chuabuuchau.com.vn,chuabuuchau, chua buu chau, chùa bửu châu, chua buu chau cu chi

Phật giáo và tín ngưỡng ở đồng bằng sông cửu long

Kết quả hình ảnh cho sen đ5p

DẪN NHẬP

1. Giới thiệu sơ lược và ý nghĩa của đề tài:

Việt nam là một đất nước thuộc vùng Đông Nam Á, vừa tiếp cận với lục địa Châu Á, vừa chịu ảnh hưởng của hai nền văn minh lớn nhất thế giới đó là Ấn Độ và Trung Hoa, đồng thời nước ta còn có nền văn minh bản địa thường được gọi là văn minh Lúa nước hoặc văn minh Sông Hồng. Sự giao thoa của hai nền văn minh trên cộng với nền văn minh bản địa đã tạo nên một sắc thái đặc biệt để cho ra đời một nền văn minh độc đáo và phong phú. Phong phú về các lĩnh vực đời sống tâm linh, về tín ngưỡng, về phong tục tập quán và các luồng văn hóa mới khác, mà trong đó Phật giáo chiếm lĩnh vực quan trọng bởi triết lý nhân sinh vũ trụ vô cùng thực tế và sinh động, làm cho chúng dễ dàng đi vào lòng người tạo nên một bản sắc văn hóa vô cùng độc đáo.

Là người Việt Nam, ngoài việc thừa hưởng trọn vẹn kho tàng văn hóa trên còn phải có nhiệm vụ  bảo lưu và phát huy truyền thống ấy.

2. Lý do chọn đề tài:

a. Là một quốc gia đa dân tộc, đa văn hóa, trong đó Phật giáo là một tôn giáo lớn trên thế giới đã du nhập từ rất lâu đời. Nhiều giả thuyết của các nhà nghiên cứu, các nhà khoa học cho rằng Phật giáo đã vào Việt Nam từ trước công nguyên (giả thuyết của viện khảo cổ học Việt Nam và các nhà nghiên cứu phật học). Mặt khác, Phật giáo đã thấm sâu vào nền văn minh Việt Nam (văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần - tâm linh và văn hóa xã hội). Nó đã được dung hóa (bản địa hóa) và trở thành một bản chất, bản sắc dân tộc phù hợp với đời sống tâm hồn người Việt Nam.

b. Hiện nay trong công cuộc xây dựng nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam tiến đến dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh, một nền văn hóa truyền thống và hiện đại đậm đà bản sắc dân tộc. Giáo hội Phật giáo Việt Nam cũng như các tín đồ đã tích cực đóng góp theo lời kêu gọi của chủ tịch Hồ Chí Minh “đoàn kết đoàn kết đại đoàn kết, thành công thành công đại thành công” với đường lối “tốt đời đẹp đạo”.

c. Học viện Phật giáo Việt Nam đã thành lập tại Hà Nội, Huế và Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 1984 đến nay và việc nghiên cứu Phật giáo để góp phần làm phát triển xã hội tại Việt Nam là một việc mà ban lãnh đạo Học viện rất chú ý và động viên.

Do những lý do đó cho nên sau khi đã suy nghĩ kỹ và tiếp thu nhiều ý kiến của các Hòa thượng, các vị Giáo sư, thấy có nhiều vấn đề mới lạ khiến người viết muốn đem những khả năng và tư duy khiêm tốn của mình để thực hiện đề tài cho luận văn tốt nghiệp xung quanh các vấn đề về đời sống sinh hoạt vật chất cũng như tâm linh của người dân Việt, trong đó Phật giáo có ảnh hưởng sâu sắc nhất. Với việc làm này ước mong có thể đóng góp một phần nhỏ nhặt vào công việc khoa học và nghiên cứu.

3. Lịch sử nghiên cứu đề tài:

Từ trước đến nay, Phật giáo trên thế giới cũng như ở Việt Nam đã có nhiều nhà khoa học nghiên cứu và cho ra những tác phẩm có liên hệ đến Phật giáo như: HT.TS Thích Minh Châu, HT.TS Thích Thanh Kiểm, HT. Thích Mật Thể, HT.TS Thích Trí Quảng. Các nhà nghiên cứu khác như: Trần Trọng Kim, Lê Đình Thám, Nguyễn Đăng Thục, Lê Mạnh Thát, Hà Văn Tấn, TS. Trần Hồng Liên, TS. Phan Lạc Tuyên, GS. Minh Chi, GS. Trần Tuấn Mẫn … cùng một số nhà nghiên cứu nước ngoài và các công trình nghiên cứu của viện nghiên cứu Phật giáo.

4. Phạm vi nghiên cứu:

Từ lâu vấn đề tín ngưỡng đã nằm trong tâm thức của mọi tầng lớp người ở tất cả không gian và thời gian, chúng được thể hiện qua nhiều khía cạnh trong đời sống văn hóa ở các lĩnh vực khác nhau. Trong tập luận văn nhỏ bé này, nhất là theo quy định của Học viện, người viết chỉ xin được trình bày về một khía cạnh nhỏ nói về các phong tục tập quán cũng như các tín ngưỡng có ảnh hưởng của Phật giáo ở Nam bộ- vùng đồng bằng sông Cửu Long.

5. Phương pháp và phương pháp luận:

Dùng để viết luận văn này là phương pháp khoa học lịch sử (duy vật lịch sử và duy vật biện chứng). Những quan điểm của Ban Tôn Giáo chính phủ cũng như chính sách, đường lối của Đảng và Nhà Nước đã ghi trong văn bản pháp chế về luật Tôn giáo của Quốc hội ban hành năm  2004. Ngoài ra tôi còn sử dụng các phương pháp so sánh, đối chiếu, đi điền dã một số nơi và tra cứu, khai thác những tư liệu của các sách đã nghiên cứu sẵn.

6. Vấn đề thực hiện:

Việc thực hiện luận văn đúng theo quy định của Học viện Phật giáo Việt nam tại Thành Phố Hồ Chí Minh dưới sự hướng dẫn của GS.TS Phan Lạc Tuyên, Giáo viên thỉnh giảng bộ môn Văn Minh Việt Nam tại Học viện mà tôi đã được học. Khi cần thiết tôi sẽ đến thỉnh giáo quý Hòa Thượng, Thượng Tọa, quý Giáo sư tại Học viện.


NỘI DUNG.

CHƯƠNG 1:  VÀI NÉT VỀ ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

1.1. Khái quát bối cảnh lịch sử, địa lý, văn hóa, tín ngưỡng của cư dân ở lưu vực đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL).

ĐBSCL là một đồng bằng rộng lớn nhất Việt Nam, là một vùng “trời cao lồng lộng, đất trãi ngút ngàn”, cũng là một trong số các đồng bằng lớn thế giới với diện tích 39.554 Km2 bao gồm 12 tỉnh An Giang, Bạc Liêu, Bến Tre, Cà Mau, Cần Thơ, Đồng Tháp, Kiên Giang, Long An, Tiền Giang, Vĩnh Long, Trà Vinh, Sóc Trăng. Nơi đây địa hình bằng phẳng, khí hậu ôn hòa, không có tình trạng “nắng cháy da, mưa thối đất” như ở miền Trung, miền Bắc. Vì thuộc vùng nhiệt đới gió mùa, nên thời tiết thiên nhiên thích hợp cho sự phát triển nông lâm ngư nghiệp. Tuy nhiên cũng có một số vùng thường bị lũ lụt, nhưng sau khi nước rút thủy triều đã để lại một lượng phù sa vô cùng màu mỡ, đóng góp đáng kể trong việc sản xuất nông nghiệp. Ngoài ra còn có một số vùng bị nhiễm mặn, nhiễm phèn hoặc gò, trũng …

Đối với lịch sử lâu đời của đất nước Việt Nam thì ĐBSCL là một vùng đất mới, đó là một vùng đất hoang vu nhiều thú dữ, lắm thiên tai, với nhiều hệ thống sông rạch, nhiều cá sấu, răn rít, muỗi đỉa …, bên cạnh những khắc nghiệt của thiên nhiên, Nam bộ còn là một vùng đất phì nhiêu màu mỡ, cảnh vật lại nên thơ, tạo vẻ đẹp huyền bí và hấp dẫn, là nơi lý tưởng để con người đến tìm tòi và khai phá. Vì vậy, từ lâu nơi đây là địa bàn sinh tụ và cư trú của nhiều dân tộc khác nhau.

Theo sử liệu, các nhà khảo cổ học đã tìm ra được vết tích của vùng này thông qua những tấm bia và các hình điêu khắc thân Vichnou, số tượng Phật đào được ở Đồng Tháp Mười, Óc Eo, phía nam Phnông Pênh, Vỏ Cạnh và Đức Hòa. Theo các vết tích này cho thấy từ thế kỷ thứ VI trở về trước vùng ĐBSCL mang dấu hiệu của vương quốc Phù Nam với vùng biên giới từ phía Nam Trung Bộ Việt Nam, trung lưu sông Cửu Long và một phần lớn châu thổ sông Mê Kông ở bán đão Mã Lai. Người Phù Nam thuộc chủng loại Indonésien, nói tiếng tiểu Khmer và cổ Khmer, dùng mẩu tự Sansrit (tiếng Phạn).

Từ thế kỷ XVII đến XX, vùng đất Nam bộ đã tiếp nhận nhiều thành phần, nhiều dân tộc, đặc biệt là người Việt, người Hoa, người Khmer, người Chăm. Họ đến đây sinh sống với nhiều thời gian khác nhau, và khi đến họ mang theo nhiều Tôn giáo, tín ngưỡng. Trong đó Phật giáo lại ảnh hưởng sâu sắc nhất đối với các tín ngưỡng cũng như các giáo phái bản địa của cư dân vùng lúa nước này, do đó cộng đồng dân tộc chủ thể ở ĐBSCL đã tồn tại nhiều hình thức thờ cúng rất phong phú và đa dạng.

1.2. Phật giáo trong quá trình lịch sử:

Theo các nhà nghiên cứu thì Phật giáo có mặt tại Việt Nam rất sớm, từ trước công nguyên. Do quá trình giao lưu văn hóa giửa các nước với nhau, các nhà sư Ấn Độ đã theo chân các thuyền buôn qua các nước Chân lạp, Cham Pa, Giao Chỉ và họ đã ghé lại vương quốc Phù Nam. Trong Phật Giáo Việt Nam Sử Luận, Nguyễn Lang có viết: “ … trước khi các vị Tăng sĩ Ấn Độ tới Việt nam, các thương gia Ấn Độ đã tới Việt nam rồi và cũng đã mang Phật giáo tới xứ ta”[9,15]. Các thuyền buôn từ Ấn Độ theo gió mùa Tây Nam mà đến, họ ở lại đây với dân bản xứ, họ dạy dân về các phương pháp canh tác, y thuật và tôn giáo. Do đi làm ăn nơi miền viễn xứ nên các thương gia này khi đi họ mang theo cả hình Phật, Tháp Phật … Họ thường cúng bái, cầu nguyện trên biển, nhứt là cầu nguyện đức Bồ Tát Quán Thế Âm. Khi sống trên bờ họ vẫn thờ Phật, đốt hương, cúng dường tháp Phật. Ngoài ra họ còn đọc tụng Tam quy, Ngũ giới, thể hiện giáo lý luân hồi nhân quả của đạo Phật bằng việc thực hành hạnh bố thí, kể chuyện tiền thân Đức Phật. Họ đã thể hiện nền văn minh ấy thông qua lối sống hằng ngày của họ và nó đã ảnh hưởng sâu sắc trong lòng người dân Việt từ đó. Vì sự bình yên trên biển cả mà trong những chuyến đi sau họ đã thỉnh theo các vị Tăng. Những vị Tăng đi theo các thương thuyền cũng không phải vì các thương gia ấy mà vì mục đích muốn bành trướng Phật giáo Đại Thừa từ Ấn Độ, những Tăng sĩ này đã lập nên một trung tâm Phật giáo nổi tiếng tại Luy Lâu, sau đó mới truyền sang Trung Quốc. Để chứng minh điều này, xin trích dẫn lời đối thoại của Pháp sư Đàm Thiên với Tề Thái Hậu (vợ của vua Tề Cao Đế) như sau: “Xứ Giao Châu có đường thông sang Thiên Trúc. Khi Phật giáo truyền vào Giao Châu chưa đến Giang Đông thì người ta đã lập 20 Bảo Tháp tại Luy Lâu, và người ta kể có hơn 500 Tăng sĩ đọc tụng theo được 15 bộ kinh”.

Trãi qua nhiều thời đại Đinh, Lê, Lý, Trần … Phật giáo đã để lại những dấu ấn vàng son trong lịch sử. Đến thế kỷ XVI, đất nước bị Trịnh - Nguyễn chia cắt ra Đàng Ngoài, Đàng Trong, Phật giáo cũng theo chân các đoàn di dân nhưng xuất phát theo nhiều hướng khác nhau như từ miền Bắc, miền Trung đưa vào, hoặc theo đường thủy từ Trung Quốc đến, cũng có thể từ Kampuchea sang. Do đến từ nhiều nguồn khác nhau nên cũng có những đặc trưng khác nhau. Tuy nhiên, trong quá trình phát triển, Phật giáo luôn có sự linh động để có thể hội nhập được với con người theo từng thời đại. Bởi theo các nhà nghiêng cứu thì các đạo giáo lớn du nhập muốn tồn tại phải ảnh hưởng vào các tín ngưỡng hoặc văn hóa chứ không thể mang nguyên si từ các nước khác vào.

