đại Bát Niết Bàn….về luận thì có Bộ Đại Trí Độ Luận, Trung Quán Luận, Thập Nhị Môn Luận, Thành Duy Thức Luận, Du Già Sư Địa Luận….

Nói chung: Phật Giáo là một tôn giáo lớn của nhân loại, do Đức Phật Thích Ca Mâu Ni sáng lập. Dù ra đời cách đây hơn hai mươi thế kỷ, nhưng những lời dạy bất hủ của Phật vẫn còn thiết thực, đã và đang có ảnh hưởng rất lớn đến đời sống văn hóa của châu Á nói riêng và cho toàn nhân loại nói chung.

Chương 2: NHỮNG ĐIỂM KHÁC BIỆT GIỮA TƯ TƯỞNG ẤN ĐỘ GIÁO VÀ PHẬT GIÁO

2.1. QUAN NIỆM VỀ GIÁ TRỊ CON NGƯỜI

2.1.1. Quan niệm về giá trị con người của Ấn độ giáo

Là con người thì ai cũng muốn có được một cuộc sống hạnh phúc trên hai phương diện vật chất và tinh thần. Trong xã hội Ấn độ cổ đại, nhất là vào thời kỳ Bà La Môn Giáo (giai đoạn thứ hai của quá trình hình thành Ấn độ Giáo), không phải người nào cũng có quyền được mong cầu như thế, chỉ  có những tầng lớp thượng lưu, những người của đẳng cấp trên, cụ thể là Bà la môn và Sát đế lợi. Thời kỳ này đạo Bà La Môn phát triển rất mạnh, chiếm địa vị độc tôn trên vũ đài tư tưởng, chi phối gần như toàn bộ đời sống tinh thần của xã hội. Vì để  củng cố thế lực cũng như địa vị ấy nên Bà La Môn đã phân chia xã hội ra làm bốn giai cấp lớn như sau:

Giai cấp Brahmin (Bà la Môn):  Đây là giai cấp cao nhất gồm toàn bộ giới tăng lữ, là những người có khả năng đảm trách tín ngưỡng, lo việc cúng tế, lễ nghi và có quyền thay mặt xã hội giao tiếp với các đấng thần linh.

Giai cấp Kshatriya (Sát đế lợi): Là giai cấp của những người nắm quyền xã hội, thống trị lãnh thổ.

Giai cấp Vaisya (Vệ xá): Gồm các thành phần thương gia, địa chủ…

Giai cấp Sudra (Thủ đà la): Là giai cấp của những người tiện dân, cùng khổ, tôi tớ….

Ngoài các giai cấp trên còn có một giai cấp nữa gọi là Paria, là những người nô lệ, cùng khổ. Họ không được phép sống trong cộng đồng của bốn giai cấp trên, họ chỉ được sống ở những nơi bìa rừng hay ở xa làng xóm. Họ cũng không được phép nói chuyện hoặc quan hệ hôn nhân với các người thuộc giai cấp trên. Hằng ngày những người thuộc giai cấp này làm những việc khó nhọc như thiêu xác người, đổ phân, quét đường….

Nói về sự phân chia giai cấp trong Rig Veda cũng đã khẳng định : giai cấp Bà la môn được sinh ra từ miệng của Brahma, hai tay của Ngài tạo thành đẳng cấp sát đế lợi. Hai bắp đùi của ngài là đẳng cấp Phệ xá. Từ hai bàn chân của Ngài là giai cấp thủ đà la.

Qua đây cho chúng  ta thấy được rằng, Ấn độ giáo quan niệm về giá trị con người hết sức bất công và không có sự bình đẳng. Đây là sự phân biệt chủng tộc, màu da, cũng như về nguồn gốc xuất thân. Những người thuộc giai cấp dưới phải tuân thủ nghiêm ngặt và phải tin tưởng tuyệt đối vào sự an bài này, cụ thể là của những giáo sĩ Bà là môn. Bà là môn sở dĩ được coi là giai cấp tối cao, bởi vì họ là người độc quyền về tri thức. Họ không nhữngỉ giải thích, chú giải các bộ kinh về Veda, dạy dỗ mọi người mà còn có quyền thay mặt mọi người tiếp xúc với các đấng thần linh. Thời bấy giờ không phải ai cũng được học, đọc, hay nghe kinh thánh. Nếu người sudra mà nghe thánh kinh thì tai sẽ bị điếc, bị đổ chì vào. Nếu họ tụng thánh kinh thì sẽ bị cắt lưỡi. Còn người nào học thuộc lòng thánh kinh thì thân thể sẽ bị chặt làm hai. Đạo Bà la môn lúc ấy chỉ là đạo riêng của những người Bà la môn mà thôi, họ không cho bất cứ tầng lớp nào len lỏi vào.

Không những thế, trong quan hệ giao tiếp, hôn nhân cũng được quy định rất chặt chẽ. Những người thuộc giai cấp thấp, nhất là giai cấp Puria không được quyền giao tiếp, sinh hoạt với những người thuộc giai cấp trên. Họ còn cho rằng, nếu người nào thuộc giai cấp Bà la môn không may bị người Paria giẫm lên  cái bóng của mình thì người ấy phải làm lễ tẩy trần bằng cách nhịn ăn, và tắm nước thánh cả ngày hôm đó hay những người thuộc giai cấp thấp muốn đi qua một khu phố hay một khu chợ thì phải báo hiệu cho mọi người biết để tránh xa họ…. Về hôn nhân họ cấm không cho các giai cấp khác nhau kết hôn với nhau. Thậm chí các vương tôn công tử thuộc giai cấp Sát đế lợi không được phép kết hôn với con gái của Bà la môn. Còn nếu người Bà la môn cưới một người vợ thuộc giai cấp sudra thì con cái của họ sinh ra bị giáng xuống đẳng cấp hèn hạ nhất.

Sự phân chia giai cấp này hết sức nghiệt ngã và quá bất công. Nếu ai không may sinh ra trong giai cấp hèn hạ, họ phải chấp nhận số phận đó cho đến khi nhắm mắt lìa đời mà không có cơ hội vươn lên địa vị cao hơn. Sự an bài các giai cấp trên đã làm ảnh hưởng đến quyền lợi của các giai cấp dưới nên gây ra một cuộc phản kháng hết sức dữ dội nhằm đòi lại quyền tự do bình đẳng từ  tay của những người thuộc giai cấp trên đã chèn ép, áp đặt cho họ.

Như vậy, theo Ấn giáo, cụ thể là Bà la môn giáo thì thân phận  con người không được tôn trọng như nhau, những người thuộc giai cấp trên thì được tôn trọng tuyệt đối, còn những người thuộc giai cấp dưới được coi là những kẻ nô lệ. Đời sống vật chất của những người thuộc giai cấp thấp còn chưa đầy đủ, thì làm gì có cơ hội thăng hoa trong đời sống tinh thần. Đây là quan điểm của Ấn giáo về giá trị con người.

2.1.2. Quan điểm của Phật giáo về giá trị con người

Vì nhận ra được cuộc đời là chuổi dài của khổ đau, luôn bị sanh, lão, bệnh, tử chi phối nên thái tử Tất Đạt Đa từ bỏ tất cả cung vàng điện ngọc, vợ đẹp con thơ, quyết chí ra đi tìm đạo cứu đời. Sau khi chứng được quả vị Vô thượng chánh đẳng chánh giác, Đức Phật đã lên đường giáo hóa chúng sinh, mang đến cho xã hội Ấn độ một luồng gió mới, một tư tưởng cách mạng mới. Như chúng ta biết, thời bấy giờ đạo Bà la môn chiếm địa vị độc tôn và họ đã thiết lập ra các giai cấp nhằm tước đoạt mọi quyền sống khiến cho con người rơi vào cảnh lầm than, khổ sở….. Vì lòng từ bi vô hạn cũng như với tuệ giác siêu việt Đức Phật từng bước thiết lập lại xã hội và đưa ra nhiều quan điểm đặc sắc để “chống lại” những tư tưởng tiêu cực và khắt khe của xã hội lúc bấy giờ. Về thân phận con người cũng như nói về các giai cấp, Đức Phật khẳng định: “Không có đẳng cấp trong dòng máu cùng đỏ, không có đẳng cấp trong giọt nước mắt cùng mặn. Một người được coi là quý tộc hay hạ tiện là ở nơi hành vi của họ mà không phải ở đẳng cấp sinh ra”. Như vậy, Phật đã xác định sự bình đẳng giữa người với người, không có ai là quý tộc và cũng không có ai là hạ tiện. Quý tộc hay hạ tiện không phải do nơi giai cấp quy định. Đây là một tư tưởng hết sức mới mẻ, độc đáo và nó được thể hiện rất rõ trong suốt quá trình hoằng dương thánh giáo của Ngài. Đức Phật mở rộng cánh cửa giải thoát nhằm tiếp nhận tất cả mọi người bất kể sang giàu, cao thượng hay hèn hạ…. Do vậy, trong tăng đoàn của Ngài có đủ mọi tầng lớp của xã hội, như Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên thuộc tầng lớp Bà la môn, A Nan thuộc tầng lớp Sát đế lợi, Ưu Ba Li thuộc tầng lớp Thủ đà la…..Đức Phật  nói rõ rằng: “Này các tỳ kheo, các con sông lớn đổ về đại dương thì mất tên trước kia của chúng và chỉ được gọi là đại dương. Cũng vậy, bốn giai cấp Bà la môn, Sát đế lợi, Vệ xá và Thủ đà la xuất gia, từ bỏ gia đình vào Pháp luật này được Như Lai tuyên bố, đều mất danh tánh và dòng dõi trước kia và chỉ còn được xem là Sa môn Thích tử”.