Do có quá trình hình thành lâu dài như thế, cộng với tính chất bình dị, nhu nhuyến của các nhà sư ngay từ buổi đầu mở đạo và đối tượng là những người dân quê chất phát, nên Phật giáo đã thấm sâu vào máu thịt của họ. Vì thế cho dù sau này có bất cứ thế lực tôn giáo hay tín ngưỡng nào đi chăng nữa thì ta vẫn thấy mang máng đâu đó hình bóng của Phật giáo mang nặng tính đặc thù của Phật giáo bản địa. Như vậy Phật giáo vào Việt Nam có duyên khởi rõ ràng mà cũng có những điểm ngẩu nhiên, nó phù hợp với lối sống của người Việt Nam vốn yêu chuộng hòa bình nhân nghĩa.

CHƯƠNG 2: PHẬT GIÁO VÀ TÍN NGƯỠNG

2.1. Ảnh hưởng Phật giáo trong phong tục tập quán của người Việt Nam.

2.1.1. Lễ hội chùa:

Chùa ở miền quê là “Đất vua chùa làng phong cảnh Bụt”. Chùa do dân làng tạo dựng, lời kệ câu kinh ngân nga thoát tục, tiếng chuông chùa vang vọng khắp thôn quê, những nông dân chân bùn tay lấm với buổi trưa hè nghỉ mát dưới lũy tre xanh. Tiếng chuông ngân khiến lòng người lắng dịu thoảng quên đi bao nỗi nhọc nhằn vất vả, chùa bổng dưng có một sức thu hút lạ thường, khiến cho con người muốn gần gũi, hướng về:

Chùa làng có tự bao giờ
Kệ kinh sãi tụng muối dưa độ ngày


Trong cuộc sống tu hành đạm bạc của các sư tăng cũng không kém phần phù hợp với cảnh sống kham bần của những người dân quê nghèo ấy. Thế nên khi đi lễ chùa người ta có chi cúng nấy, không cần phải cầu kỳ tốn kém bởi lễ vật có khi là nãi chuối, buồng dừa, tương, rau, dưa, ớt …, nhưng đó là tất cả tấm lòng.

Chùa còn là nơi dung nạp mọi tâm hồn đau khổ, khi thất bại giữa cuộc đời, dung chứa kẻ đói rách khốn cùng, kẻ hành khất sa chân lỡ bước, và là chỗ linh thiêng để cho người ta tinh tưởng gởi gấm:

Ra đi anh có dặn lời,
Ở nhà cầu nguyện Phật trời giúp cho.


Hay:

Tay bưng quả nếp vô chùa,
Lâm  râm lạy Phật xin bùa con đeo. 


Lễ chùa mục đích chính còn là để “cầu nguyện” những gì họ ước mong đạt được:

Nam mô Đức Phật Quan Âm,
Ra tay cứu độ trầm luân mọi loài.


Đúng như vậy, Phật thì từ bi cứu khổ, bình dị và dễ thông cảm cho nổi khổ của chúng sanh.Có khi chỉ một tiếng nấc oan trái của nàng Tấm (trong truyện Tấm Cám) hay một tiếng thở dài của anh chàng nghèo khổ lang thang tìm cây tre trăm đốt thì Phật hiện thân ngay để cứu giúp, để giải quyết sự bất bình mà không cần phải cầu xin gì cả. Đức Phật thật sự đã nghe được tiếng gọi của cuộc đời. Chính vì vậy nên Phật luôn luôn là biểu tượng để dân gian quay về nương bóng như nương tựa vào một công lý, một sự công bằng mà thế gian đôi khi không tài nào giải tỏa được. Nhưng Phật không đến với chúng sanh như một quan tòa mà đến như những người bạn, những người tri âm tri kỷ nên các ngài không lạc lõng với dân gian mà luôn gần gũi, khắn khích cùng tồn tại với thời gian.

Người Việt Nam còn đi lễ chùa theo truyền thống:

Chùa làng một điện năm gian,
Hằng năm giổ Bụt cả làng dân qui.


Hay là:

Dù ai buôn bán ở đâu,
Đến ngày Phật Đản năm châu cũng về.
Dù ai buôn bán trăm nghề,
Đến ngày Phật Đản ta về chùa ta.


Lễ hội truyền thống ở chùa chiền thực sự đã thắm sâu vào lòng dân Việt. Giổ tổ hằng năm, ngày sinh nhật Phật, các ngày rằm lớn trong năm như rằm tháng giêng, tháng mười. Đặc biệt là lễ Vu Lan rằm tháng bảy:

Đêm rằm tháng bảy Vu Lan,
Phận con báo hiếu muôn ngàn ghi ân.


Ngoài ra còn có những ngày lễ hội làm chay, cúng cô hồn, tết, lễ, mùng một, cúng sao … Trong những ngày lễ hội truyền thống ấy, từng dòng người về chùa tấp nập, kể cả người không phải là Phật tử, không theo đạo nhưng vì ông bà họ thường làm như vậy, con cháu cứ đó mà làm theo.

Ở đây xin được nói thêm về nguồn gốc của một số tục lệ thông thường ở chùa được người dân tin tưởng như sau:

Ca dao có câu:

Trong tháng bảy chẳng hội thì chay,
Tháng sáu heo mây chẳng mưa thì bão.


Về truyền thống của những tục lệ làm chay, cúng cô hồn được xuất phát từ đời Đường bên Trung quốc. Tục truyền vua Đường Thái Tông một lần nằm mộng thấy có nhiều oan hồn đến đòi mạng. Sau khi tỉnh dậy, nhà vua hoảng sợ nên nhờ pháp sư Huyền Trang tìm cách cứu giúp. Ngài Huyền Trang căn cứ vào kinh Vu Lan Bồn mà tổ chức đàn tràng làm lễ giải oan cho những oan hồn ấy nhằm vào ngày tự tứ (rằm tháng bảy), Ngài kết hợp với lễ cúng cô hồn trong kinh Vu Lan để thực hiện. Từ đó vua không còn thấy chúng đến đòi mạng nữa và tục lệ cúng cô hồn cũng có ra từ đó.

Đến đời Tống có ngài Bất Không Tam Tạng (chuyên tu mật giáo ở Núi Mông, thuộc tỉnh Tứ Xuyên –Trung Quốc) Sau khi chứng ngộ, nhìn thấy các cô hồn đói khổ ở cỏi âm đến xin ăn, Ngài đọng lòng từ bi vận tâm tụng thần chú cho các loài cô hồn ấy nghe xong thì tự no đủ. Từ đó Ngài cũng soạn ra nghi thức cúng thí, đó là nghi Mông Sơn thí thực (do Ngài ở núi Mông nên lấy tên núi đặc tên kinh) được lưu truyền đến ngày nay. Nghi thức này được các chùa thực hành đọc tụng vào buổi chiều mỗi ngày, nhưng hiện nay do vì điều kiện nên đã được lượt bớt đi nhiều, chỉ sử dụng khi có những Trai Đàn quan trọng. Những lễ lớn gọi là đàn Mông Sơn hay đàn Chẩn Tế, do một vị sư đạo cao đức trọng chủ trì.

Ngoài ra, lễ hội làm chay (thường được tổ chức ở chùa) là một sự bố thí thức ăn hoặc vật thực cho người sống, là một cách để tạo phước, kết hợp với đàn Mông Sơn mà cứu tế cho thập loại cô hồn, cầu nguyện họ sớm lên đường giải thoát. Tục này rất được  nhiều người tin tưởng.

Đại thi hào Nguyễn Du trong một đoạn văn tế cô hồn, ông cũng nói:

“Tiết đầu thu lập đàn giải thoát
Nước tỉnh đàn rưới hạt dương chi
Muôn nhờ Đức Phật từ bi
Giải oan cứu khổ hồn về Tây Phương”.


Lễ vật cúng cô hồn gồm kẹo, bánh, trái cây … sau khi cúng xong, người ta thi nhau giựt đồ cô hồn đem về cho con cháu. Họ tin rằng nếu trẻ con ăn được các thứ này sẽ được mạnh khỏe, không ốm đau bịnh tật, không bị tà ma ám ảnh …

Nếu như rằm tháng bảy được xem là ngày Tết cuả cô hồn thì rằm tháng giêng lại là ngày Tết quan trọng của hầu hết các tín đồ Phật giáo.

Tục ngữ có câu: “Lễ Phật quanh năm không bằng rằm tháng giêng”, vì người ta tin rằng rằm tháng giêng sẽ có Phật giáng lâm tại các chùa chiền để chứng minh lòng thành của tín đồ Phật tử. Trai gái cũng cùng nhau đến để khấn thệ, cầu duyên … (rằm tháng giêng theo sách Trung hoa không phải là ngày lễ của Phật giáo mà xưa gọi là tết Trạng Nguyên, là ngày nhà vua mời các ông Trạng về vườn Thượng Uyển để thi thơ ngắm cảnh, ca ngợi cái đẹp của hóa công và ân đức của vua cùng xem hoa thưởng nguyệt, ngắm cảnh gió mát trăng thanh của tiết đẹp đầu xuân. Sau này đổi thành Tết thượng nguyên).

Lễ tết ở chùa thực ra cũng chỉ là do ảnh hưởng của văn hóa thế gian, người đời ăn Tết theo truyền thống (sẽ nói ở phần sau) với tập tục lễ Phật đầu năm nên ở chùa cũng theo đó mà ăn tết, nhưng với tín ngưỡng cúng sao cầu an thì đa số được người dân quê chú trọng hơn hết.

Theo Trung Hoa thì ngày mùng 8 (hoặc rằm tháng giêng - tùy nơi) là ngày vía Thiên Quan, nghĩa là các chùa đều làm lễ dâng sao (còn gọi là Cúng Sao Hội, một phương pháp để giải trừ tai ách suốt năm). Theo các nhà thuật số, mỗi người đều có một vì sao chiếu mạng, nếu như năm đó ai trúng phải vận xui gặp nhằm ngôi sao xấu thì trong suốt cả năm có thể gặp nhiều tai nạn, hoặc bệnh tật liên miên không thuốc nào chữa khỏi. Tuy nhiên, sao chiếu mạng cũng tùy theo tuổi tác, nên ngày cúng cũng khác nhau. Người ta có thể lập bàn thờ cúng vái ở nhà, hoặc như ai không có điều kiện cúng ở nhà thì về chùa cúng sao hội. Họ làm như thế để mong xả bớt vận xấu đi. Tín ngưỡng này rất được tin tưởng ở đồng bằng Nam bộ cho đến hôm nay vẫn phổ biến.

Đối với người Khemer Nam bộ thì tục lễ chùa theo truyền thống này chiếm phần đa số, vì chùa là máu thịt, là linh hồn của họ bởi: “Người con trai Khmer mới mở mắt chào đời đã nghiểm nhiên trở thành một tín đồ Phật giáo” Đó là vì Tổ Tiên xưa đến cha anh họ, dù ở tại gia cũng đã có một thời lên chùa làm sư sãi (vì người Khrme tu hành theo Phật giáo Tiểu thừa) lớn lên một chút đi học trường chùa. Bắt đầu từ 12 tuổi thì được khuyến khích vào chùa tu hành [27, 231]. Việc tu hành này được xem như là để đền ơn cha mẹ. Địa vị sư sãi đối với người Khrme là địa vị được tôn trọng nhất trong xã hội, là một trong ba ngôi tam bảo. Ngược lại, người không được vào chùa tu hành bị coi là người có nhiều tội lỗi nhất trong đời sống, (người Khmer có câu châm ngôn: Rucal minba buos tul chia tô KuôngSamay). Toàn dân Khrme có bổn phận phải nuôi sống ngôi của mình bằng cả vật chất lẫn tinh thần, thế nên việc tu hành của họ vừa là nghĩa vụ, vừa là vinh dự. Nếu ở chùa tu suốt đời thì tốt, nếu về nhà xây dựng gia đình thì cuộc sống của họ vẫn gắn liền với chùa bằng tất cả niềm tin Phật giáo. Khi chết họ cũng được “che chở dưới bóng bồ đề”, nghĩa là xương cốt được đem gởi trong tháp chùa.

Đến các ngày lễ như lễ Phật Đản, lễ nhập hạ, lễ xuất hạ, lễ dâng y Kathina, lễ cơm vắt, lễ kiết giới, lễ an vị Phật của người Khmer có khi là định kỳ, có khi không phải định kỳ, nhưng dù định kỳ hay không thì tất cả nam nữ toàn dân đều có nghĩa vụ phải tham dự với nội dung là dâng lễ phẩm cúng Phật, dâng cơm cho sư sãi và cầu phước cho mọi người. Mỗi tháng bốn ngày vào mùng 8, 15, 23 và 30, tín đồ đều phải đến chùa lễ Phật, cầu kinh. Như vậy đối với nguời Khrme chùa là không gian thiêng liêng nhất, là biểu tượng của các mặt thuộc về lãnh vực kinh tế, văn hoá, nghệ thuật của cả phum sóc họ.

Ngoài ra, tất cả mọi nghi lễ ngoài đời của họ đều gắn liền với Phật giáo, chẳng hạn như lễ Chol Chnăm Thmây (đón năm mới), lễ Oóc ombok (cúng trăng vào đêm 15 tháng 10), lễ Xen đôn ta (cúng ông bà, tổ tiên), lễ Somtuc phliêng (cầu mưa), lễ cưới, lễ tang. Trong những lễ hội này có nội dung và nghi thức riêng, nhưng có một điều chung nhất là bất cứ lễ hội nào họ cũng thỉnh các nhà sư và các nhà sư này luôn luôn có mặt.

Trên đây là những nét cơ bản, nó mang những bản sắc riêng biệt, đó cũng là một trong những nét đặc trưng để người ta có thể phân biệt được các quốc gia với nhau.