Hơn thế nữa, Đức Phật luôn đề cao giá trị của con người, bất luận là nam hay nữ. Ngài cho rằng ai cũng có thể tu tập và đạt được quả vị giác ngộ giải thoát. Nghĩa là một người cho dù xuất thân từ giai cấp Bà la môn cao quý hay ở những giai cấp thấp, nếu thực hành theo giáo pháp của Ngài thì đều được thưởng thức hương vị thánh đạo, “Này các tỳ kheo, đại dương chỉ có một vị, đó là vị mặn. Cũng vậy, Pháp và Luật của Ta cũng chỉ có một vị, đó là vị giải thoát”.

Điểm đặc biệt nhất là Đức Phật tiếp nhận nữ giới vào trong giáo đoàn. Vì Ngài thấy rõ “người nữ có khả năng thành tựu các đạo và các quả”. Có thể nói đây là một cuộc cách mạng về giới tính đầy tính nhân văn của Phật. Bởi người nữ xưa kia không được trọng đãi, tôn trọng. Đạo Bà la môn xem phụ nữ như là vật sở hữu của nam giới, sinh ra để phục tùng cho nam giới mà thôi và “cuối thời Veda và thời kỳ sử thi, phụ nữ phải chết theo chồng”[30,176].

Còn đạo Jain thì cho rằng “Phụ nữ là ngọn đèn chiếu sáng con đường dẫn đến cánh cửa địa ngục”. Trước khi Phật ra đời, người phụ nữ không được hưởng quyền tự do, bình đẳng nên họ không có cơ hội thăng hoa về đời sống tâm linh của mình. Sau khi Ni đoàn được thành lập, hầu hết các vương phi, công chúa cho đến hàng thứ dân, gái giang hồ….. bất luận ở đẳng cấp nào cũng hưởng được “mùi vị” tự do, bình đẳng ấy. Cũng có rất nhiều cô gái, đáng lẽ mãi mãi bị lãng quên trong bóng tối khổ đau đã tỏ ra xuất sắc và đã thành tựu được giác ngộ giải thoát sau khi nương tựa vào giáo pháp của Như Lai.

Nói chung: Phật giáo nhìn nhận giá trị thật của con người, không phải do sanh ra hay nguồn gốc xuất thân mà quyết định sự cao thượng. Sự cao thượng hay hèn hạ đều phụ thuộc vào hành động, nhân cách của con người. Và Đức Phật cũng khẳng định : Tất cả chúng sinh đều có tánh Phật, có khả năng thành Phật. Đây là điểm khác biệt chủ yếu về giá trị con người giữa Phật giáo và  Ấn giáo

2.2. QUAN ĐIỂM VỀ LINH HỒN

Ngoại trừ Phật giáo, hầu hết các tôn giáo ở Ấn độ đều chấp nhận có một linh hồn bất biến tồn tại trong mỗi con người. Ấn độ giáo cho rằng linh hồn bất biến ấy chính là Atman hay Purusa, Jiva, chính là cái Ta, cái Ngã hay là cái thực thể tuyệt đối trường cửu trong con người. Trong kinh Upanishad  đề cập nhiều ví dụ nói về linh hồn :

Chàndoya Upanishad  nói:

“Này con, nếu có ai chích vào rễ của một cây lớn thì cây sẽ chảy nhựa nhưng cây vẫn sống, thậm chí đốn ngang cây, thì cây vẫn sống, chặt hết đọt cây thì cây vẫn sống trong nó và cây tiếp tục dần dần hút nước và thức ăn từ lòng đất để tiếp tục đâm lá ra cành.

Nhưng nếu linh hồn sống rời bỏ một cành là cành ấy khô héo, rời bỏ hai cành là hai cành khô héo, và nếu rời bỏ cả cây thì cây ấy chết khô.

Giống hệt như vậy đó con trài à ! thân xác này chết, rời bỏ linh hồn sống; nhưng linh hồn thì không chết. Cái bản chất tinh anh nhất trong tất cả mọi vật tồn tại chính là linh hồn. Điều đó thật sự là chân lý”[8, 738]

Như vậy, bản chất linh hồn là vĩnh cửu, vô tận; dù thân xác có bị tiêu hủy nhưng linh hồn vẫn tồn tại từ kiếp này đến kiếp khác “Sau cái chết của thân xác, linh hồn đi về một trạng thái siêu việt khác mà phẩm chất của trạng thái đó được xác định tùy vào hành nghiệp (karma) quá khứ, trong đó bản chất nguyên thủy của tự ngã có thể được khám phá. Nhưng từ tình trạng siêu việt này, Atman có thể quay về thế giới vật chất nếu chưa thành tựu được thực tại tối hậu” [14, 48]

Trong The Bhagavad Gita có đề cập đến sự bất tử , vĩnh cửu của linh hồn:

“Này Ajuna, linh hồn đã hiện thân thì vĩnh cữu, vô hủy diệt, bất khả tri và vô tận chứ không tạm bợ như thân xác. Vậy thì hãy chiến đấu. Kẻ nào có thể cho rằng linh  hồn có thể giết được và kẻ nào có thể cho rằng linh hồn có thể bị giết, cả hai kẻ ấy đều ngu xuẩn. Linh hồn không thể giết được ai và cũng không hề bị giết. Linh hồn không sinh thì không tử. Linh hồn đã hiện hữu sẽ không ngừng hiện hữu. Linh hồn vô sinh, trường tồn vĩnh cửu, dù khi thân xác đã chết, linh hồn vẫn còn tồn tại……binh đao không thể đâm chém được linh hồn, lửa không thể làm khô héo được linh hồn. Linh hồn đã hiện thân không thể bị đâm chém, không bị thiêu hủy, không tan như nước, không khô héo. Linh hồn thường còn, linh hồn truyền sức sống vào vật, linh hồn bất biến, bền bỉ, là bất diệt”. [11,17]

Như vậy, Ấn độ giáo chủ trương có một linh hồn (Atman) bất biến, tồn tại sau khi chết “Atman không sinh ra và cũng không mất đi……khi con người chết nó không chết” [16, 36]. Chính linh hồn này tái sinh vào các cảnh giới khác nhau và chịu sự chi phối của luân hồi.

Phật giáo không chấp nhận quan điểm của Ấn độ giáo về Atman (linh hồn). Theo Phật “ý tưởng về linh hồn, về Ngã là một sự tin tưởng sai lạc, không có thực trong thực tại và nếu tin tưởng như thế sẽ phát sinh những tư tưởng bất thiện về “tôi”, và “của tôi”, dục vọng ích kỷ, kiêu căng ngã mạn, gây ra xung đột giữa cá nhân với cá nhân và giữa dân tộc này với dân tộc khác…” [21, 79]. Do đó, Phật đã tuyên thuyết rằng: tất cả vũ trụ vạn hữu trên thế gian này dù là vật chất hay phi vật chất đều vô ngã do duyên sinh, theo nguyên tắc sau:

“Do cái này có mặt nên cái kia có mặt
Do cái này không có mặt nên cái kia không có mặt
Do cái này sinh nên cái kia sinh
Do cái này diệt nên cái kia diệt”.


Cho dù linh hồn-được hiểu đơn giản là phần phi vật chất trong con người cũng phải do duyên sinh. Đức Phật phân tích một người là tập hợp của năm yếu tố: Sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Trong đó sắc (thuộc vật chất), bốn cái còn lại(thuộc phi vật chất). Nói cách khác, ngũ uẩn là một hợp thể duyên sinh vô ngã, không có cái nào tồn tại vĩnh cữu. Muốn tồn tại được phải nhờ nhân duyên, chẳng hạn như khi thức tồn tại phải nhờ “sắc làm điều kiện, làm đối tượng, sắc làm nơi nương tựa….Thức phát triển, hưng thịnh nhờ sắc. Thức tồn tại nhờ….thọ….tưởng….hành…. Nếu có ai nói tôi sẽ chỉ ra sự ra đi, sự đến, sự sinh, sự diệt của thức biệt lập với sắc, thọ, tưởng, hành thì người ấy đã nói lên một điều không thực” [2].