Giáo sư Huỳnh Khái Vinh đã từng nhận định: “Lễ hội cổ truyền là mảnh đất mầu nhiệm nhất tạo cho tôn giáo Nguyên thủy sức mạnh của khả năng thuyết phục cũng như tính phổ quát trong đời sống văn hóa dân gian. Điều đó cho phép người Việt đi sâu hơn một chút vào vấn đề Lễ hội truyền thống, tìm thấy ở đó những tính chất hợp lý và cần thiết để làm sáng rỏ  tôn giáo thực sự là một nhu cầu  tinh thần của con người”[28, 258].

Đối với tín ngưỡng thì dù ở khía cạnh tích cực, trung tính hay tiêu cực thì tôn giáo và tín ngưỡng cũng đóng vai trò không nhỏ đối với lối sống đạo đức, chuẩn mực xã hội ở một đất nước có truyền thống tu tâm và bài ngoại như ở Việt Nam.

Ai ơi hãy ở cho lành,
Kiếp này chẳng đặng đễ dành kiếp sau.


Sự tin tưởng một đấng siêu hình nào đó mà họ cho là tối đại, các vị ấy có thể là Phật, là Thần Thánh… chính sự tín ngưỡng này là cha đẻ của các phong tục tập quán mang nặng tính chất tâm linh mà ở đó có một sức mạnh siêu tự nhiên, chúng luôn can thiệp vào đời sống trần tục của con người. Lòng tin này không nhất thiết phải theo một tôn giáo nào, chủ yếu là cái tâm, niềm tin và sự ngưỡng mộ hoặc có khi là sự sùng kính của con người đối với một đối tượng như một vật thể có giá trị tuyệt đối, một lý tưởng xã hội, một chuẩn mực đạo đức, một nếp sống tốt đẹp hay một con người có tư cách chói rạng phi thường. Những giá trị ấy luôn bền vững và thiêng liêng đối với họ, nó làm cho cuộc sống tâm linh của họ ngày một thăng hoa hơn đưa đến giá trị chân thật của cái đẹp mà mọi người cần hướng đến.

Về lĩnh vực văn hóa, nhà chùa là một thực thể có những nét riêng biệt nhưng lại hội nhập với văn hóa dân gian, truyền thống, đượm nhuần và lắng động trong tư tưởng của mỗi người dân, nó được xem như là văn hóa dân tộc. Văn hóa dân gian được biểu hiện khá đầy đủ qua các mặc như giáo điều, đức tin, thuần phong mỹ tục, hội họa, điêu khắc, âm nhạc…

Về giáo điều, như năm giới cấm của đạo Phật (không sát sinh, không trộm cướp, không tà dâm, không uống rượu, không nói dối) là biểu tượng của một lối sống đạo đức tốt đẹp. Nó làm cho người ta có đủ nhân cách của một con người đúng nghĩa, đưa đến đời sống chân-thiện-mỹ một cách tự nhiên.

Các biểu tượng đặc sắc khác được thể hiện qua nghệ thuật, kiến trúc, điêu khắc mang đậm dấu ấn Phật giáo như Phật Bà Quan Âm nghìn tay nghìn mắt, bánh xe luân hồi, đài sen, những con vật hóa kiếp, hoặc những hoa văn, phù điêu, những mái cong với hình ảnh tứ linh (bốn con vật linh thiêng của văn hóa Đông phương) Long, Lân, Qui, Phụng được chạm khắc rất tinh vi, nó thể hiện qua trình độ kiến trúc theo từng thời đại. Do vậy, nhìn vào ngôi chùa là ta thấy ngay một ý đồ văn hóa chứ không chỉ riêng là không gian tu hành. Tuy đó là những biểu tượng duy vật nhưng nó lại mang tính vận động một cách đầy trí tuệ triết học. Ví dụ như hình ảnh Phật Bà Quan Âm nghìn tay nghìn mắt là mang ý nghĩa của sự thần thông, thiên biến vạn hóa, nhìn khắp mọi nơi đưa tay cứu khổ. Đài sen là biểu thị một tâm hồn trong trắng, thuần khiết hay những con vật hóa kiếp biểu hiện giáo lý nhân quả luân hồi. Hiện tượng Bồ Tát Địa Tạng tay cầm viên minh châu soi đường chống tích trượng phá địa ngục cứu khổ cho loài ngạ quỷ. Phật Di Đà đưa tay tiếp dẫn các linh hồn vừa mới chết… cùng các hình tượng khác như các vị La Hán, mỗi người mỗi vẻ mặt biểu hiện nhiều ý nghĩa khác nhau (như nhà thơ Huy Cận đã từng miêu tả). Người dân chiêm ngưỡng như bị cuốn hút vào tượng, trong phút chốc người và vật hòa nhập vào nhau bằng một sự cảm thông sâu sắc, một sự an ủi vô hình dường như là mê tín nhưng lại mang tính chất thiết thực vô cùng, bởi vào giây phút ấy mọi chao đảo cuộc đời đều lắng dịu.

Ngoài ra, các pháp khí, các cổ vật được bài trí trang trọng hài hòa tạo nên vẻ tôn nghiêm huyền bí nhưng vô cùng thẩm mỹ. Những khí cụ như chuông, mõ trống, khánh… được các sư tăng sử dụng trong những buổi lễ với âm điệu nhịp nhàn như từng nốt nhạc du dương trầm bổng, nhẹ nhàn đi sâu vào lòng người không biết tự bao giờ, trong phút chốc bao nổi lo âu phiền muộn tan biến, tâm hồn hòa nhập với thực tại cuộc sống một cách mầu nhiệm vô cùng. Đúng như nhận định: “Tôn giáo là một hiện tượng văn hóa hay là một thực thể văn hóa, nhất là đối với văn hóa dân gian…” [28, 259].

Chùa còn là nơi tập trung sinh hoạt của lễ hội truyền thống, trong đó có sự hòa  nhập của cộng đồng người với quê hương dân tộc. Những ngày lễ Phật giáo là sự gắn bó giữa người và người với nhau, nâng cao tình yêu thương, hy sinh, vị tha, tôn kính bậc tiền nhân mà gần nhất là ông bà cha mẹ. Ngoài ra, trong kho tàng văn học Việt Nam còn có nhiều truyện cổ, thơ ca mang đầy tư tưởng giáo lý nhân qủa của đạo Phật như ở hiền gặp lành:

Đạo Trời phúc báo chẳng lâu,
Hễ là thiện ác đáo đầu chẳng sai.


Các bài ca dao trữ tình nói về chùa chiền cũng không kém  phần đặc sắc:

Lên chùa lại Phật Thích Ca,
Lại ông Tam thế vua cha Ngọc Hoàng.
Bước ra kết nghĩa cùng nàng …


Rồi đến loại hình ca dao trào phúng nhằm chế giểu các nhà sư với sự châm biếm hồn nhiên mà không ác ý:

Sư đương tụng niệm nam mô,
Thấy Cô sách giỏ mò cua bên chùa.
Lòng Sư luống những mơ hồ,
Bỏ cả kinh kệ tìm cô hỏi chào.
Ai ngờ cô đi đàng nào,
Tay cầm tràng hạt ra vào băn khoăn.


Còn nữa không biết là bao nhiêu truyện cổ dân gian mang đầy hình bóng Phật giáo, như Thạch Sanh bao lần gặp nạn, được Phật ngài hóa thân cứu giúp đã thắng được mưu gian thoát vòng oan trái …

Như vậy, Phật đã hòa nhập vào đời sống văn hóa Việt Nam một cách rất hài hòa và thi vị. Con người dù không phải là tín đồ Phật giáo, nhưng họ vẫn biết sợ cái ác, tin tưởng cái thiện, rất ý thức trong mọi hành động, đặc biệt là  câu “Nam mô A Di Đà Phật” được sử dụng trong mọi lễ thức. Hơn thế nữa, đối với các tín đồPhật giáo, hầu như các tín điều đã thâm nhập vào cuộc sống sinh hoạt hằng ngày của họ, thâm nhập vào tư duy của thế nhân tạo sự cộng tồn của những xu hướng, những nghi thức bắt nguồn từ giáo thuyết được tồn tại đến ngày nay.

2.1.2. Hội Bà Chúa Xứ núi Sam (Châu Đốc - An giang).  

Đối với bà Chúa Xứ núi Sam thì có nhiều truyền thuyết khác nhau nói về xuất xứ của bà, ở đây chỉ xin nói sơ qua một số đặc điểm chính là người ta phát hiện ra tượng bà vào khoảng năm 1820 - 1825 trên đỉnh núi Sam. Bà được mang xuống lập đền thờ dưới chân núi, bên cạnh chùa Tây An.

Bà Chúa Xứ theo lập luận khoa học là tục thờ nữ thần Uma, người trông coi và bảo trợ cho các bà mẹ trẻ, hài nhi, phụ nữ, hoa màu, mùa màng, gia súc. Nữ tthần Uma là vợ thần Civa (Siva), nữ thần này có hai mặt nghịch nhau. Nếu tôn thờ, cúng kiến đầy đủ thì bà là một nữ Phúc thần với tên Uma. Nếu có điều sai trái với bà, bà sẽ là một nữ Ác thần Kali với sự trừng phạt.

Theo Bà la môn giáo, nữ Ác thần Kali có màu da đen, nét mặt dữ dằn, có nanh. Thế nên người theo đạo Bà La Môn phải hiến tế một người con gái đồng trinh để lấy máu bôi lên tượng Kali mà chuộc tội. Người dân Chàm vốn theo Mẫu hệ nên trước khi theo đạo Bà La Môn (vào đầu Công Nguyên) đã có tục thờ bà Chúa Xứ (Ponaga) ở mỗi Plei (làng, thôn). Khi tiếp thu Bà La Môn giáo tục này vẫn được bảo lưu nhưng đã được bản địa hóa việc thờ Uma, Kali là một với bà Chúa Xứ. Người Khmer trước khi theo Phật giáo Tiểu thừa cũng đã theo Bà la môn giáo và việc thờ bà Chúa Xứ còn được gọi là bà Đen (tượng nữ thần Kali màu đen), còn người Việt ở Nam bộ gọi là bà Chằn.

Hằng năm, cứ vào khoảng tháng 3 là người người tấp nập từ khắp mọi nơi đổ về để “vía bà”, mặt dù lễ hội chính thức vào ngày 23 và 24 tháng 4 âm lịch (có một số người bắt đầu đi từ đầu tháng giêng, sau khi ăn tết xong).

Nghi thức hành lễ diễn ra trong suốt 3 ngày (từ 24 đến 27) với nhiều hình thức tưởng niệm trong đó có cả lễ tưởng niệm Thoại Ngọc Hầu (Một công thần triều Nguyễn có công khai phá vùng biên giới Tây nam  của đất nước. Sau khi ông chết, dân Vĩnh Tế tôn thờ ông như một vị thần Thành Hoàng). Nhìn chung, cả lễ hội này đều mang bóng dáng một lễ cúng kỳ an (hoặc lễ hạ điền các vua chúa ngày xưa) của các đình làng ở Nam bộ.

Trong các lễ hội đình làng ở Nam bộ thì lễ hội bà chúa xứ Núi Sam được xem là quan trọng hơn hơn hết.

2.1.3. Hội đền Linh Sơn Thánh Mẫu  (Bà Chúa xứ núi Bà Đen - Tây Ninh).

Tín ngưỡng Bà Đen (Néang khamau) được hiểu như sau: “Bà Néang Khamau là nữ thần coi sóc một vùng, được sùng bái như ông Tà được người Việt quen gọi là Bà Chao” [14, 36]. Có tác giả viết: “Đây, chúng ta hãy nghe người Chàm kể lại sự tích vị Thánh mẫu của họ: Pô Ino Nagar, tục gọi Bà Đen (Muk Juk) là một nữ thần được người Chàm sùng bái nhất: Ngày xưa Ngài do những áng mây trời và bọt  nước mà hóa thành…”

Sau khi đã bản địa hóa, người Việt Nam bộ vẫn xem đây là một vị thần có quyền năng tối thượng, có thể giúp cho họ toại nguyện, che chở cho họ được bình an mạnh khỏe, phát tài phát lộc. Bà Đen được tôn trí tại chùa  Phước Lâm (thuộc P1. Thị xã Tây Ninh) với hình dáng người phụ nữ Nam bộ. Bà được vua Gia Long phong làm “Linh Sơn Thánh Mẫu”.

Hàng năm mở hội từ mùng 10 cho đến rằm tháng giêng, nhưng lễ vía  chính thức vào 2 ngày mùng 5 và mùng 6 tháng 5 âm lịch. Kinh văn  và nghi thức cúng hoàn toàn theo Phật Giáo (không có văn tế riêng). Theo đó ta thấy ở đây có sự pha trộn giữa Bà la môn giáo, Phật giáo và tín ngưỡng bản địa, nó được thể hiện từ truyền thuyết đến nghi thức hành lễ. Tuy nhiên, nếu dựa vào bối cảnh lịch sử để xem xét thì tín ngưỡng có trước hơn Phật giáo do các cư dân từ miền Trung mang vào, chúng kết hợp lại để phù hợp với bản chất và bản sắc dân tộc của từng vùng thông qua từng giai đoạn lịch sử của đất nước.

2.1.4. Lễ hội Gò Tháp (Bà chúa xứ gò Tháp). 

Miếu bà thờ tại xã Tân Kiều - Tháp Mười -Đồng Tháp (gần đền thờ của Thiên Hộ Vương và Đốc Binh Kiều), với kiến trúc khá qui mô.

Lễ giỗ hàng năm vào ngày 15 tháng 3, khách hành hương từ khắp nơi tìm về có trên hàng vạn người.

Về nguồn gốc và thân thế của bà thì không rõ lắm chỉ biết đây là dạng tín ngưỡng Bà Chúa Xứ tiêu biểu ở Nam bộ bắt nguồn từ tục thờ Bà (còn gọi là Đạo Mẫu), thờ Mẹ theo truyền thống của người Việt. Nhưng đối với bà Chúa Xứ Gò Tháp thì tùy theo tâm thức của mỗi người mà cho rằng bà là hiện thân của các bà: Chúa Xứ Thánh Mẫu, Bà mẹ xứ sở, bà Linh Sơn Thánh Mẫu, (ở núi bà Đen Tây Ninh), bà Ngủ Hành Nương Nương, bà Chúa Xứ Núi Sam (Châu Đốc), thậm chí có người còn cho là Hai Bà Trưng.

Khách thập phương đến cúng mục đích chính cũng là để cầu tài, cầu lộc, cầu mua may bán đắt, cầu được tai qua nạn khỏi… Điểm đặc biệt của lễ hội nơi đây là nghi thức “múa bóng” ở đêm rằm là không thể thiếu trong ngày lễ.

Lễ hội Gò Tháp mỗi năm có đến hai kỳ, ngoài giổ Bà (15 tháng 3) ra còn có giổ Ông (tức là hai ông Thiên Hộ Dương và Đốc Binh Kiều) diển ra vào ngày 15 tháng 11.

Tuy vậy, tục cúng lễ của người dân Nam bộ là “cúng Bà thì phải kiến Ông” và “cúng Ông thì phải kiến Bà” cho nên cả hai kỳ cúng tuy thời gian khác nhau nhưng đều là lễ lớn, giống như lễ cúng bà Chúa xứ ở Núi sam đồng thời cũng tổ chức cúng Thoại Ngọc Hầu. Nó còn là nơi để biểu hiện sự gắn kết giữa tín ngưỡng (niềm tin) với lòng tri ân của người Việt Nam với những người có công với quê hương tổ quốc.

Đối với người dân Nam bộ, khi đến với các bà chúa xứ là đến với sự linh thiêng, mầu nhiệm, nên khi tiếp xúc họ đều mang một tâm niệm là “cầu”với lòng tin tuyệt đối về khả năng ban phúc, giáng họa của quí bà, trên thực tế có cầu được hay không lại là chuyện khác. Chính vì lẽ đó mà ảnh hưởng của quí bà càng ngày càng lang rộng khắp nơi, thậm chí có người còn đồng hóa giữa các bà với đức Quán Thế Âm Bồ Tát và gọi “Mẹ Quan Âm” với sự tin tưởng ở chức năng tương tự và hầu hết các làng xã điều xuất hiện những miếu thờ bà, đặc biệt là trong các khuôn viên đình, chùa. Miếu của vị nữ thần này được tôn trí bên cạnh miếu ngủ hành, thổ địa.

Qua thực tế đó cho ta thấy tình trạng tín ngưỡng bà chúa xứ đã chi phối mạnh mẽ và phổ biến trong đời sống tâm linh của cộng đồng người Việt lẫn người Hoa ở Miền Tây Nam bộ.

2.1.5. Lễ hội Vàm Láng với tục thờ và rước cá Voi:

Lễ hội này thường dành cho cư dân vùng biển, mục đích là để cầu cho được mùa cá, cầu an và tạ ơn ông “Cá Voi” đã cứu nạn trên biển. Đây là lễ hội quan trọng nhất đối với họ trong năm.

Những ngày lễ diễn ra ở các lăng miếu thờ Ông từ tháng 3 đến tháng 8 âm lịch (tùy theo không gian và thời tiết). Tuy nhiên, lễ hội ở Vàm Láng, lăng Dinh Vạn tổ chức hằng năm vào ngày 15, 16 tháng 6 âm lịch là long trọng hơn cả.

Nguồn gốc của lễ hội này bắt nguồn từ nhiều sự tích thần bí nói về cá Voi giống như các linh vật khác, trong đó phải kể đến một truyền thuyết có xuất sứ từ Phật giáo như sau:

Tục truyền, cá Voi là tiền thân của đức Bồ Tát Quán Thế Âm, Ngài hóa thân để cứu khổ cư dân vùng biển. Một hôm, Bồ Tát đang cởi tòa sen lướt qua vùng Nam Hải, thấy cư dân đang đánh cá bổng bị bão lớn, cơn bão đã nhận chìm tất cả  thuyền ngư, người chết vô số kể. Ngài động lòng từ bi lấy Pháp Y xé tan quăng vào biển, rồi mượn bộ xương to lớn của ông Tượng trên rừng mà biến thành những đàn cá Voi khổng lồ kịp đưa mọi người vào nơi an toàn. Vì thân cá to lớn, bơi đi chậm chạp nên Bồ tát ban cho cá Voi phép thu đường để kịp cứu nguy. Từ đó, cá Voi có nhiệm vụ cứu mọi tai nạn trên biển. Có một lần cá Voi đã cứu nguy cho vua Gia Long đưa vào bờ Vàm láng (thuộc Kiểng Phước- Gò Công- Tiền Giang) trên đường đào tẩu quân Tây Sơn. Sau khi bình định, vua sắc phong cá Voi làm Nam Hải Đại Tướng Quân. Đối với những người dân chày, họ rất tôn trọng và biết ơn nên thường gọi là ông Nam Hải, cá Ông, ông Thông, ông Chuông, ông Máng …Ngoài ra, họ còn kiêng kị cả những tên gọi thông thường. Ví dụ như cá ông chết thì gọi là Lụy.

Sau khi cá chết được các thủy Thần (gồm cá Đao, Trạch, Tôm, Mực) bảo vệ xác cho đến lúc được các ngư dân phát hiện rước về làm lễ.

Lễ Tang cá Voi rất long trọng bao gồm các nghi tiết như cầu siêu, tạ mộ, tuần thất, đại tường …họ làm giống y như người vì bởi họ rất sợ và kính ông.

Tương truyền cá Voi rất linh nghiệm cho dù còn sống hay đã chết. Nếu sau khi chết rồi mà trong những ngày tang lễ có ai đó bất kính hoặc không tin tưởng với ông, đều bị ông trừng phạt bằng nhiều cách. Ngoài ra, theo cư dân Vàm Láng, trong những ngày hội có thể có cá Voi về dự, nó được biểu hiện bằng những tia nước trắng xóa bắn vọt lên cao ở ngoài khơi, điềm lành này được xem là báo hiệu ngư dân sẽ được mùa cá.

Trong các lễ hội này, cư dân thường thỉnh các vị Sư ở chùa đến để tụng kinh cầu an. Lễ vật vô cùng phong phú. Thuyền bè chuẩn bị rất lộng lẩy có cả các Nhạc công, Ca nhi hợp cùng Hương cả và các chấp sự đi từ rạch Vàm Láng về sông Soài Rạp, dừng lại trước cửa sông phía bờ biển trổi nhạc làm lễ “nghinh Ông”. Hai bên rạch, thuyền lớn, thuyền nhỏ đều giăng đèn màu sắc rực rở, trên bờ dân chúng sắp bài hương án đón Ông. Trăng rằm vằn vặc, đèn hương sáng tỏ làm cho không gian thêm tưng bừng lộng lẩy.

Tóm lại, người ta tin tưởng Ông đến mức hầu như mê tín. Sự linh thiêng của cá Voi có những lúc dẫn đến việc nhập cốt, lên đồng, xin xâm, bói quẻ. Nhưng dù sau lễ hội Vàm Láng của cư dân vùng biển vẫn là những ngày hội văn hóa và tục thờ rước Cá Voi đã ăn sâu vào nếp sống ngư dân Việt Nam, nó đã trở thành truyền thống tốt đẹp không thể xóa mờ trong ký ức.

2.1.6. Tục đưa rước Táo quân: 

“Đất có Thổ công, sông có Hà bá” là một truyền thống tín ngưỡng được người dân Việt tin tưởng và tôn thờụ. Hầu hết các gia đình, người ta luôn nghĩ  là có một “ông Táo” trong nhà bếp, vị Táo này được thờ với tư cách là “đệ nhất chi gia chủ” (vị chủ thứ nhất của một nhà). Bởi ông là vị thần quan trọng nhất trong gia đình, được tôn trí ở khu viên nhà bếp nên còn gọi là Thần bếp.

Vị Thần này tuy nói một nhưng lại là ba. Theo truyền tích nói về một người đàn bà và hai người đàn ông, cả ba người vì trọng tình trọng nghĩa đã tự nguyện nhảy vào đóng lửa chết cháy. Thượng đế cảm thông cho tấm  lòng cao thượng của họ nên phong cho cả 3 làm Táo quân với 3 ba chức vụ như sau: Thổ công thì trông coi việc nhà bếp, Thổ địa trông coi việc trong nhà, còn Thổ kỳ thì trông coi việc chợ búa.

Bài vị có bốn chữ: “Định phúc Táo quân”. Nghĩa là ông Vua táo quyết định phúc đức cho gia đình, ông này có nhiệm vụ là theo dõi các việc làm thiện ác trong một nhà (có người còn gọi là Phật táo, ông Thần bếp). Nếu gia đình nào thường biết tu nhơn tích đức, biết ăn hiền ở lành thì đến ngày 23 tháng chạp hằng năm, ông Táo lại bay về Thiên đình để trình báo với Ngọc hoàng những việc làm ấy của con người ở trần gian. Ngọc Hoàng theo đó xem xét mà thưởng ban phước đức hoặc trừng phạt nếu họ làm các việc vô nhơn trái đạo. Chính vì vậy mà ông được tôn là “Đệ nhất chi gia chủ”.

Hai bên bài vị này còn có hai câu đối như sau:

Hữu đức năng ty hỏa
Vô tư khả đạt Thiên

(Ý nói: Do sự công minh chính trực mà có thể lên Trời).


Như vậy, ông Táo chỉ là một vị thần có phép thần thông có thể lên trời xuống biển, làm công việc của một phán quân để luận công định tội.

Lễ cúng thông thường vào những ngày sóc vọng (ngày rằm và 30), nhưng ngày Tết của ông chính thức vào 23 tháng chạp. Người ta tin rằng ngày ấy các ông lên trời để chầu Thượng đế cùng báo cáo các việc làm của họ, vì thế họ thiết lễ tiển đưa. Việc làm này như để gieo tình cảm với các ông để trước Ngọc Hoàng các ông lựa lời mà tâu rổi. Đó là bản chất tự nhiên của dân gian và nó luôn được thực hành không để thiếu sót, lâu ngày thành tục lệ.

Lễ vật cúng tiễn ông cũng không cầu kỳ chi lắm, chỉ là chè, xôi, bánh, mức. Có nơi còn thêm bộ đồ cúng bằng giấy có in hình con cò và con ngựa (cò bay ngựa chạy) để các ông cởi về Trời. Nghi thức này giống như “xá mã”, “xá hạt” trong Phật giáo, là biểu tượng của những con vật chuyên mang sớ lên trời và xuống đất. Hơn nữa, các vị thần thánh trên trời khi đi thường phải có một con vật để cỡi.

Các vật cúng này được bài trí trên bàn thờ ông, còn những gia đình nào không có bàn thờ thì họ vẫn tin tưởng có ông táo và đặt các lễ cúng trên một cái mâm ở nơi thuận tiện nhất. Văn khấn vái thông thường chỉ vái đơn sơ theo cách hiểu của từng người. Nhưng những người có hiểu biết và thường hay cúng thì lại vái có văn bản hẳn hòi, họ vái cả ba vị: “…cung thỉnh bản gia thổ công, Đông trù tư mệnh táo phủ thần quân vị tiền, bản địa thổ địa thần kỳ vị tiền lai lâm chứng giám …”

Sau bảy ngày người ta lại làm lễ rước Ông về cùng với lễ đón Ông Bà vào đêm giao thừa 30 Tết.

2.1.7. Tục thờ cúng Tổ Tiên: 

Cổ đức có câu:

Cây có cội mới trổ cành xanh lá
Nước có nguồn mới bủa khắp rạch sông.


Thờ phụng tổ tiên là tín ngưỡng các dân tộc vùng Đông Nam Á, nói ngữ hệ Nam Đảo và Nam Á. Nó được thể hiện qua nhiều cách khác nhau theo truyền thống “uống nước nhớ nguồn” của đân tộc Việt Nam từ khi có mặt trên đất nước này. Người Việt Nam rất trọng tình trọng lễ, họ sống với nhau rất thủy chung son sắc mà không phân biệt màu da hay chủng tộc, tôn giáo… Hơn thế nữa, chính tổ tiên là người đã sinh ra ông bà cha mẹ họ, nên họ kính dưỡng cha mẹ tức nhiên phải nhớ tưởng đến ông bà tổ tiên. Lúc còn sống thì hết lòng phụng dưỡng, khi qua đời thì lo ma chay chu tất, từ việc lập bàn thờ để hằng ngày cúng bái cho đến giổ quải, lễ lộc hằng năm.

Mỗi nhà đều có bàn thờ dù nghèo hay giàu. Nếu nhà nghèo thì bàn thờ sơ sài, nếu giàu có thể lập một nhà thờ họ tộc riêng, bỡi không ai lại không có ông bà nên việc thờ phụng tổ tiên ngoài vấn đề lễ nghĩa ra nó còn là thuần phong mỹ tục. Tuy nó không phải là giáo điều nhưng từ lâu nó được xem như một điều luật buộc người ta phải tuân thủ, truyền thừa một cách nghiêm túc. Đó là việc làm thể hiện lòng thành kính và biết ơn của con cháu, và nếu như một ai đó cố tình làm trái đi điều lệ ấy thì lập tức được xem như một người có tội, một kẻ xấu của gia đình và xã hội.