Trong hệ thống kinh tạng Nikàya, khi nói đến Ngũ Uẩn, Phật thường hỏi các thầy Tỳ kheo: “Sắc này là thường hay vô thường?

Bạch Thế Tôn! Vô thường

Vô thường thì đưa đến khổ hay vui?

Bạch Thế Tôn! Khổ

Cái mà vô thường, khổ thì có hợp lý khi cho rằng cái này là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi?

Bạch Thế Tôn ! Không hợp lý

Tương tự đối với thọ, tưởng, hành, thức…… [2]

Hay có một cách phân tích khác nữa, chia sắc uẩn ra làm bốn yếu tố: địa, thủy, hỏa, phong; tập hợp các yếu tố phi vật chất lại thành một nhóm, gọi là thức. Như bài thơ của thiền sư Đạo Huệ thời Lý:

“Địa, thủy, hỏa, phong, thức
Nguyên lai nhất thiết không
Như vân hoàn tụ tán
Phật nhật chiếu vô cùng….”


“Đất, nước, lửa, gió, thức
Nguyên lai vốn rỗng không
Cũng như mây lúc tụ, lúc tán
Mặt trời Phật chiếu khắp nơi không hạn chế…”


Qua đây cho chúng thấy được linh hồn mà Ấn giáo cho là trường cữu, khi nhìn dưới lăng kính Duyên sinh và qua phân tích về Ngũ Uẩn, Ngũ Đại của Phật thì không còn thấy gì là Ngã, là  Tôi…chỉ là một thực thể vô ngã do nhân duyên nhóm lại mà thành, không có bất cứ cái gì tồn tại độc lập và vĩnh cửu.

Mặt khác, Đức Phật bác bỏ về linh hồn nhằm không muốn cho các đệ tử của Ngài mất thời gian tư biện về những vấn đề siêu hình. Theo Ngài những vấn đề này không liên quan gì đến mục đích phạm hạnh, không có ích trong việc diệt trừ khổ đau, thành tựu chánh trí và chứng ngộ niết bàn. Trong kinh Alagaddùpama Sutta thuộc Majjhimà Nikàya Phật dạy: “......Này các Tỳ kheo, ta không thấy một linh hồn nào mà nếu chấp nhận sẽ không còn phát khởi buồn sầu, bi thương, thống khổ, phiền muộn, đớn đau” [21, 88]

2.3. TƯ TƯỞNG NGHIỆP

Nghiệp tiếng Phạn là Karma, tiếng Pali là Kamma, có nghĩa là hành động hay tạo tác.

Nghiệp là giáo lý quan trọng đối với hầu hết các tôn giáo ở Ấn độ. “Thuyết Karma bắt nguồn từ đâu? Điều này không rõ. Nhưng vào thời Phật thuyết Nghiệp đã được chấp nhận rộng rãi, hầu như tất cả mọi tôn giáo, như là đáp án logic nhất, có sức thuyết phục nhất đối với mọi “bất công”, “sai biệt” trong đời sống con người” [5, 29]

Theo Ấn độ giáo, Nghiệp là “hành động cá nhân, đóng vai trò chủ chốt trong mọi việc, duy trì sự hài hòa vũ trụ, nhưng nó cũng ảnh hưởng quan trọng đến sự liên hệ của một người trong thế giới vật chất và quần thể”[17, 38].

Mặt khác, Nghiệp còn đóng vai trò quan trọng  quyết định số phận của con người và nó là động cơ chính tạo ra vòng luân hồi tái sinh. Trong Chàndogya Upanishad có nói: “Những người khi ở trần gian này biết cư xử tốt, thì rồi cũng nhanh chóng sẽ được sinh ra ở những đẳng cấp cao như giới Brahman, như Kshatriga, hay là như Vaisya. Nhưng những kẻ ở trần gian này hành động, làm việc tồi tệ, độc ác… thì kiếp sau họ sẽ được sinh ra như sự độc ác mà họ đã cư xử, sinh ra làm con chó, con heo, hoặc làm giới Chandala (hạng người thấp kém nhất của xã hội, dạng thối tha, bị xã hội ruồng rẫy)” [8, 714]

Đối với Phật giáo, Đức Phật cũng đã sử dụng thuyết Nghiệp ấy. Bởi vì trong giáo lý của Phật nói đến Nghiệp rất nhiều. Nghiệp còn “có một ý nghĩa trọng yếu đối với nhân sinh quan Phật giáo, nếu không có nó thì không thể nào thuyết minh được những hình tướng nhân sinh, thậm chí không thể nói rõ chỗ quy hướng của lý tưởng nhân sinh” [24, 174].

Mặc dù Phật tiếp thu tư tưởng Nghiệp ấy nhưng chính Đức Phật đã giải thích tận tường và trình bày đầy đủ về giáo pháp cao siêu ấy, hay “việc làm cho thâm diệu và phát triển quy luật Nghiệp báo là công trình của riêng Ngài, chứng tỏ Ngài là một tư tưởng gia đầy sáng tạo tân kỳ và một nhà tâm lý tinh tế”.

Điểm sáng tạo và khác biệt thứ nhất là: Phật đã trình bày Nghiệp hết sức rõ ràng và nhấn mạnh tầm quan trọng của Tác ý, hay tâm, trong khi đó Ấn độ giáo chỉ nói chung chung và không rõ ràng.

Đức Phật suy xét: “Nếu một hành động đều phải góp phần tạo nên sự hiện hữu trong một kiếp tương lai sau bao giờ cũng đầy đau khổ, thì sẽ không thể nào thoát khỏi hiện hữu và khổ sầu. Vì không ai tránh khỏi hành động. Do đó yếu tố quyết định cuộc đời tương lai của cá nhân cùng đặc tính của nó không thể tìm được trong hành vi ấy mà phải nằm trong động lực thúc đẩy hành vi ấy” [22, 320-321]

Qua đây cho chúng ta thấy rằng thuyết Nghiệp của Phật, chú trọng đến động lực thúc đẩy, điều khiển hành vi bên trong, đó chính là tác ý. Trong kinh Phật cũng thường khẳng định: “Này hỡi các Tỳ Kheo, Như Lai xác định rằng, chính tác ý là nghiệp” [23, 341]. Theo Phật  thì có ba nghiệp căn bản là: Thân nghiệp, khẩu nghiệp và ý nghiệp, trong ấy ý nghiệp là quan trọng nhất. Có thể nói: Nó là đầu mối của mọi tội lỗi và nó cũng có công nhất trong tiến trình giác ngộ, giải thoát của con người (công vi thủ, tội vi khôi). Hay trong kinh Pháp Cú 1, 2 Phật dạy:

“Ý dẫn đầu các pháp
Ý làm chủ tạo tác
Nếu với ý ô nhiễm
Nói lên hay hành động
Khổ não bước theo sau
Như xe chân vật kéo”.

“Ý dẫn đầu các pháp
Ý làm chủ, ý tạo
Nếu với ý thanh tịnh
Nói lên hay hành động
An lạc bước theo sau
Như bóng không rời hình”
[4, 11- 12]


Như vậy, Nghiệp theo quan điểm của Phật giáo là hành động có dụng tâm, có tác ý. Bất cứ một hành động nào có dụng tâm, tác ý đều gọi là Nghiệp cả.

Mặt khác, Phật giáo còn nói rõ và chia ra Nghiệp ra thành nhiều loại như sau:

 Phân loại theo tên gọi:

- Thiện nghiệp: Tư duy và hành động về các điều lành, có lợi cho ta và người; như thực hành ngũ giới, thập thiện…

- Ác nghiệp: Tư duy và hành động về các điều ác, có hại cho mình và người, như làm những điều trái ngược với ngũ giới, thập thiện…

Phân loại theo công tác:

- Sanh nghiệp: Nghiệp chi phối đến sự thọ sanh của đời sau, thường là sát na sau cùng trước khi chết.

- Trì nghiệp: Là nghiệp đi theo hổ trợ cho sanh nghiệp đến lúc mạng chung.

- Chướng nghiệp: Là nghiệp làm yếu đi, chậm trễ hay dừng lại sự kết thành của sanh nghiệp, nó trái với trì nghiệp.

- Đoạn nghiệp: Là nghiệp tiêu diệt năng lực của sanh nghiệp.

Phân loại theo thời gian:

- Hiện nghiệp: Là nghiệp trổ quả trong hiện tại.

- Hậu nghiệp: Là nghiệp trổ quả trong tương lai.

- Vô hạn định nghiệp: Là nghiệp trổ quả chưa biết thời gian nào trong tương lai.