Trong Việt Nam Phong Tục, Phan Kế Bính đã viết: “Xét cái tục phụng sự tổ tiên của ta rất là thành kính, ấy cũng là một lòng bất vong bản, ấy cũng là một nghĩa cữ của người”[3, 21]. Thật vậy, một con người dù được cho là thành đạt trong xã hội mà người ấy sống một cuộc đời vong ơn bội nghĩa, chẳng quý trọng ông bà tổ tiên thì vẫn được xem là một hành vi phi đạo đức, lặp tức bị mọi người miệt thị khinh chê và chắc chắn kẻ ấy không phải là một mẩu người lý tưởng. Vì một kẻ vong bản dĩ nhiên không có các khái niệm về nguồn cội, họ chỉ biết sống trong hiện tại, không biết trước sau, không tin nhân quả, và chính những ý nghĩ ngốc nghếch đó dễ dàng đưa họ đi đến những hành động sai lầm.

Việc thờ cúng tổ tiên theo quan niệm của người phương đông là người tuy chết nhưng linh hồn không chết, họ vẫn lảng vảng đâu đó hoặc thường lui tới gia đình, hoặc luôn ngự trên bàn thờ để phù hộ cho con cháu. Vì thế nên con cháu muốn làm gì cũng phải tính toán cho kỹ lưỡng, tránh những việc làm sai trái, những việc mà ông bà cha mẹ hồi sanh tiền không ưa thích. Bởi tin tưởng như vậy nên việc thờ phụng, cúng kính càng thêm tôn trọng.

Hằng năm cứ đến ngày mất của tổ tiên là họ tổ chức lễ Giổ để mời họ hàng chòm xóm đến dự như một sự tưởng nhớ, một kỷ niệm ngày ra đi của ông bà. Cũng nhân dịp này để thết đãi cho có sự qua lại với họ hàng, những người xung quanh.

Hơn nữa, tục còn tin rằng “dương gian âm cảnh đồng nhứt lý” (cỏi nhân gian và cỏi âm cùng nhau về lý lẽ). Người sống ở trần gian cần gì thì người chết cũng cần y như vậy, nên vào những ngày cúng kỵ người ta thường mua nào là giấy tiền vàng bạc, quần áo, nhà lầu, xe cộ … (dĩ nhiên là đồ giả) để đốt gởi xuống âm phủ cho tổ tiên mình khỏi phải thiếu thốn. Ngoài ra, những ngày thường nếu có món ngon vật lạ chi người ta cũng thường mang lên bàn thờ cúng vái.

Trong cuộc sống hằng ngày, mổi khi nhà có các sự cố như là có người đau ốm cùng mọi chuyện không may khác, người ta thường hay cầu nguyện ông bà phù hộ cho tai qua nạn khỏi, hoặc các việc  thi cử, làm ăn …

Về nghi thứ cầu cúng, có khi cần phải làm cho đủ lễ như trầu, rượu, hương hoa, xôi chè cùng các thức ăn khác. Trước khi cúng phải khăn áo chỉnh tề, thấp hương khấn nguyện rồi kính lễ. Hoặc có những người chỉ cúng trà nước hoặc đốt nhang khấn xá rồi mời tổ tiên về ăn cũng được. Sau khi hết một tuần hương thì đến lễ tạ, có vàng mả thì đem đi đốt và tưới rượu vào (theo họ làm như thế thì các đồ mả ấy mới biến thành đồ thật dưới cỏi âm). Cuối cùng là dọn đồ xuống hưởng.

Theo lệ thường, cúng hay đi đôi với cầu. Đó không phải là hình thức hối lộ mà chính là sự gần gủi, sự giao thoa giửa ta với những người ngoài thế giới, nhứt là những bậc hơn ta về quyền năng và trí tuệ.

Khi khấn vái phải mời hết tổ tiên mấy đời cùng cô dì, chú bác nội ngoại về ăn chứ không chỉ riêng ông bà mà ta đang thờ phụng.

Chính vì những ý nghĩa đó mà cụ Đồ Chiểu trong một lần bức xúc đã có lần nói đến việc thờ kính tổ tiên như sau:

Dầu đui mà giữ đạo nhà
Còn hơn sáng mắt ông cha không thờ
Dầu đui mà khỏi danh nhơ
Còn hơn sáng mắt ăn dơ tanh rình.


Thật vậy, người Việt nam được gọi là hiếu thảo nhơn hiền tức phải thực thi trọn vẹn việc thờ phụng tổ tiên, bậc sanh thành nuôi nấng ông cha mình, là huyết nhục mà mình đang bảo dưởng, để lưu truyền truyền thống ấy lại cho con cháu, đó là việc làm tốt đẹp để đời sau noi dấu. Nó còn được xem như một chuẩn mực đạo đức của xã hội nên đời đời tồn tại dù trãi mấy biến thiên. Dù cho có bất cứ tôn giáo, triết lý nào cao siêu đến đâu cũng không thể làm cho người ta bỏ quên tổ tiên được.

2.1.8. Tục đưa rước ông bà, dựng nêu ngày Tết:

Các tục lệ như đưa rước Táo quân, đưa rước Ông Bà, dựng nêu … điều có liên quan đến ngày tết, vì vậy trứơc tiên xin trình bày sơ lượt về ngày tết.

Người ta ăn tết là để biết rằng “năm củ đã hết, năm mới đã đến”, là ngày để hội mặt, chúc tụng lẫn nhau … Tuy nhiên, ở Việt nam có 2 loại tết là tết Tây và tết Ta. Tết Tây là tính theo dương lịch (năm chúa JiêSu ra đời) còn tết ta là tết Nguyên Đán (tính theo âm lịch). Nguyên là bắt đầu, Đán là buổi sớm mai. Tết Nguyên Đán bắt đầu từ đêm giao thừa 30 tháng Chạp đến sáng ngày mùng 1 tháng giêng.

Theo Từ Điển của Đào Duy Anh thì Tết  có nghĩa là “củ giao lại, mới tiếp lấy” (tống cựu nghinh tân). Vì nghĩa đó nên có thêm lễ “Trừ tịch” trong đêm giao thừa, tức là  “bỏ đi điều xấu dở, củ kỹ của năm củ để đón những cái mới mẻ, tốt đẹp của năm mới”.

Phan Kế Bính viết trong Việt Nam Phong Tục như sau: “Tục ta tin rằng mỗi năm có một ông Hành khiển coi việc nhân gian, hết năm thì Thần nọ bàn giao lại cho Thần kia cho nên cúng tế để tiễn ông củ và đón ông mới”.

Sỡ dĩ có phong tục này là theo quan niệm củ cho rằng có 12 vị thần Đại vương thay phiên cai trị trong 12 năm (tính theo 12 can - chi) để xem xét thế gian cùng định công luận tội tâu lên Thượng đế.

Đối với người dân quê phần đông thì họ nghĩ khác, người ta không biết các vị thần ấy là ai mà chỉ biết làm theo tục lệ, và ngày Tết cổ truyền này được xem là quan trọng nhất trong năm. Họ rộn rịp thi nhau chuẩn bị trước các thứ từ ngày 20 tháng chạp. Nào là sắm tết, chợ tết, gói bánh tết … cho đến dự định trước việc ăn tết, chơi tết như thế nào. Bởi Tết đối với họ là một ngày “đại đoàn viên” của gia đình truyền thống, con cháu dù làm ăn sinh sống xa xôi cách mấy, đến ngày ấy cũng phải tụ hội về để chung vui, mừng tuổi ông bà cha mẹ và lễ cúng Tổ tiên. Nó còn thể hiện sự thoải máy, rảnh rang sau một năm làm việc vất vã. Thế nên dù công việc gì họ cũng bỏ do quan niệm:

“Tháng giêng là tháng ăn chơi”.


Giàu nghèo gì cũng ăn tết cả:

“Tháng giêng ăn nghiêng bồ thóc”.


Vì mang tâm lý như vậy nên tết đối với những người ấy thường rất kéo dài.

Về lễ thức, đêm giao thừa của họ chỉ là lễ “rước ông bà” (vì họ nghĩ đưa ông Táo là đưa luôn ông bà giống như đưa rước chư Thiên, chư Phật ở các chùa cũng vào những ngày này), với đầy đủ các loại bánh mứt bày cúng trên các bàn thờ, trang thờ trong nhà và bắt đầu  “dựng nêu” (cây nêu được chuẩn bị trước).

Nói về cây nêu có nhiều truyền thuyết khác nhau nhưng mang cùng ý nghĩa:

Cành đa, lá dứa trầu cau,
Vôi  bệt rắc nhỏ chớ trêu mọi nhà.
Quỷ vào thì quỷ lại ra,
Cành đa, lá dứa thì ta cứa mồm.


Theo câu ca dao này, ta thấy ngay một truyền thuyết có liên quan đến Phật giáo về vấn đề ma quỷ như sau:

Ngày xưa có một bọn ma quỷ thường hay chiếm đất của người, bắt phải làm thuê cho nó. Đời sống dân làng vô cùng cơ cực, người dân bao lần thỉnh Phật bày kế cứu giúp nên bọn quỷ mới chịu thua, chúng tức tối lấy đất lại không cho dân làng thuê nữa. Phật thấy dân làng đói khổ liền tiếp tục bày mưu cho dân giao ước với quỷ xin miếng đất rộng chừng bằng bóng áo Cà Sa. Quỷ bằng lòng, Phật bèn dạy người trồng một cây tre rồi đứng trên ngọn hóa phép tung áo cà sa che cả mặt đất. Bóng áo che hết đất quỷ khiến chúng phải dắt nhau ra biển đông sinh sống. Quỷ càng thêm tức tối, bao lần kéo binh vào đất liền để chiến đấu với Phật nhưng đều thua cả, chúng bèn quỳ lạy xin tha và cầu xin Phật mỗi đầu năm được phép về đất liền để thăm mộ tổ tiên. Đức Phật đồng ý, nhưng để tránh sự quấy nhiểu của chúng Ngài dạy người phải dựng cây nêu bên trên có treo lá dứa, tỏi, chuông, khánh sành, phướng giấy… dưới đất rắc vôi bột thành hình cung tên để làm ranh giới trừ ma (đây là những thứ mà loài qủy sợ).

Có tích nói rằng lá phướng là chùm ruột của một kẻ hung ác đã cải hối, hắn phát tâm mổ bụng để dâng lên cúng Phật.

Một tích khác có liên quan đến đạo giáo: Ngày xưa hễ vào dịp đầu năm là có một con “Thiên linh cẩu” trên Trời bay xuống trần gian để ăn hồn người chết. Lúc bây giờ có một đạo sỉ tên là Khương Thái Công (Khương Thượng), có phép thuật rất cao cường, đã hàng phục được con vật ấy. Nó xin tha mạng, Đạo sĩ đồng ý với điều kiện là không được phá làng hại vật nữa, Ông còn bảo hộ dân làng bằng những lá bùa hộ mệnh treo trước nhà như: “Tứ tung ngủ hành và hình cọp”, bùa “bát quái” (thường gọi là bùa nêu). Phía trên là hàng chữ “Khương Thái Công tại thử” (Có Khương Thái Công ở đây) để bọn ma quỷ nghe đến tên ông mà tránh xa nơi đó. Còn có một loại bùa bát quái khác ởũ vòng Thái cực có chữ “Án” (Úm) và hai bên là hai câu chú “Ma Ni Bát Di Hồng” (nguyên văn là Án Ma Ni Bát Di Hồng), câu thần chú trừ tà ma của đạo Phật.

Như vậy, sự tích cây nêu cũng như các loại hình dùng để bảo hộ gia đình, trấn trừ ma quái trên đều có ảnh hưởng của cả Phật giáo và Đạo giáo. Đây cũng là một sự hội nhập tôn giáo vào tín ngưỡng văn hóa dân gian. Tuy nhiên, tục dựng nêu này đối với thời đại văn minh ngày nay được giảm bớt, có một số gia đình thôn quê hầu như không còn nhớ, và số người hiểu biết khác thì cho là không cần thiết nữa. Chính vì lẽ đó mà Bà Huyện Thanh Quan có lần đã châm biếm:

Duyên với văn chương nên dán chữ,
Sợ vì ma quỷ phải trồng nêu.


2.1.9. Tục tang lễ, ma chay cho người chết:

Đối với thế gian, chết là sự kết thúc một đời người, là vĩnh viễn không bao giờ gặp lại, nhứt là đối với những người thân. Sự mất mát ấy trên thế gian này không gì bù đắp được.

Theo giáo lý của nhà Phật, con người có sanh thì ắt có tử theo cái nghĩa  “hữu sanh hữu tử”, thế cho nên “chết” là một quy luật tự nhiên không ai chối bỏ được. Nhưng để thể hiện nỗi nhớ thương tiếc nuối, bao ân đức nghĩa tình khi còn sống với nhau mà họ lo cho người chết bằng tất cả tấm lòng, tấm lòng ấy được thể hiện bằng nghĩa vụ và trách nhiệm đối với người đã chết với một nghĩa cử cao đẹp, và nó là một việc làm không thể thiếu của lối sống tình nghĩa đầy tính nhân tâm, nhân bản của người dân Việt. Chính vì ý nghĩa thiêng liêng đó mà tục lệ này được mãi mãi lưu truyền cho đến hôm  nay.

Đối với truyền thống tín ngưỡng, tục tang lễ ma chay có ảnh hưởng của Phật giáo rất lớn, trong đó ảnh hưởng của Đạo giáo là phần phụ trợ. Đặc biệt là đối với các tín đồ Phật giáo. Ngoài ra, nếu gia đình nào không theo tôn giáo mà khi có người chết họ vẫn thỉnh các sư ở chùa đến để lo các nghi thức về ma chay, tang chế. Một số nhà ở nông thôn hoặc vùng hẻo lánh, cách xa chùa chiền thì họ mời một vị thầy cúng về để tụng kinh, đưa đám. Nhưng dù vị lễ sư là ai đi nữa thì nghi thức chủ yếu vẫn là nghi thức của Phật giáo, nguồn gốc xuất phát từ Trung Hoa truyền sang. Nghi thức có thể không đồng nhứt là do sự hành trì của từng cá nhân theo thời gian mà sai lệch, nhưng các lễ thức chủ yếu bắt buộc phải có.