Phân loại theo tiến trình nhân quả:

Nghiệp là tác động nhân quả của đời sống con người, là một tiến trình phức tạp, không máy móc; như gieo nhân nào gặt quả nấy. Chúng có một tiến trình Nhân-duyên-quả. Do đó, nhân và quả có những sai khác rất khó hiểu tận cùng đường đi của nghiệp. Nghiệp được chín muồi như sau:

- Dị thời nhi thục: Từ nhân đưa tới quả phải có thời gian

- Dị loại nhi thục: Từ nhân đến quả nó thay đổi chủng loại.

- Biến dị nhi thục: Từ nhân đưa đến quả thay đổi hình tướng, số lượng.

Phân loại theo năng lực:

- Tập quán nghiệp: Là nghiệp được huân tập bởi một thói quen trong đời sống hằng ngày.

- Tích lũy nghiệp: Là các nghiệp được tích lũy từ vô thỉ.

- Cực trọng nghiệp: Là nghiệp gây ấn tượng xấu ác, cực mạnh vào trong tâm lý của con người, như phạm tội ngũ nghịch…

- Cận tử nghiệp: Là nghiệp tạo ra trong lúc lâm chung. Nó rất quan trọng, vì nó chi phối đến việc tái sinh của con người.

Điểm khác biệt thứ hai: Ấn Độ Giáo cho rằng Nghiệp như là một định mệnh còn Phật giáo chủ trương Nghiệp là bất định nghiệp, tức Nghiệp có thể thay đổi được.

Nghiệp là động cơ chính yếu dẫn con người đi vào các cõi luân hồi, sanh tử triền miên. Đức Phật không dừng lại ở việc phân tích sức mạnh và tác dụng của Nghiệp mà Ngài còn chỉ ra cách thức chuyển Nghiệp hay Nghiệp là Bất định, tức là con người có thể chuyển đổi Nghiệp của mình bằng hình thức tu tập, sống và thực hành theo những lời Phật đã dạy. Và Đức Phật nhấn mạnh tùy theo sự tu tập mà ta có thể hoá giải được Nghiệp, không nhất thiết phải gặt hái hết tất cả những Nghiệp xấu đã gieo. Như trong thời Phật còn tại thế, Angulimala-một kẻ sát nhân nhưng khi tu theo giáo pháp thì được chứng quả A la hán, Ambapàli-một dâm nữ tài sắc và giàu có ở thành Vaisali biết hồi tâm tu hành cũng đắc quả A la hán….

Đức Phật còn trình bày rõ: “Cũng có thể quả của một nhân yếu mà tái sinh tròn đủ, còn quả của một nhân mạnh lại được lắng dịu”.

Trong kinh Hạt Muối, Phật dạy:

“Ví như này, hỡi các Tỳ kheo có người bỏ một nhúm muối vào một chén nước nhỏ, này các Tỳ kheo, các người nghĩ thế nào, nước trong chén nhỏ có vì nhúm muối nhỏ này mà trở thành mặn và không uống được hay không?

Thưa có vậy, Bạch Thế Tôn!

- Vì cớ sao?

- Bạch Thế Tôn, vì nước trong chén quá ít, nhúm muối làm cho nó trở thành mặn, không uống được.

- Này các Tỳ kheo, ví như có một người bỏ một nhúm muối như vậy vào sông Hằng, hỡi các Tỳ kheo, các người nghĩ thế nào? Nước sông Hằng có vì nhúm muối đó mà trở thành không uống được hay không?

- Thưa không, Bạch Thế Tôn.

- Vì cớ sao?

- Bạch Thế Tôn, vì lượng nước sông Hằng lớn, cho nên không bị mặn và vẫn có thể uống được.

- Cũng vậy, này các Tỳ kheo! Ở đây có người làm việc ác nhỏ mọn, khiến người ấy chịu khổ não. Lại nữa, này các Tỳ kheo, có người cũng làm một việc nhỏ như vậy, nhưng ngay trong đời sống hiện tại, cũng đền bù hết rồi, ngay một ít quả báo nhỏ cũng không còn lại ở đời sau, hà huống là quả báo lớn…

Như vậy, này các Tỳ kheo! Có người không tu tập thân, không giữ giới luật, không tu tập tâm, không tu tập tuệ, ít thiện, ít đức, hằng ngày sống khổ, người như thế, dù phạm một tội ác nhỏ cũng làm nó khổ sở vô cùng.

Như vậy, này các Tỳ kheo ! Lại như có người có tu tập thân, giữ gìn giới luật, có tu tập tâm, tu tập tuệ, làm nhiều điều thiện, sinh hoạt thoải mái, người ấy dù có phạm ác nhỏ, thì ngay trong cuộc sống hiện tại, cũng đủ đền bù hết, dù một quả báo nhỏ cũng không phải chịu trong đời sống sau, huống hồ là quả báo lớn…..” [7, 66- 67]

Như vậy, Nghiệp không phải là định nghiệp. Nếu ai hiểu tường tận về quy luật vận hành của nghiệp, và với tâm được tu tập, thì người ấy hoàn toàn có thể hạn chế tiến tới triệt tiêu được Nghiệp quá khứ.

Trong Ấn Độ Giáo hình như không có đề cập đến vấn đề này, cụ thể là khi con người sinh ra phải theo Nghiệp  mà an phận trên sự phân chia giai cấp, sanh ra ở giai cấp nào thì hãy sống trong giai cấp ấy, chẳng hạn như người sanh trong giai cấp hạ tiện thì mãi mãi không thể nào vươn lên giai cấp cao hơn. Đây chính là điểm khác biệt giữa Phật giáo và Ấn độ giáo

Điểm khác biệt thứ ba là: Đức Phật chú trọng đến thực tiễn hơn là mặt lý luận “khi Phật xử lý về thuyết này thì thường chỉ chú ý về phương diện thực tiễn chứ không hề lưu tâm về mặt luận lý” tức là Phật chú trọng về phương diện thực hành để chuyển đổi những nghiệp ác, bất thiện. Đạo Phật được tồn tại và phát triển trong trào lưu của Ấn độ cũng chính ở phương diện này. Về thuyết Nghiệp Phật khuyên con người nên làm lành, lánh dữ. Và cũng từ đây Phật đã xây dựng nên một nền đạo đức Phật giáo đầy tính nhân bản, nhân văn và hết sức trí tuệ. Mọi hạnh phúc hay khổ đau đều tùy thuộc vào chúng ta cả. Không có thần linh nào quyết định số phận của con người.

“Tự mình, điều ác làm
Tự mình làm nhiễm ô,
Tự mình không ác làm,
Tự mình làm thanh tịnh.
Tịnh, không tịnh tự mình
Không ai thanh tịnh ai”
[4, 97]


Hay trong kinh Tiểu Nghiệp Phân Biệt-Trung Bộ III, Phật có dạy: “Ta là chủ nhân của nghiệp, là kẻ thừa tự của nghiệp, nghiệp là thai tạng, nghiệp là quyến thuộc, nghiệp là điểm tựa. Phàm nghiệp nào sẽ làm thiện hay ác, ta sẽ thừa tự nghiệp ấy”.

Đức Phật trình bày về vấn đề này nhằm chỉ cho chúng ta thấy tầm quan trọng của từng cá nhân, cũng nhầm khích lệ con người bỏ ác làm thiện. Bởi từ thiện nghiệp con người dễ đi vào giải thoát hơn.

Trên đây là một số điểm đặc sắc và khác biệt giữa Nghiệp của Phật giáo và Ấn độ giáo.

2.4. TƯ TƯỞNG GIẢI THOÁT

Giải thoát là khát vọng muôn đời của con người. Hầu hết các tôn giáo lớn trên thế giới đều lấy giải thoát làm mục đích cứu cánh cho mình. Giải thoát là một phạm trù rộng lớn “có thể ví nó như viên ngọc được ngắm nhìn ở nhiều góc độ khác nhau. Người ta có thể xem xét nó qua các mặt khác nhau như trạng thái, mục đích, phương tiện và kết quả và người ta cũng có thể xem xét ở các mặt bản thể luận hay mặt nhận thức luận, mặt triết học, mặt tâm lý, cũng như mặt đạo đức, tôn giáo” [9, 45].

“Giải thoát” bắt nguồn từ tiếng Phạn là Mosha, Mukti, có nghĩa: “Giải” tức là cởi ra, mở ra, tháo ra….”; “Thoát” là vượt ra khỏi sự ràng buộc của thế giới giả tưởng, sanh tử luân hồi.

Mỗi tôn giáo đều có quan niệm giải thoát khác nhau. Như Ấn độ giáo cho rằng giải thoát là  “đưa tiểu ngã (Atman) hay linh hồn cá biệt hòa nhập vào đại ngã (Brahman hay “tinh thần vũ trụ tối cao”)” [9, 46] tức là sự hoà nhập, sự đồng nhất giữa Atman và Brahman. Còn Phật giáo thì cho rằng giải thoát là trạng thái từ bỏ hết mọi tham ái, dục vọng, chấp trước…., là sự trở về sống thật với con người hằng hữu xưa nay, bất sanh bất diệt.

Có thể nói, dù Phật giáo và Ấn  độ giáo xuất phát điểm từ sự khổ của kiếp sống nhân sinh nhưng mỗi bên đều có quan niệm về giải thoát khác nhau.

2.4.1. Tư tưởng giải thoát trong Ấn độ giáo

Chúng ta có thể chia tư tưởng giải thoát của Ấn giáo ra làm các giai đoạn sau:

2.4.1.1. Tư tưởng giải thoát trong kinh Veda và Upanishad

2.4.1.1.1. Tư tưởng giải thoát trong kinh Veda

Do đời sống còn lạc hậu, và luôn phải chịu sự tác động, chi phối của tự nhiên nên tư tưởng giải thoát của con người thời bấy giờ chủ yếu là sự cung phụng, thờ cúng các vị thần linh, để mong các vị thần linh che chở, hộ trì. Do đó, trong các bộ kinh Veda ta thấy hầu hết là các bài tán ca về các vị thần linh. Như bài tán ca về thần lửa (Agni):

“Ngài là bó đuốc của cúng tế
Không có Ngài thì những vị bất tử không được hài lòng
Hãy giáng xuống đây cùng chư vị thần linh
Hãy ngự xuống đây, hỡi thần lửa
Như một vị đệ nhất chủ lễ”
[28, 33]


Hay có bài tán ca cầu sự trợ giúp của thần linh:

“Đấng Pusan, chúng tôi cầu khẩn sự giúp đỡ của Người; với quyền tối cao, chúa của tất cả những gì bất động và chuyển động, Người truyền cho sức sống linh hồn.

Cầu xin Người ban cho chúng tôi sự giàu có ngày càng một tăng thêm, Người là chủ nhân, vừa là người bảo vệ chúng tôi, không bao giờ hiểu sai lòng tốt của chúng tôi”
[8, 64]


Thời kỳ này (thời kỳ Veda) thiên nhiên đã gây ra cho con người vô số hiểm họa, tai nạn….cho nên, người dân Ấn độ đã sáng tạo ra vô số vị thần như thần mưa, thần lửa, thần mặt trời, thần mặt trăng….không những để giải thích các hiện tượng tự nhiên mà còn thông qua đó giải thích các lãnh vực xã hội như về luân lý, đạo đức. Khi nói về đạo đức, bảo vệ công lý, họ đã sáng tạo ra vị thần Varuna-nhằm giám sát cả thế giới, thưởng người thiện, phạt kẻ ác và tha thứ cho những người cầu nguyện mình:

“Dù nằm hay ngồi
Dù có hai người bạn thì thầm khi ngồi gần nhau
Chúa Varuna đều biết cả
Nhìn thấy cả,
Và nghe thấy cả
Ngài là người làm chứng vĩnh cửu”
[28, 37]


Qua đây chúng ta thấy được rằng: khát vọng của con người thời bấy giờ là lý giải các hiện tượng thiên nhiên, cầu mong các vị thần linh che chở để họ được tồn tại và sống hạnh phúc. Có thể nói, tư tưởng giải thoát trong kinh Veda chủ yếu “nhằm giải quyết mâu thuẫn giữa một bên là mối đe dọa đến sự sinh tồn, sống chết của con người bởi những lực lượng thiên nhiên mạnh mẽ huyền bí với một bên là ý chí, ước vọng vươn lên để khẳng định sự tồn tại của bản thân con người, cầu mong một sự sống an lành của người dân Ấn độ cổ. Và như thế con đường thờ phụng, cầu xin trợ giúp các đấng thần linh”  [9, 103] là mục tiêu giải thoát của họ. Nói cách khác, muốn giải thoát, hạnh phúc phải cầu nguyện, cúng bái và đặt trọn lòng tin của mình vào các đấng thần linh. Đây được coi là đại biểu tối cổ cho tư tưởng giải thoát trong triết học, tôn giáo Ấn độ cổ đại.

2.4.1.1.2. Tư tưởng giải thoát trong Upanishad

Upanishad là một trong những bộ kinh quan trọng của Ấn giáo. Ở đây tư tưởng giải thoát Ấn giáo đã phát triển một cách mạnh mẽ và sâu sắc, đánh dấu một bước phát triển lớn từ thế giới quan thần thoại tôn giáo sang tư duy triết học. Nó có ảnh hưởng lớn trong đời sống tinh thần và đạo đức của xã hội Ấn độ cổ đại.

Nếu như tư tưởng giải thoát trong kinh Veda thiên về con đường thờ phụng, cầu xin sự phù hộ của các tha lực từ siêu nhiên thì trong Upanishad đã khám phá ra một con đường, một cách thức giải thoát mới là dùng trí tuệ để lý giải những vấn đề về nguồn gốc của vũ trụ và khám phá ra bản chất đời sống tinh thần của con người, tìm con đường giải thoát cho con người khỏi những nỗi khổ của cuộc đời.

Tư tưởng giải thoát trong Upanishad chủ yếu là làm sao cho tiểu ngã Atman hòa nhập vào đại ngã Brahman. Brahman là thực thể của vũ trụ, là tinh thần vũ trụ tối cao. Trong chàndogya Upanishad viết: “Brahman không lớn, không nhỏ, không ngắn, không dài, không rực rỡ, không tối tăm, không mùi, không vị, không mắt, không tai, không tiếng nói, không hơi thở, không trong, không ngoài, không tiêu hủy mà cũng không bị tiêu hủy”. Hay trong Taittiriya Upanishad viết: “Cái do đấy mọi vật sinh ra; cái nhờ đó mọi vật sống được và cái ở đó mọi vật trở về sau khi tiêu tan” . Như vậy, Brahman là đối tượng mà con người hướng tới, giống như sự trở về với thượng đế của các tôn giáo khác hay giống như câu “Đạo khả đạo phi thường đạo “ của Đạo Giáo. Tuy nhiên, Brahman giống như đại dương mênh mông, còn linh hồn Atman  của hết thảy mọi người như những đợt sóng của đại dương. Những đợt sóng Atman có vô số nhưng thực chất chúng là một thực thể trong đại dương Brahman.

Theo Upanishad “Atman là Brahman ẩn sâu trong con người”, tức là biết được Atman cũng biết được Brahman. Do đó giải thoát cũng có nghĩa là nhận ra cho được Atman. “Biết về Atman không thể đạt được bởi lý luận. Atman sẽ trở nên dễ dàng lĩnh hội khi được giảng giải bằng cách khác. Bây giờ ngươi đã đạt được sự hiểu biết đó”. Như vậy, muốn giải thoát theo kinh Upanishad thì con người phải quay về bên trong, phải kinh qua quá trình tu luyện đạo đức, thực nghiệm tâm linh, diệt trừ mọi dục vọng, ham muốn… để hòa nhập linh hồn Atman vào bản thể tuyệt đối Brahman.

2.4.1.2. Tư tưởng giải thoát trong thời kỳ Bà la môn

Tư tưởng giải thoát trong thời kỳ Bà la môn, tiêu biểu nhất là tư tưởng giải thoát của sáu phái triết học: Sankhya, Yoga, Vaisesika, Nyaya, Mimansa và Vedanta. Đây được xem là sáu phái triết học thuộc hệ thống của Bà la môn, công nhận uy thế mặc khải của Veda và dựa trên tư tưởng giải thoát của Upanishad. Tư tưởng giải thoát thời kỳ này phát triển phong phú, đa dạng và sâu sắc hơn, nhất là bàn kỹ hơn về phương pháp đưa đến giải thoát.

- Phái Samkhya cho rằng: Mục đích tối hậu của con người  là diệt đau khổ. Nhưng muốn diệt trừ đau khổ phải hiểu được hai mươi lăm thực thể

* Năm duy: Sắc, thanh, hương, vị xúc
* Năm tri căn: Tai, da, mắt, mũi lưỡi,
* Năm tác căn: Lưỡi, tay, chân, nam nữ căn, căn quan bài tiết
* Một ý
* Năm đại:
 Địa, thủy, hỏa, phong, không


Thì mới được giải thoát, giải thoát ở đây tức là biết được cái tri thức duy nhất chân chánh (không có gì là “ta”, không có gì là của “ta”)

- Phái Yoga thì cho rằng giải thoát là làm cho tinh thần trở nên thanh tịnh, thuần khiết, hòa nhập linh hồn vào đại ngã Brahman. Để thực hiện được điều này, con người cần phải kiên trì tu tập tám giai đoạn sau: yama, Niyama, asana, Pranyama, Pratyahara, Dharana, Dhyana, sammadhi.