Theo Phật giáo thì nghi thức ma chay được rút trong quyển “Tam Giáo Chánh Độ” (có lẽ xuất phát từ nghi lễ của cung đình, không rõ tác giả), được Tổ Bách Trượng (ở núi Qui -Trung Quốc) rút lượt và sáng chế ra. Trong quyển Bách Trượng Thanh Quy có nói: “Tổ Bách Trượng dựng Tòng lâm, lập quy củ, chế ra thanh quy để ổn định và chấn chỉnh quy phong của thiền gia …”. Trong đó có nghi dành cho chư tăng khi viên tịch, bởi Ngài nghĩ không lẽ chết rồi cứ bó lại đem chôn hay hoặc có làm thì mỗi người theo mỗi cách, nên Ngài mới lập ra các nghi thức dành cho người sau khi chết như nghi nhập quan, nghi trà tỳ … Nội dung các nghi thức này là dùng pháp niệm Phật để hóa độ.

Sang Việt Nam, hậu duệ của tổ Nguyên Thiều là tôn giả Liểu Tạng đã dựa theo giáo lý đạo Phật cũng như trong quyển Bách Trượng Thanh Quy mà soạn dịch ra bộ Thiền Môn Chánh Độ. Gồm 2 quyển là Thiền Môn Chánh Độ Sư Tăng Viên Tịch và Thiền Môn Chánh Độ Thế Nhơn Tang Tẩn Sơ Chung. Sau này có Hòa Thượng Thích Chơn Giám (Ngài là một nhà bác học Phật giáo) đã hiệu đính lại và được giáo hội ấn hành trước năm 1975.

Quyển Thiền Môn Chánh Độ Sư Tăng Viên Tịch là để dùng cho những bậc xuất gia, bởi trong các bài Pháp ngữ toàn là những lời lẽ mang tính thoát tục, không nuối tiết bi lụy như kẻ thường tình. Còn quyển Thiền Môn Chánh Độ Thế Nhơn Tang Tẩn Sơ Chung là để siêu độ cho người thế tục. Các nghi thức cơ bản thì giống nhau, chỉ thay đổi một số. Phần chi tiết cho phù hợp với từng trường hợp mà thôi. Nó bao gồm những nghi tiết tẩn liệm từ đầu cho đến cuối theo trình tự như sau:

Sau khi gia đình có người chết, những người thân chia nhau canh giữ thi hài cho đến khi tẩn liệm (có một số người liệm xong vẫn chia nhau đứng kế bên quan tài để người thân đở cô quạnh). Kế đến là đi xem ngày giờ để làm thủ tục cáo phó, trong đó ghi rỏ, tên, tuổi, ngày, giờ chết, các ngày giờ có liên quan suốt những ngày tang lễ và cho đại diện gia đình đi rướt Lễ Sư. Các vị Lễ sư này có thể là các tăng Ni trong chùa hoặc Thầy đám (với nhiệm vụ hướng dẫn gia đình làm theo các nghi thức có sẳn).

- Tẩm liệm: Trước khi tẩm liệm có làm phép “tẩy tịnh”rồi cho xát chết vào trong quan tài cùng các vật dụng như vãi trắng hoặc tơ lụa để quấn xát, trà, quần áo của người chết … dùng để mang theo cho họ.

- Nghi thành phục: Để tang là một sự việc quan trọng khi thân quyến qua đời. Nó tỏ rỏ sự thương tiết, lòng biết ơn đối với người đã chết. Trước khi làm lễ, vị Lễ Sư phải hướng dẫn gia chủ sắm sửa các nghi tiết như án thờ với đầy đủ các lễ phẩm hương, hoa, đăng, trà, quả, khăn tang, gậy chống … Màu tang thì tùy theo quan niệm của mỗi người mà có khác. Thông thường tang màu trắng có ngụ ý chúc cho người chết sạch hết nghiệp trần.

Tang có thứ bậc, thân sơ mà cách thức và thời gian dài ngắn có khác nhau. Có thể là 3 năm (đối với con trai), 1 năm (đối với con gái), hay 3 hoặc 5 tháng (đối với dâu, rể …). Cũng có trường hợp tùy theo hoàn cảnh, tấm lòng của người sống đối với người chết mà thời gian có thể lâu hơn hoặc chỉ đưa ra tới huyệt (hoặc nơi hỏa tán) rồi xả bỏ.

Phát tang xong đến nghi thức cúng cơm (ở miền Nam có 3 vắt cơm đầu ngụ ý cho người chết được no đủ) cũng do các thầy đám đảm trách.

Kể từ ngày hôm đó, người thân cứ việc hầu cơm nước ngày 2 bữa giống như hồi còn sống, sau đó có thể tiếp tục mời thầy cúng tụng kinh cho đến lúc đi chôn. Nếu như người chết là đạo Thiên Chúa thì mời Đức Cha đến để làm phép rửa tội.

Ngoài ra, người ta còn thiết lập thêm một bàn thờ Phật, thường là đức Phật Di Đà hoặc Bồ Tát Địa Tạng, hằng ngày tụng kinh niệm Phật cầu mong các Ngài này có thể tiếp độ vong hồn người chết về cảnh giới cực lạc hoặc cứu khổ ở địa ngục, là những nơi mà họ nghĩ là người thân sẽ tới.

Trước kia nghi Thành Phục có thiết linh sàng, nghi thức này ngày nay phần nhiều được lượt bớt. Một số nơi khác còn có nghi Thiết Minh Tinh (thường gọi là Cờ tang, trên đó có ghi tên tuổi, chức tước … của người chết bằng chữ trắng trên một tấm lụa màu đỏ). Kế đến là rướt nhạc lễ (hoặc kèn Tây) đến để thổi lên những bài ai oán hoặc nói lên ơn nghĩa sanh thành, công lao nuôi nấng …

- Chiêu Tịch Diện: Sau lễ Thành Phục thì mỗi ngày đều cúng cơm nước cho chu đáo. Ngày xưa có thiết linh sàng thì 2 lần sáng tối con cháu mang chậu nước, khăn lau mặt, lượt, gương soi, cao trầu …vào chổ linh sàng khóc 3 tiếng rồi rước Hồn Bạch (hình ảnh) ra chổ linh tọa dâng trà và cúng cơm, chiều cúng xong lại rướt về linh sàng buông chăn màn, sáng lại xếp gọn gàn, hầu hạ như lúc còn sống. Tuy nhiên ngày nay không ai làm cả.

- Triều Tổ: Người chết còn hoàn trong nhà thì con cháu xem như còn sống nên mỗi ngày phải có bổn phận rước di ảnh hoặc linh vị người quá cố đến bàn thờ tổ tiên lễ lạy. Trước ngày đưa đám cũng phải rước đến đó làm lễ yết cáo tổ tiên để ngày mai sẽ đưa hương linh ra đi vĩnh viễn.

- Sơ Dạ: Đây là nghi thức cúng vào đêm cuối cùng để hôm sau đưa đi chôn. Bỡi làm lúc đầu hôm nên gọi là sơ dạ.    
  
- Khiển Điện: Còn gọi là Phát hành, Di quan, Phát dẫn, là sắp đưa đi nhưng vì tình người còn quyến luyến nên dừng lại để cúng tế lần cuối (Khiển là đưa đi, Điện là dừng lại).

- Cáo đạo lộ: Nghĩa là cáo với thần linh ở đường xá. Khi cử hành lễ Khiển điện xong, tiến hành chuyển linh cữu ra ngoài ngõ rồi dừng lại để cúng Thần đạo lộ, thông báo với các vị Thần xin đường đưa linh cữu đi đến nơi chôn hoặc nơi hoả tán.

- Phát hành: Ngày xưa khi đưa quan tài ra đường, tổng cộng có 15 thứ đi theo được xếp đặc theo trình tự như sau: Trước tiên là Minh Tinh (lá Triệu), Phương Tướng (hình nộm vị tướng bằng giấy), bàn Hương Án, Minh khí (các vật dụng mang theo cho người chết như lu, hủ, chén bát, vàng bạc … vì ngày xưa có chia của cho người chết, nay là vàng mả (có tục đốt vàng mả nói ở phần sau)), Ấn thực (các đồ ăn như xôi thịt …), Đại phan (phan tiếp dẫn và cờ ngủ sắc), Phật đình (kiệu thờ Phật hoặc Long đình), Bát nhã thuyền (loại vãi trắng dài cầm chỉa lên trời giống như chiếc thuyền Bát nhã, phần này nay không còn), Linh phan (là phan vong, cờ đen, cờ trắng (nay dùng cờ Ngủ hành, Ngủ sắc là không đúng)), Đăng lung (loại đèn lồng trên đó có ghi tên tuổi, tên thụy người chết), Linh Xa (kiệu để Linh vị), Công bố (là những bức hoành phi, trướng, lụy, trên đó có ghi những ân đức, công lao của người chết), Sanh dẫn (nhạc Bát âm ngày xưa, nay là lễ nhạc, kèn Tây), Cữu xa (xe để Linh cữu) và cuối cùng là tang chủ đi theo thứ tự Nam tả, Nữ hữu và thân hữu quan khách theo sau mà khóc. Tuy nhiên, nghi phát hành này nay đã lượt bớt nhiều, chỉ còn theo thứ tự như dẫn đầu là cờ Ngủ sắc (Minh tinh nếu có), rồi đến vòng hoa đối trướng, kiệu thờ Phật hoặc Bồ Tát, chư Tăng Ni, hương án để Minh tinh và linh vị với các thứ vật phẩm …, lễ nhạc, kèn Tây, xe Linh cữu, cuối cùng là thân nhân quan khách.

Ngày xưa còn có nghi Đồ Trung, tức là khi đưa đường xa phải dừng lại nghỉ chân để cho mọi người nghỉ mệt giải lao, mà hễ nghỉ là phải cúng nên có nghi Đồ Trung.

- Đáo mộ: Khi Linh cữu đã đến mộ (hoặc nơi hỏa tán), vị lễ sư hướng dẫn tụng kinh, làm lễ để hỏa tán hoặc hạ huyệt (chôn).

- An Linh: Khi chôn xong, lễ sư hướng dẫn đem Lư hương và Di ảnh về nhà rồi làm lễ an vị trên án thờ gọi là An Linh hay An Sàng.

Kể từ ngày an sàng là xem như hoàn tất những ngày tang lễ, nhưng phải cúng thất mỗi tuần (từ ngày chết đến ngày thứ 7 gọi một tuần). Theo Phật giáo, người chết trong vòng 7 x 7 = 49 ngày thần thức còn lảng vảng đâu đó để chờ định công luận tội (ngoại trừ những người có tu tập, có phước đức có thể được vãng sanh, hoặc có tội nặng liền sa ngay vào địa ngục) nên người chết trong thời gian này rất cần thân nhân của mình tụng kinh cầu siêu cũng như làm các phước đức hồi hướng cho họ được nhẹ tội, sớm giải thoát. Đến 49 ngày gọi là cúng lễ Chung thất, đến giáp năm có lễ Tiểu tường. Sở dĩ gọi Tiểu tường vì đến đây không còn hung lễ nữa (tường là An lành). Đại tường là sau 2 năm, tất cả tang chế được xã bỏ, và cũng kể từ đó, án thờ được dời qua thờ chung với bàn thờ Tổ tiên. Hằng năm thì tổ chức lễ Giổ.

Thời đại ngày nay, do những điều kiện khách quan như thời gian, không gian, kinh tế… mà những nghi thức rườm rà, không phù hợp với hoàn cảnh thực tế được lượt bỏ rất nhiều.

Về phương pháp thực hành, sỡ dĩ được truyền thừa mỗi người một kiểu khác nhau là bởi vào thời đất nước bị Trịnh - Nguyễn phân tranh, các vị Thiền Sư khi vào Nam không được mang theo sách vỡ, chỉ thực hành và truyền dạy theo trí nhớ nên mỗi người mỗi khác. Mặt khác, có một số thầy đám đã pha trộn những nghi thức phù chú của Lão giáo vào và số trường hợp đó được cho là mê tín.

2.1.10. Các tập tục khác:

- Tục đốt vàng mả:

Về tục lệ này, Việt Nam ta chịu ảnh hưởng của Trung Quốc. Theo lịch sử Trung Hoa, vào thời Chiến Quốc nạn chết chóc xảy ra liên tục, khí âm thường bao phủ nơi trận địa. Tương truyền có một người họ Vương đã chết, sau khi sống kể rằng đã vân du xuống âm phủ thấy có nhiều vong hồn đói khổ và ông được Diêm Vương chỉ cách về dương gian đốt giấy tiền vàng bạc gởi xuông cho họ.

Từ đó có một số người vì tội nghiệp cho thân nhân của mình nên đã dùng đồ Bạch Ngọc để cúng tế, cúng xong lại bỏ đi. Vua Đường Huyền Tôn thấy tình trạng  nếu kéo dài như thế rất phí uổng nên ra lệnh dùng giấy làm thành các thỏi vàng, bạc để thay cho các thỏi vàng và tiền quan thật. Đến đời Đường Thế Tôn, quan Từ Tế Xứ tên là Vương Dữ ra lệnh phải cúng tất cả các loại tiền đều bằng giấy.

Từ thời Ngũ Đại, người ta lại chế thêm các loại quần áo, mủ mão và các loại đồ dùng khác (cũng bằng giấy). Các sản phẩm này truyền sang Việt Nam trở thành tín ngưỡng không thể thiếu. Đặc biệt nhứt là loại tiền Vãng sanh với sự hội dung giáo lý của Phật giáo và Đạo giáo, nhưng chủ yếu là Phật giáo.

Tiền vãng sanh có nhiều loại, loại lớn có in nguyên bài chú vãng sanh của Phật giáo, trong đó có cả những đồng tiền bùa, những dây bùa là của Đạo giáo. Còn có loại “Ngũ hành vãng sanh thần chú”ù là sản phẩm khắc bản cũng là sự pha trộn của Phật giáo và Đạo giáo với câu niệm “Nam mô Quan Âm đại từ đại bi cứu khổ địa chủ Thái Thượng Lão Quân cấp cấp như luật lịnh sắc”, xung quanh là cách chỉ dẫn phương pháp thực hành cũng như công năng tiêu trừ tai nạn, trừ tà ma, được phước đức vô lượng. Một loại khác cũng có chữ Nam mô A Di Đà Phật, nhưng bên trong cũng là câu niệm giống như loại Ngũ hành vãng sanh ở trên và các hình vẽ chuông, khánh, áo quần … Một loại khác nữa là loại tiền Nhất Hàm Phong Thuận, một loại tiền mang tính chất cầu phò trợ vì trong đó có hình của Quan Âm Bồ Tát, Phật Di Lặc và cả ông Phước, ông Thọ nữa.

Đối với tín ngưỡng dân gian thì những tục lệ này không thể thiếu, nhất là trong việc ma chay. Người ta cầu cúng với tư cách là “phò trợ”. Về nội dung cho thấy Phật giáo đã ảnh hưởng sâu rộng trong quần chúng nhân dân, cho dù trong đó có sự hỗn dung tôn giáo.

- Tục ăn chay, thờ Phật, Bồ Tát ở nhà:

Thờ Phật ở nhà do các nguyên nhân hoặc là tín đồ Phật giáo, hoặc do các sách Tử Vi mà ra. Phổ biến nhất là các hình ảnh như Phật Thích Ca, Phật Di Đà và Bồ Tát Quan Âm được tôn thờ dưới dạng thần độ mạng.

Ngoài ra, vào ngày rằm, mùng 01 người ta ăn chay cùng mua bông hoa, trái cây về cúng như là một việc thông thường phải làm chứ không cần suy nghĩ.

- Thờ Thần độ mạng:

Xuất xứ từ các sách tử vi như Tam Quốc Đại Lược, Tam Nguyên Tiểu Lược, hay Diễn Cầm Tam Thế Diễn Nghĩa ,được các thầy toán số chỉ định tùy theo tuổi (tính theo Can - Chi) hoặc là nam hay nữ mà thờ các vị thần khác nhau như: Quan Thánh Đế Quân (còn gọi là Ngũ Công Vương Phật, là các vị tướng thời chiến quốc bên Tàu), Chúa Tiên Nương Nương, Chúa Ngọc Nương Nương, Cữu Thiên Huyền Nữ, Kim Hoa Thánh Mẫu, bà Thiên Hậu, ông Tử Vi, Cậu Tài, Cầu Quí … Tất cả mọi nhà hầu như đều có thờ cúng các vị này bởi vì ai cũng muốn mạnh khỏe phát tài, không tai nạn, nhứt là những người có bịnh được thầy số chỉ là họ tin ngay. Từ đó trở thành tục lệ mà đến ngày nay vẫn rất phổ biến.

Tóm lại, trong cuộc sống con người từ lúc còn là bào thai trong bụng cho đến khi trưởng thành, cho dù bất cứ ở đâu, dân tộc nào đều phải chịu sự chi phối của các tập tục, tín ngưỡng. Các tập tục tín ngưỡng này có khi được lưu truyền từ cha ông để lại, có khi do nếp sống sinh ra … nhưng dù xuất xứ từ đâu đi nữa là người Việt Nam phải uốn mình theo những phong tục ấy. Tuy có những tục lệ đôi khi phiền phức nhưng nhờ đó mà nhân dân ta còn giữ được những bản sắc của dân tộc mình.

2.2. Ảnh Hưởng của Phật giáo đối với các Đạo giáo ở Miền Tây Nam Bộ. 

Vào khoảng giửa thế kỷ 19, từ Bắc vào Nam đang lâm vào cảnh rối ren, xã hội ly loạn vì triều đình phong kiến đang chuẩn bị đến hồi kết thúc, nên đã biểu hiện đầy đủ những mặt xấu xa, phản động của nó. Trên vua thì ngu dốt, dưới quan thì tham nhũng, thối hóa, làm cho người dân phải sống trong cảnh bị áp bức bốc lột một cách khốn đốn, khổ sở vì sưu cao thuế nặng, bệnh dịch hoành hành, mất mùa đói kém quanh năm. Thêm vào đó là cái nạn kỳ thị Tôn giáo của chính quyền thời ấy. Hơn thế nữa, bọn thực dân luôn rắp tâm để thực hiện mưu đồ xâm lược nước ta bằng nhiều mặt, hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp, nhằm gây hoang man, rối loạn trong quần chúng qua nhiều hình thức. Thế nên, tuy có nhiều cuộc khởi nghĩa, bạo loạn nổ ra do những sĩ phu yêu nước lãnh đạo, nhưng lại lần lược đều bị đàn áp dẫn đến thất bại nặng nề.

Trước tình hình nhiễu nhương như vậy, con người rất cần một chổ dựa tinh thần, một nguồn an ủi tâm linh, để họ có thể sống một cuộc sống bình yên giữa vùng đất đầy khổ đau bất trắc mà sức người khó vượt qua nổi.

Là một quốc gia cực đoan, bài ngoại và rất mê tính, họ đã lập ra các tổ chức bằng phương pháp sử dụng đạo giáo thần quyền. Mục đích là đễ tập hợp lực lượng chống lại bọn phong kiến, bọn thực xâm lượt và bọn chủ đất bốc lột.

2.2.1. Đạo Bửu Sơn Kỳ Hương (BSKH):

Giữa đồng không mông quạnh ấy, dãy Thất Sơn đột ngột nổi lên như một cảnh quan kỳ lạ và bí ẩn ở phía tây. “Sơn bất tại cao, hữu thần tiên tắc linh” (Núi không phải do cao, hễ có thần tiên là núi linh). Quan niệm này vừa ngẩu nhiên vừa phù hợp với điều kiện địa lý tự nhiên của Nam bộ. Theo ảnh hưởng môn phong thủy học Á Đông, thì vùng ĐBSCL là một vùng đất thiêng liêng nhất, là vùng linh địa, vùng Thất Sơn (còn gọi là vùng Bảy Núi). Kết hợp với sông Tiền, sông Hậu, sông Vàm Nao tạo nên nét đẹp phong thủy “Tiền tam giang, hậu thất lĩnh” . Chính nơi đây, đạo BSKH ra đời.

Đạo BSKH xuất hiện vào khoảng giữa thế kỷ 19 ở vùng ĐBSCL thuộc tỉnh An Giang. Đây là vùng đất mới được khai phá, hiện diện sau cùng trên bản đồ Việt Nam, do công lao của các gia thần của bốn triều đại: Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức rất nổi tiếng như: Nguyễn Hữu Cảnh, Nguyễn Văn Thoại, Doãn Uẩn, Nguyễn Tri Phương, Trần Văn Năng… cùng các binh sĩ, nông dân đã đổ không biết bao nhiêu xương máu xuống vùng đất này. Đây là thời kỳ đang có sự tranh chấp giữa Tây Sơn - Nguyễn Ánh, giữa quân Việt - Xiêm trong việc bảo hộ Chân Lạp (1773 - 1846). BSKH như một kỳ vọng trong tương lai nhắm vào sự giải quyết thực trạng ấy.

Bửu Sơn (còn gọi là Bảo Sơn) là núi báo. Kỳ Hương là mùi thơm lạ. Người khai sáng đạo này là ông Đoàn Văn Huyên (1807 - 1856) sinh ở làng Tòng Sơn, Cái Tào Thượng, Sa Đéc (nay là Đồng Tháp) trong một gia đình nông dân. Thuở thiếu thời, ông sống bằng nghề nông, thường hay nghiên cứu Phật giáo. Đến năm 43 tuổi, đột nhiên ông thay đổi tính tình, người đương thời cho là khùng điên. Đến năm Kỷ Dậu (1849) bịnh dịch, thời khí hoành hành, nông dân cùng cực hoang man lo lắng, sợ hãi. Giữa lúc đó, ông đột ngột xuất hiện như một vị cứu tinh, ông ra tay cứu người giúp đời bằng cách phát phù trị bịnh cho hàng ngàn người, đồng thời giảng giải giáo lý khuyên người tu niệm tại một Trại ruộng ở Thất Sơn. Vì trị khỏi nhiều bịnh nên người đời xem ông như là một vị Phật sống, còn gọi là Phật thầy. Ông thu hút rất nhiều người theo đạo, trong đó có cả các quan chức và những người có địa vị trong xã hội. Chính quyền Tỉnh nghi ngờ ông tụ tập nông dân nổi loạn, bảo ông là “Gian đạo sĩ” nên ông bị bắt giam. Tuy nhiên, vì không chứng cứ nên chúng buộc phải thả nhưng lại bắt ông về tu ở chùa Tây An để triều đình dễ bề giám sát. Ông tu dưới sự quản thúc của Thiền sư Tuyên Giác Hải Tịnh, một bậc cao Tăng lỗi lạc lúc bấy giờ nên có pháp danh là Minh Huyên. Vì tu ở chùa Tây An nên người đời gọi ông là Phật thầy Tây An. Dần dần đạo của Ông được lan truyền rộng rãi khắp các tỉnh miền Tây Nam bộ. Tín đồ lên đến hàng vạn người. Ông viên tịch năm 1856.

Giáo lý BSKH bao gồm hai đặc trưng cơ bản đó là: đền đáp Tứ Đại Trọng Ân với phương pháp học Phật tu nhân, tùy duyên hóa độ và dùng tấm Trần Điều làm biểu tượng thờ cúng.

Tứ Đại Trọng Ân bao gồm:

- Ân tổ tiên cha mẹ
- Ân đất nước
- Ân Tam bảo
- Ân đồng bào nhân loại.


Tứ ân ở đây thực tế cho thấy nó đã được cụ thể hóa và Việt hóa khái niệm “Tứ ân” của Phật giáo vốn đã quen gọi bằng từ Hán Việt là: Ân phụ mẫu, ân quốc vương, ân Tam bảo, ân chúng sanh.

Theo Phật giáo, con người nếu sống và hành xử theo Tứ Ân tức là đã bước lên nấc thang đầu tiên để đưa con người đến cái Chân - Thiện - Mỹ. Chính vì nội dung đơn giản như thế nên giáo lý này rất phù hợp với trình độ của các tầng lớp nông dân ít học.

Giáo lý BSKH còn kết hợp một cách rất chặt chẽ giữa các trường phái trong đạo Phật là Thiền tông, Tịnh độ tông và Mật tông. Còn việc phát phù trị bệnh chỉ là một phương tiện để đáp ứng nguyện vọng và cũng cố niềm tin cho tín đồ chứ không phải là tín điều của đạo.

Như vậy ba yếu tố Thiền, Tịnh, Mật, của đạo BSKH là một trong những đặc trưng của Phật giáo Việt Nam. Pháp môn Thiền Tịnh song tu cũng là sự kế thừa từ giáo lý Phật giáo.

Phương pháp tu học của đạo BSKH rất đơn giản, Phật Thầy chủ trương Tín đồ tu không phải cạo đầu hay ở chùa, không cần chuông mõ, không ăn chay, có thể cóù gia đình … Trong sấm giảng của ông có kệ viết :

Tu đầu tóc không cần phải cạo,
Miễn cho tròn cái đạo làm người.


Bởi ông cho rằng nghi thức hành lễ và thờ cúng rườm rà chỉ mang tính hình thức mà thôi.

Là người đã từng nghiên cứu kinh sách Phật giáo, lại là một nhà yêu nước, ghét các vua chúa nhà Nguyễn nên mặt dù đã đi tu, nhưng ông vẫn muốn kế thừa những tấm gương sáng của các bậc Thiền sư thời Lý - Trần, với ý đồ mở ra một chân trời mới cho sự tự do, giải phóng dân tộc. Hoài bảo ấy được thể hiện qua bài thơ khoán chủ do ông sáng tác như sau:

Bửu Ngọc quân Minh Thiên việt nguyên,
Sơn Trung sứ mạng Địa Nam Tiền,
Kỳ Niên Trạng Tái Tân phục Quốc,
Hương xuất Trình Sinh tạo Nghiệp Yên.


Nội dung bài thơ nói là ý Trời đã định, minh quân sẽ xuất hiện trên đất Việt, mà trung tâm là núi báo (Bửu Sơn), kỳ hạn đã đến, người tài trí ra đời khôi phục đất nước, an cư lạc nghiệp và tiếng thơm lan tỏa khắp nơi. Chính hoài bảo và tư tưởng ấy đã sản sanh ra những người anh hùng dân tộc sau này như : Trương Công Định (tức Bình Tây Đại Nguyên Soái -1862), Thủ Khoa Huân (người anh hùng Hỏa Hồng Nhật Tảo), Trần Văn Thành (Quản Thành -1867, với khởi nghĩa Láng Linh), ông Ngô Lợi, Cử Đa …Ngoài ra, hầu hết các tín đồ đều tham gia vào các cuộc kháng chiến.