- Giải thoát theo phái Mimansa là làm con người thoát khỏi vòng vây hãm của nhục thể bằng cách tuân thủ triệt để các quy định, nghi thức, những giới luật trong Veda…

- Phái Nyaya chủ trương: Giải thoát là một trạng thái đạt được sau khi vứt bỏ hết mọi dục vọng và làm cho linh hồn con người trở nên thanh thoát, tự tại. Để thành tựu được mục tiêu giải thoát, phái này cho rằng con người cần phải tuân thủ các giới luật, tu tập thiền định và diệt trừ dục vọng bằng phương pháp tư duy đúng đắn để đạt đến chân lý.

- Phái Veisesika: Chủ trương giải thoát cũng giống như phái Nyaya. Muốn được giải thoát thì con người phải thấu triệt sáu nguyên lý tạo thành vũ trụ (thực thể, tính chất hay đức, vận động hay nghiệp, phổ biến hay đồng, đặc thù hay dị, nội thuộc, hòa hợp), thực tập thiền định và diệt trừ dục thì mới hòa nhập vào đại ngã.

- Phái Vedanta: Giải thoát “chính là vứt bỏ mọi sự ràng buộc của thể xác, nhục dục đối với linh hồn, đưa linh hồn bất tử trở về đồng nhất với linh hồn vũ trụ tối cao”. Để thành tựu được mục tiêu ấy, con người cần phải trải qua quá trình thực nghiệm tâm linh, phát triển trí tuệ.

Nói chung: Các trường phái triết học trên đều coi con đường giải thoát là con đường nối liền tiểu ngã tương đối với đại ngã tuyệt đối thông qua các quá trình tu tập thiền định, và thực nghiệm tâm linh. Họ đều tập trung vào tinh thần, đạo đức, tâm lý con người, phủ nhận cuộc sống, tiền tài, danh vọng…. để hướng con người đến nơi thánh thiện, hạnh phúc. 

2.4.1.3 Tư tưởng giải thoát trong Bhagavad Gita

Bhagavad Gita là một tác phẩm được coi là thánh thư của Ấn độ giáo. “Nó là bộ Tân Ước của Ấn độ, được trọng gần ngang với các kinh Veda” [12, 383]. Người Ấn xem tác phẩm như là món quà của thượng đế ban tặng cho nhân loại, để con người có thể tìm trong đó những lời giải đáp về đời sống tâm linh, về thái độ sống, về nhu cầu giải thoát khỏi mọi sự ràng buộc.

Tư tưởng và phương pháp giải thoát trong Bhagavad Gita cũng giống như trong kinh Upanishad. Nhưng có một điểm khác mới mẻ và độc đáo là ngoài các con đường để đưa đến sự giải thoát như con đường tu luyện trí tuệ, thực nghiệm tâm lý….tác phẩm này còn đề cập đến con đường sùng tín tức là tin tưởng tuyệt đối vào Brahman cũng được giải thoát “Ai thực tình vì Ta, vứt bỏ hết mọi hành động, ao ước nghĩ đến Ta, yêu kính Ta, suy tưởng về Ta, miệt mài theo giới luật, người đó được Ta cứu khỏi đại dương sanh tử” hay “……những ai có lòng thành kính, vọng tưởng đến Ta…..những người đó mới thật là tông đồ mộ đạo, hiện hữu gần nhất bên Ta”. [13, 151]

2.4.2. Tư tưởng giải thoát trong Phật giáo

Giải thoát là mục đích cứu cánh cho những ai tu theo Phật giáo. Tất cả tam tạng kinh điển của Đức Phật đều giúp cho mọi người đạt đến giác ngộ và giải thoát. Trong Phật giáo có rất nhiều phương pháp tu tập để đạt đến giải thoát  nhưng tựu trung không ngoài bốn chân lý vi diệu, đó là Tứ thánh đế.

Có thể nói tư tưởng giải thoát của phật giáo bắt nguồn từ nỗi khổ của nhân sinh. Như chúng ta biết, Thái tử Tất Đạt Đa vì nỗi khổ của con người, vì sự khổ của sanh, lão, bệnh, tử….mà từ bỏ mọi lạc thú ở đời, ra đi tìm chân lý cứu độ chúng sanh. Sau khi viên thành đạo quả, với tuệ giác siêu việt Đức Phật đã tuyên bố cuộc đời là khổ đau, hay tuyên thuyết chân lý về khổ (khổ thánh đế).

Khổ là một sự thật, một thực trạng trong kiếp sống nhân sinh. Đức Phật trình bày về chân lý khổ không phải để cho mọi người chán nản, bi quan mà tìm về với cuộc sống ẩn thân nơi thâm sơn cùng cốc. Mục đích của Phật là giúp cho chúng ta thấy rõ sự thật khổ đau để từ đó thoát ly, xa lìa khổ đau. Khổ thường biểu hiện qua hai phương diện: Khổ đau về thể xác cũng như khổ đau về tinh thần: “Sanh là khổ, già, bệnh, chết là khổ, sầu bi là khổ, ưu não là khổ, cầu không được là khổ. Tóm lại năm thủ uẩn là khổ” [2]. Đây là những khổ đau mà con người phải gánh chịu.

Không dừng lại ở nỗi khổ của con người, Đức Phật đã chỉ cho chúng ta thấy rõ nguyên nhân của khổ. Nguyên nhân của khổ thường được các kinh đề cập chính là tham ái hay khát ái. Do tham ái mà bám víu và chấp thủ vào các đối tượng của tham ái “chính ái này đưa đến tái sinh, câu hữu với hỷ và tham, tìm cầu hỷ lạc chỗ này chỗ kia, tức là dục ái, hữu ái, vô hữu ái” [2]

Ái là một năng lực tinh thần hết sức mạnh mẽ, luôn tiềm ẩn trong tất cả mọi người, mọi chúng sinh. Nó chính là nguồn gốc của mọi khổ đau. Con người thường thích chạy theo tiếng gọi của tham ái như sắc đẹp, tiếng hay, mùi thơm, vị ngon ngọt, xúc chạm êm ái…tham ái càng mạnh thì chấp ngã, chấp thủ càng sâu dày. Đây chính là động cơ, là nghiệp lực dẫn đến tái sinh đời này đời khác. Những ham muốn năm trần trên gọi là dục ái. Hữu ái tức là bản năng sinh tồn. Do muốn tồn tại nên sinh lòng sợ hãi sự chuyển sinh hay hoại diệt. Hữu ái có ba đối tượng: Dục giới, sắc giới và vô sắc giới. Có người mong muốn mình có mặt trong dục giới, tái sinh trong dục giới. Có người lại nhàm chán các dục lạc từ sắc, thinh, hương, vị, xúc, họ nhàm chán cõi dục và khởi lên mong ước về cõi sắc. Có người lại nhàm chán cả đến các sắc tướng mong tồn tại ở trong thế giới không có sắc tướng, họ được sinh về cõi vô sắc.

Có nhiều người nhàm chán cả cuộc sống sanh diệt, mong muốn không còn sống lâu hơn nữa, không còn thác sinh nữa. Đây là biểu hiện của vô sắc ái. Bởi vì, không ham muốn sống thì bấy giờ họ có thể nuôi dưỡng lòng tham ở chỗ không sanh diệt và vẫn còn cái tập khí ham muốn. Chính đây là một thứ lửa nung nấu cho khổ đau tồn tại.

Qua đây chúng ta thấy rằng nếu còn khát ái, là còn sinh tử, khổ đau. Nói cách khác, gốc của mọi khổ đau chính là tham ái. Tuy nhiên, tham ái không có nghĩa là nguyên nhân đầu tiên của khổ đau. Bởi vì chính ái do thọ sinh, thọ do xúc sinh… thức do hành sinh, hành do vô minh sinh. Ái chính là cái nhân chính yếu và gần nhất của khổ đau.

Nói nguyên nhân của khổ đau là khát ái, có nghĩa là nhân của khổ đau là do 12 nhân duyên tập khởi hay năm thủ uẩn tập khởi. Bởi vì, theo Duyên khởi, ái có mặt là 12 nhân duyên có mặt, ái có mặt (hay hành uẩn có mặt, vì ái thuộc hành uẩn) là năm thủ uẩn có mặt. Có thể nói rằng tập đế chính là 12 nhân duyên hay chính là năm thủ uẩn.

Nói đến khát ái tức là đến sân và si. Sân chỉ là bề trái của khát ái và si tức là bản chất của khát ái (si tức là không thấy rõ bản chất của sự vật hiện tượng đều nương vào nhau mà sinh khởi đều vô thường và chuyển biến, không có cái chủ thể, cái bền vững trong chúng. Do không thấy rõ nên sinh tâm ham muốn, ôm giữ lấy các đối tượng lạc thú). Vì vậy, có thể nói rằng tập đế chính là tham, sân, si……

Và Đức Phật đã giới thiệu thêm cho chúng ta về chân lý thứ ba, đó là Khổ Diệt Thánh Đế.

Diệt là chấm dứt, là dập tắt. Diệt đế là sự chấm dứt hay dập tắt phiền não, những nguyên nhân đưa đến khổ đau và sự chấm dứt đau khổ cũng có nghĩa là hạnh phúc, an lạc. Diệt đế cũng đồng nghĩa với niết bàn và  giải thoát.

Trong Đế Phân Biệt Tâm Kinh, Đức Phật có định nghĩa về Diệt đế như sau: “Chính sự đoạn diệt, ly tham, không có tàn dư khát ái, sự quăng bỏ, từ bỏ, giải thoát không chấp trước”.

Khi hành giả biết được khổ, nguyên nhân của khổ nên khởi tâm ly dục, xa lìa mọi tham ái, chấp thủ thì sẽ được an lạc, hạnh phúc (Niết bàn). Hạnh phúc có nhiều mức độ khác nhau, tùy theo sự đoạn trừ tham ái, chấp thủ mà có được sự an lạc, giải thoát, niết bàn khác nhau. Niết bàn của Phật giáo là cảnh giới giải thoát, thoát ly mọi khái niệm ngôn ngữ, thoát ly mọi tướng trạng diễn đạt, không phải là vấn đề của khảo sát. Niết bàn thoát ly mọi ý niệm nên vượt ngoài thời gian và không gian. Tất nhiên, Niết bàn không phải là một nơi chốn, không phải là sớm muộn, lâu dài… không phải là vận chuyển, không phải là kết quả hay hậu quả của bất cứ cái gì, không phải là tương đối hay tuyệt đối không phải là thường hay vô thường, chỉ có thể nói Niết bàn là thực tại như thật, nhận biết được bằng thể nhập do tham ái diệt hay khổ diệt.

Chân lý thứ tư-khổ diệt đạo thánh đế

Đạo là con đường, là phương pháp thực hiện để đạt được an lạc, niết bàn. Toàn bộ giáo lý của Phật đều là Đạo đế, tổng quát và căn bản gồm 37 phẩm trợ đạo. Phật dạy: “Này các tỳ kheo, đây là những pháp do ta chứng ngộ và giảng dạy, các con phải khéo học hỏi, thực chứng tu tập, truyền bá rộng rãi để chánh pháp được trường tồn, vì hạnh phúc cho chúng sinh, vì an lạc cho chúng sinh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư thiên và loài người. Đó là bốn niệm xứ, bốn chánh cần, bốn thần túc, năm căn, năm lực, bảy bồ đề phần, tám thánh đạo phần”.

Trong 37 phẩm trợ đạo, tám thánh đạo được coi là tiêu biểu và căn bản nhất của Đạo đế “khổ diệt đạo thánh đế chính là Bát thánh đạo; tức chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm và chánh định”. Có thể phân chia Bát chánh đạo trên cơ sở Tam Vô Lậu Học thì Tuệ gồm có: Chánh kiến, chánh tư duy; Định có chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định; Giới gồm có chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng.

Trong quá trình phát triển, các bộ phái đã dựa trên nền tảng Tứ thánh đế mà triển khai ra nhiều phương pháp cũng như mục tiêu của giải thoát.

Như vậy, giải thoát trong Phật giáo là quá trình tu tập, thực nghiệm để xóa bỏ mọi tham ái, chấp trước…. hướng con người đến một trạng thái thanh tịnh, vắng lặng, an lạc vĩnh cửu (Niết bàn)

Trên đây là tư tưởng giải thoát của Ấn độ giáo và Phật giáo. Nhìn chung thì nó cũng có điểm giống về cách thức tu tập, tức là quay trở về bên trong bằng con đường “thực nghiệm tâm linh”cũng như tu luyện về đạo đức…. nhưng cũng có một số điểm khác biệt chủ yếu như sau:

Chủ trương giải thoát của Ấn độ giáo là một quá trình cần được chuẩn bị dần dần, qua bốn giai đoạn:

Brahmacàrin (Phạm chí kỳ): Là giai đoạn học tập của thời niên thiếu, sống như những học trò để học thánh kinh Veda.

Grhastha (Gia cư kỳ): Là giai đoạn trưởng thành, lấy vợ, sanh con, tạo lập sự nghiệp.

Vànaprasth (Lâm cư kỳ): Là giai đoạn rút vào rừng sâu để tu luyện thiền định, xa lìa gia đình, vợ con.

Parivràjaka (Du hành kỳ): Đây là giai đoạn xả ly tất cả tình cảm gia đình và xã hội để chuyên tâm tu tập, rèn luyện đạo đức, tức là cầu mong đạt đến sự giải thoát.

Hay họ còn chủ trương “chỉ khi nào con người hòa đồng được tiểu ngã của mình với đại ngã của vũ trụ thì lúc ấy mới có giải thoát” [25, 200]

Phật giáo không chủ trương như thế. Giải thoát có thể tu tập ở bất cứ độ tuổi nào, thời điểm nào trong cuộc sống cũng có thể hưởng được hương vị giải thoát mà không cần thông qua các giai đoạn trên. “Nghĩa là bất cứ trong giờ phút nào ta cắt đứt được mọi mối ràng buộc của tham lam của dục vọng, khiến cho tâm hồn thanh thản, tự do, tự tại thì ngay giờ phút ấy ta đã đến cảnh giới giải thoát chân thật” [25, 200]

Như  trong Kinh Tứ Niệm Xứ-Trung Bộ I, Đức Phật có dạy người nào trú tâm vào pháp tu mình đã chọn thì nhanh nhất là bảy ngày chứng giải thoát, giác ngộ, chậm nhất là bảy năm.

Tư tưởng giải thoát của Phật giáo còn vượt xa hơn nữa, khi đã thành tựu được mục tiêu giác ngộ giải thoát rồi, hành giả cần phải vứt bỏ luôn các phương pháp tức là phá luôn pháp chấp. Trong kinh Phật thường nói: pháp “như tiêu nguyệt chỉ” hay “như phiệt dụ giả, pháp thượng ưng xả, hà huống phi pháp” cũng có nghĩa là khi con người đạt đến mục tiêu giải thoát thì phải bỏ nốt luôn tất cả các phương pháp ấy (Bát thánh đạo, Tam vô lậu học….) để đạt được sự giải thoát tuyệt đối.

Nếu đứng trên lập trường hoạt động, thì tư tưởng giải thoát của Ấn độ giáo mang nặng tính chất tiêu cực. Như ở trên ta đã đề cập giải thoát là sự từ bỏ tất cả gia đình, xã hội, rút vào rừng sâu  để chuyên tâm tu tập, thể nghiệm tâm linh mà không chú trọng đến số đông, không vì lợi ích chung cho con người. Đức Phật, khi chưa thành tựu được tuệ giác, Ngài cũng có một thời gian xa lánh thế tục để tu tập nhưng khi giác ngộ, giải thoát thì Ngài quay trở lại nhân gian cứu độ chúng sanh “tại Ấn độ, có nhiều tôn giáo, nhưng chỉ có Phật giáo là lấy toàn thể chúng sanh làm đối tượng để truyền giáo và cũng chỉ có Phật giáo mới có những giáo lý làm thỏa mãn nhu cầu tinh thần của mọi hạng người” [25, 199].

Mặt khác, Ấn độ giáo cho rằng giải thoát là quá trình đưa tiểu ngã Atman hay linh hồn cá biệt hòa nhập vào đại ngã Brahman hay “tinh thần vũ trụ tối cao”. Ngược lại, Phật giáo phủ nhận vai trò sáng tạo muôn loài của Brahman (Phạm thiên) và nói rằng: “Phạm thiên chỉ là một giống sinh vật cao cấp hơn người, tuy sống hạnh phúc và thọ mạng lâu hơn người, nhưng vẫn ở trong vòng sống chết luân hồi. Bản thân Phạm thiên, chính vì thiếu trí tuệ, cho nên tự cho mình là thượng đế, là đấng tạo thế. Còn những người tu đạo Bà là môn, tuy tự đặt cho mình cái đích cao nhất là hòa mình vào Phạm thiên, nhưng từ trước tới nay, chưa từng có một tu sĩ Bà la môn nào dám mạo nhận mình đã hòa hợp được với Phạm thiên cả”[6, 20].

Chính vì thế, Phật giáo cho rằng giải thoát chính là Niết bàn, là trạng thái như thật, vắng mặt khổ và khát ái.

Trên đây là một số quan điểm cũng như về tư tưởng khác nhau giữa Phật giáo và Ấn độ giáo. Dù có sai khác nhưng Phật giáo và Ấn giáo vẫn là suối nguồn tâm linh, đã và đang tuôn chảy trong hàng triệu triệu trái tim của con người trên thế giới.

KẾT LUẬN

Ấn độ là một trong những cái nôi của nền đạo học phương đông nói riêng và cho cho nhân loại nói chung. Chính nơi ấy đã sản sinh ra nhiều trường phái, tôn giáo lớn trên thế giới. Có thể nói Ấn độ là  “một tiểu vũ trụ của các tôn giáo và các nền triết học” [29, 182].  Trong ấy tiêu biểu và nổi bật nhất là Ấn độ giáo và Phật giáo. Dù hai tôn giáo này ra đời trong bối cảnh xã hội Ấn độ cổ đại nhưng có nhiều quan điểm, tư tưởng,……khác nhau; cụ thể là quan niệm về giá trị con người, linh hồn, tư tưởng nghiệp báo, tư tưởng giải thoát mà người viết đã trình bày ở phần nội dung.

Khi nói đến Ấn độ giáo, thì chúng ta liền nghĩ ngay đến các bộ kinh lớn như Veda, Upanishad, Bhagavad Gita….đây là những bộ kinh, chứa đựng nhiều tư tưởng đặc sắc, về nhân sinh quan cũng như vũ trụ quan của người Ấn độ.

Điểm đặc biệt nhất  của Ấn độ giáo là không có một vị giáo chủ nào sáng lập rõ cả. Sự duy trì và truyền bá này hoàn toàn phụ thuộc vào các giáo sĩ mà thôi. Có một điều chúng ta không thể phủ nhận, dù Ấn độ giáo không được truyền bá rộng rãi như Phật giáo nhưng ở tại Ấn độ nó có ảnh hưởng rất lớn và số lượng tín đồ rất đông, chiếm tỉ lệ 83% dân số (số lượng này được các nhà nghiên cứu thống kê vào năm 1991)

Đề cập đến Phật giáo, người ta thường gọi Phật giáo là đạo của Từ bi, trí tuệ hay là đạo của sự giác ngộ, giải thoát. “Mặc dù ngày nay tại Ấn độ Phật giáo không có nhiều tín đồ, các Phật tử vẫn xem Ấn độ là đất thánh khai sinh ra Phật giáo, vì lịch sử Phật giáo bắt đầu tại đó và hầu hết kinh điển Đạo Phật đều được kết tập tại Ấn độ”. [18, 95]

Trong hơn hai mươi lăm thế kỷ qua, Phật giáo đã phát triển và lan rộng đến rất nhiều nước trên thế giới và có ảnh hưởng rất sâu sắc đối với đời sống của hàng triệu triệu trái tim con người. Hàng mấy ngàn năm qua, giáo lý  Phật giáo luôn là kim chỉ nam định hướng cho nhận thức, hoạt động của con người và góp phần giáo dục, hoàn thiện nhân cách cho từng cá nhân. Như khi nói về tầm quan trọng của giáo lý Bát Thánh Đạo, Giáo sư Rhys David-Chủ tịch hội Pàli Text Society nói: “Dầu là phật tử hay không phải là Phật tử, tôi nghiên cứu từng hệ thống tôn giáo lớn trên thế giới và trong tất cả, tôi không tìm thấy trong tôn giáo nào có cái gì tốt, cao đẹp và toàn diện hơn Bát Thánh Đạo của Đức Phật. Tôi chỉ còn có một việc làm là thu xếp nếp sống tôi cho phù hợp với con đường ấy”.

Hiện nay nhân loại đang phải đấu mặt với nhiều hiểm họa, tệ nạn, khủng hoảng, như chiến tranh, tệ nạn ma túy, HIV, khủng hoảng về môi trường, cũng như về đạo đức……; đây là những vấn đề liên quan trực tiếp đến sự tồn vong của loài người. Nếu con người biết quay về với Phật giáo, sống theo những lời Phật dạy thì những vấn đề trên sẽ được giải quyết một cách có hiệu quả nhất. Thực hiện theo giáo lý Phật đà thì chắc chắn chúng ta sẽ xây dựng nên một xã hội công bằng, dân chủ và văn minh thật sư ỉ- một xã hội “Cực lạc” tại nhân gian. 

Nói chung, trong hơn hai mươi thế kỷ qua, những tư tưởng triết lý của Phật giáo và Ấn độ giáo “vẫn dồi dào sức sống, hùng vĩ như dãy Hy mã lạp sơn, cuồn cuộn như nước sông Hằng và rực rỡ như bông hoa Patala nơi rừng đại ngàn Ấn độ”. Nó không những hóa thân vào các phong tục, tập quán truyền thống văn hóa của Ấn độ nói riêng mà còn ảnh hưởng sâu đậm đến nhận thức, hành động của nhân loại nói chung.


Thích Lệ Duyên

_________________

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Thích Minh Châu dịch, Kinh Trung Bộ I, II, Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam, 1993.

[2] Thích Minh Châu dịch, Kinh Tương Ưng Bộ III, IV Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam, 1993.

[3] Thích Minh Châu dịch, Kinh Tăng Chi Bộ III, Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam, 1996.

[4] Thích Minh Châu dịch, Kinh Pháp Cú, Thiền Viện Vạn Hạnh, 1996.

[5] Minh Chi, Giáo trình Triết học Ấn độ.

[6] Minh Chi, Các Vấn Đề Phật Học, Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam, 1995.

[7] Minh Chi, Thuyết Bốn Đế, Trường Cao Cấp Tp HCM, 1996.

[8] Doãn Chính chủ biên, Veda Upanishad-những bộ kinh triết lý tôn giáo cổ Ấn độ, NXB Đại Học Quốc Gia Hà Nội, 2001.

[9] Doãn Chính, Tư tưởng giải thoát trong triết học Ấn độ, NXB Thanh Niên, 1999.

[10] Doãn Chính, Lịch sử triết học Ấn độ cổ đại, NXB Thanh Niên, 1999.

[11] Doãn Chính chủ biên, Kinh văn của các trường phái triết học Ấn độ, NXB Đại Học Quốc Gia Hà Nội, 2003

[12] Will Durant-Nguyễn Hiến Lê dịch, Lịch sử văn minh Ấn độ, NXB Văn Hóa Thông Tin, 2004.

[13] Nguyễn Tấn Đắc, Văn hóa Ấn độ, NXB Tp HCM, 2000.

[14] Michael Jordan-Phan Quang Định dịch, Minh triết phương đông, NXB Mỹ Thuật, 2004

[15] Thích Mãn Giác, Lịch sử triết học Ấn độ, Ban tu thư Viện Đại Học Vạn Hạnh, 1967.

[16] Nguyễn Đức Hàn, Tư tưởng triết học và đời sống văn hóa văn học Ấn độ, NXB Văn Học, 1998 

[17] Cscott Littleton-Trần Văn Huân dịch, Trí tuệ phương đông, NXB Văn Hóa Thông Tin, 2002

[18] Theodore M. Ludwig-Dương Ngọc Dũng, Hà Hữu Nga, Nguyễn Chí Hoan dịch, Những con đường tâm linh phương đông, phần I Các tôn giáo khởi nguyên từ Ấn độ, NXB Văn Hóa Thông Tin, 2000.

[19] Vũ Dương Ninh, Lịch sử văn minh thế giới, NXB Giáo Dục, 2000.

[20] Nguyễn Gia Phu, Lịch sử tư tưởng phương đông và Việt nam, Tủ sách Đại Học Tổng Hợp, 1996.

 [21] W. Rahula-Thích Nữ Trí Hải dịch, Con đường thoát khổ, Viện Đại Học Vạn Hạnh, 1966.

[22] H.W.Schumann-Trần Phương Lan dịch, Đức Phật lịch sử, NXB Tp HCM, 2000.

[23] Nàrada Thera-Phạm Kim Khánh dịch, Đức Phật và Phật pháp, NXB Tôn Giáo, 2003.

[24] Kimura Taiken-Thích Quảng Độ dịch, Nguyên thủy Phật giáo tư tưởng luận.

[25] Kimura Taiken-Thích Quảng Độ dịch, Đại thừa Phật Giáo tư tưởng luận.

[26] Thích Chơn Thiện, Phật học khái luận, NXB Tp HCM, 1999.

[27] Nguyễn Khắc Thuần, Đại cương lịch sử văn hóa Việt Nam tập II, NXB Giáo Dục, 2002.

[28] Nguyễn Đăng Thục, Lịch sử triết học phương đông tập 3, NXB Tp HCM.

[29] Lương Duy Thứ chủ biên, Đại cương văn hóa phương đông, NXB Đại Học Quốc Gia Tp HCM, 2000

[30] Hoàng Tâm Xuyên chủ biên, Mười tôn giáo lớn trên thế giới, NXB Chính Trị Quốc Gia, 1999.

Giảng sư

Kết nối

Tổng số truy cập
Thông tin: 48.409
Pháp Âm: 28.393
Đang truy cập
Hôm qua: 5665
Tổng truy cập: 986.339
Số người đang online: 106

Các tin khác

PHÁP ÂM NỔI BẬT

Giảng sư Xem tất cả

hosting gia re , web gia re tron goi , thiet ke web tron goi tai ho chi minh, binh duong, vung tau, ha noi, ca nuoc , thiet ke web tron goi gia re