Sau khi Đức Phật Thầy Tây An viên tịch, vùng đất này lại xuất hiện một số các ông đạo khác, cũng kế tục sự nghiệp của Đức Phật thầy như: Đức Phật Trùm (còn gọi là ông Đạo Đèn -1868) người Khmer, ông này tự nhận mình là Đức Phật Thầy Tây An tái thế, tu theo phái BSKH Ông hoằng đạo trong vòng bảy năm (từ năm 1868 - 1875), phát tích tại núi Tà Lơn và truyền sang cả Kampuchea. Pháp buộc ông làm loạn, bắt đi đày, nhưng sau đó ông được thả về. Ông mất năm 1875 tại núi Tà Lơn. Ông Đạo Lập (1820 - 1890), Ông đạo Ớt, Ông đạo Thắng (1834 - 1916) . Sư Vãi Bán Khoai (1902) tên là Mỹ, dáng vóc gầy còm, mặc quần áo bà vãi, chèo thuyền đi bán khoai, cũng chữa bệnh. Ông có soạn quyển  “Sấm giảng người đời” để giảng đạo cho quần chúng với lòng tin là Phật Di Lặc sắp ra đời, mở ra một khung trời mới và mang lại cho nhân sinh một cuộc sống thái bình, thịnh vượng.

Long hoa hội sắp mở,
Được gặp Phật ra đời,
Di Lặc chuyển Pháp Vương,
Hưởng thái bình thịnh vượng.


Tóm lại, cho đến ngày nay, hình ảnh Đức Phật Thầy qua những huyền thoại được truyền miệng vẫn còn ảnh hưởng rất lớn đến đời sống tâm linh của người dân Nam bộ, và Đoàn Minh Huyên với tư cách là đức Phật Thầy Tây An, người khai sáng đạo BSKH là một nhân vật lịch sử, một Tôn giáo có ảnh hưởng rất sâu sắc đến đời sống tín ngưỡng của một bộ phận đông đảo cư dân ở ĐBSCL.

2.2.2. Đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa:

Ra đời tại vùng Thất Sơn (Ba Chúc), do ông Ngô Lợi sáng lập năm 1869. Ông tên Ngô Viện húy là Lợi, sinh năm 1831 tại Mỏ Cày, Bến Tre. Từ lúc nhỏ ông đã biết tự học, về sau nghiên cứu thêm nhiều sách Phật, đến lúc 20 tuổi ông viết kinh Bà La Ni, đến năm  36 tuổi (1876) thì lập đạo. Ông tự xưng mình là Đức Bổn Sư , cũng dùng dấu ấn của BSKH để truyền đạo (nên người ta cho rằng ông là hậu thân của Đức Phật Thầy Tây An).

Đến năm 1872, ông đến xã An Lộc (thuộc tỉnh An Giang) lập Trại ruộng. Trong 14 năm đã lập nên bốn thôn là An Hòa, An Định, An Thành, An Lập. Trong bốn thôn này, ngoài việc lập trại ruộng, ông còn thờ Phật và tổ chức giảng kinh.

Đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa cũng hoằng pháp giống như đạo BSKH, tức là tu theo tinh thần học Phật tu nhơn, lấy Tứ Đại Trọng Ân làm nền tảng, được thể hiện qua các pháp môn: Trì niệm theo Thiền tông, xử sự theo Nho giáo, luyện tinh, khí, thần theo Lão giáo và ấn quyết theo Mật giáo.

Tín đồ tu hành khỏi phải ly gia cắt ái, không cần ăn chay trường, chỉ mặc áo vạc hò, quần lá nem nhuộm đen, bới tóc hoặc để tóc xõa tự nhiên. Việc làm này đã thể hiện lên tinh thần bảo lưu văn hóa dân tộc của cha ông ta đã có từ hàng ngàn năm trước.

Cách xưng hô của đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa cũng khác biệt như: Trò, Ông Gánh, Ông Đạo… để chỉ những người có chức sắc hay cầm đầu trong đạo, tính đến năm 1964, đạo này có tất cả là 24 vị trưởng gánh” [20,242].

Nói về phương pháp tu học của đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa cũng đơn giản thoải mái, không bắt buộc, gò bó, hành đạo theo pháp môn “tùy duyên hóa độ”. Tu tại gia, tùy theo hoàng cảnh, thời gian, không gian mà tu tập cho phù hợp. Đạo này còn lập ra các kinh riêng để đọc tụng như: Kinh Phổ Độ Bàn Đào, Linh sơn Hội Thượng …

Năm 1872, Ngô Lợi lập chùa Phi Lai Tam Bữu ở núi Tượng, nơi đây là Tổ đình đầu tiên của đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa, lấy núi Tượng làm Thánh địa và tuyên đoán ngày tận thế (có sách nói ông là một sĩ phu yêu nước của phong trào Cần Vương, từ Mỹ Tho về ba Chúc để che mắt giặc). Tín đồ của ông từng liên lạc với nghĩa quân Kampuchea cũng như người Việt từ các tỉnh Nam bộ, họ kéo về khá đông, đến nổi nhà cầm quyền lúc ấy phải lên tiếng rằng: “Phải coi chừng cho nhặt những kẻ giữ đạo Phật, vì những kẻ theo đạo ấy thì không đặng lương thiện”.

Trong suốt mười hai năm từ 1876- 1888, đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa bị thực dân đàn áp tổng cộng đến 7 lần (tín đồ gọi đây là đạo nạn). Chúng bắt bớ tra tấn, bắn giết, tù đày, đốt phá chùa chiền, nhà cửa của tín đồ với quyết tâm triệt hạ đạo cho bằng được, mọi người phải chạy nạn đến Kampuchea, sau lại trở về rồi lại bị đàn áp, cứ lập đi lập lại như thế. Ông Ngô Lợi bị bắt vào năm 1888, các tín đồ còn lại, một số bị đày, một số bị buộc phải trở về nguyên quán. Riêng ông Ngô Lợi, sau nhiều lần bị bắt nhưng trốn thoát nhờ nhân dân quanh vùng che chở.

Theo đó cho thấy, nếu đạo BSKH xướng lên tiền đề Tứ Ân thì đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa đã thừa kế một cách rất tích cực tinh thần ấy của đạo BSKH. Giáo lý Tứ Ân được xem như là một trọng trách phải thực hiện của tín đồ, đặc biệt là Ân Đất Nước. Sự ý thức để cho mọi người thấy được trách nhiệm của mình đối với quê hương Tổ quốc, vì đó là nơi đã nuôi sống ta và bao thế hệ của cha ông ta trước đó.

Tín đồ được phép  tu tại gia nhưng phải thờ kính Tổ Tiên và hiếu dưỡng cha mẹ, làm như thế tức là đền đáp ân tổ tiên cha mẹ. Phải biết thương yêu và giúp đỡ mọi người trong cơn nguy khó, phụng sự tha nhân không tiếc thân mạng để đền ân đồng bào nhân loại… điều này rất phù hợp với tinh thần từ bi hỷ xả của đạo Phật.

Đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa vẫn thờ Trần Điều, thờ Phật, thờ Sơn Thần, Trăm Quan Cựu Thần, và các anh hùng liệt sĩ.

Về giáo lý căn bản vẫn là ảnh hưởng của Phật giáo, tức là cũng khuyên chúng sanh làm lành lánh dữ, tin tội phước, tin nhân quả luân hồi. Điều này được biểu hiện qua sự tái sanh nhiều đời của các đấng giáo chủ… đây là giáo lý nhân quả của đạo Phật.

Ngoài ra, tín đồ còn phải luôn luôn tôn trọng luân thường đạo lý trong việc đối nhân xử thế. Phương pháp truyền đạo được thể hiện qua các bài kệ giảng bằng văn vần, lời văn bình dị, dễ hiểu, dễ nhớ, rất hấp dẫn người nghe. Nội dung nhằm chỉ rỏ vào những vấn đề thực tại của xã hội và một kết quả sáng lạng ở tương lai, nhắc nhở mọi người cùng nhau cố gắng thể hiện trách nhiệm của mình đối với gia đình và Tổ quốc.

Đức Bổn Sư Ngô Lợi viên tịch năm 1890 tại Núi Tượng, đây là nơi đầu tiên ông đến khai đạo và cũng là chỗ cuối cùng ông vĩnh viễn ra đi.

Sau khi ông mất, bộ máy của đạo bị chia chẻ ra nhiều nơi do các ông Trò, ông Gánh đảm nhiệm, từ đó mỗi nơi thực hành theo mỗi kiểu. Bên cạnh đó còn có những chủ trương sai lệch đi đường lối ban đầu của đạo với những việc làm hoàn toàn mang màu sắc dị đoan mê tín.

2.2.3. Đạo Hòa Hảo:

Đạo Hòa Hảo là một mối đạo cũng có ảnh hưởng rất lớn đối với tín ngưỡng của những cư dân Nam bộ, lan tràn khắp các tỉnh Miền Tây cùng với một số các đạo giáo khác tồn tại đến ngày hôm nay.

Người sáng lập ra đạo này là ông Huỳnh Phú Sổ, còn gọi là Đức Huỳnh Giáo Chủ (vì ông là nhân vật được xem như giáo chủ của đạo Hòa Hảo). Ông sinh năm Kỷ Mùi (1920) tại làng Hòa Hảo, huyện Tân Châu, tỉnh Châu Đốc (nay là tỉnh An Giang) trong một gia đình địa chủ giàu có, cha làm Hương Cả.

Vì bẩm tánh rất thông minh, tuy tuổi nhỏ nhưng không thích vui đùa giống như các trẻ đồng trang lứa, thường trầm tư mặc tưởng, đặc biệt là ông rất có năng khiếu về thơ văn. Vừa học hết tiểu học thì phải nghỉ vì bệnh tật, lớn lên ông cương quyết không chịu lập gia đình. Do bị nhiều bệnh nên gia đình thường xuyên đi tìm thầy hay thuốc giỏi để chửa trị cho ông nhưng rốt cuộc đều không khỏi. Bởi bản tính vốn sẳn thông minh nên mỗi lần đi trị bệnh là ông đều học được một số bài thuốc Nam hay từ những vị thầy thuốc ấy.

Sau lần tự đi tìm thầy chửa bệnh ở vùng Thất Sơn, ông đã học được cách thức chửa bệnh và cả phương pháp luyện tập bùa chú. Từ đó trở đi ông càng thêm trầm lặng, suy tư nhiều hơn về những sự vô vi huyền bí, những thần linh… Ông chuyên đọc sách Trạng Trình và nghiên cứu về tư tưởng của phái BSKH đã có sẳn trước đó. Ông tự nhận mình là bậc “sinh như tri” nghĩa là biết tất cả mọi việc của quá khứ, của hiện tại và tương lai. Ông còn nói là gặp được Đức Phật Di Đà, Đức Phật Thích Ca và cả Ngọc Hoàng Thượng Đế… các vị ấy bảo ông phải lảnh sư mạng về truyền bá đạo BSKH . Trong một sấm kệ, ông nói:

“ … Đức Di Đà truyền mở đạo lành,
Bởi vì Ngài thương xót chúng sanh
Rao sắc lệnh bảo ta truyền dạy …”


Hay là:

“ …Ta thương người len lỏi xuống trần
Đạo vô vi của Phật ân cần
Noi theo chí Thích Ca ngày trước …”


Vì biết được khá nhiều loại thuốc, nên ông bắt tay vào việc vừa chửa bệnh vừa rao giảng giáo lý tứ ân của Phật Thầy Tây An, đồng thời ca ngợi truyền thống chống ngoại xâm của các bậc tiền bối, nhất là gương chiến đấu của các anh hùng chống Pháp trên đất Nam bộ như Trương Công Định, Thủ Khoa Huân và các đệ tử của Đức Phật Thầy Tây An như Trần Văn Thành, Nguyễn Trung Trực, Ngô Lợi, Cữ Đa… do vậy số tín đồ theo ông càng ngày càng đông hơn.

Đến ngày 15 tháng 5 năm 1939, khi cơ duyên hội đủ ông tập hợp tín đồ tổ chức lễ khai đạo tại gia đình và chính thức cho ra đời một tôn giáo mới đó là Phật Giáo Hòa Hảo hay còn gọi là đạo Hòa Hảo. Ông Huỳnh Phú Sổ được tôn làm giáo chủ với những danh xưng như ông Tư Hòa Hảo (vì là con thứ tư trong gia đình), Đức Phật Thầy, Đức Thầy, Đức Huỳnh Giáo Chủ.

Trong những thập niên 1940 đến 1945, tình hình xã hội trở nên gay gắt, thực dân Pháp tổ chức nhiều cuộc đàn áp người dân vô cùng man rợ, không gian Nam bộ lúc này bị bao trùm một bầu trời khủng bố. Trước tình trạng hoang mang như vậy, người theo đạo mỗi lúc một đông hơn, có lúc lên đến vài trăm ngàn người.

Ông Huỳnh Phú Sổ bị giặc Pháp bắt đưa vào nhà thương Chợ Quán năm 1940, chúng quản thúc ông ở nhiều nơi như Châu Đốc, Cần Thơ, Bạc Liêu. Đạo Hoà Hảo phát triển từ năm 1940, đến năm 1945 Nhật đảo chính Pháp, chúng cứu ông đưa về Sài gòn. Tại nơi đây, ông đã tổ chức vận động một số nhân vật chính trị của các đảng phái, các tổ chức thân Nhật như Thân Tầu Tưởng Đại Việt, Quốc Dân Đảng… để gây thanh thế. Cũng trong thời này, nhiều thanh niên trong đạo đã theo các tổ chức của Nhật như  chính trị, quân sự, kinh tế, xã hội… Ông được trả tự do năm 1945.

Sau khi được trả tự do, ông tiếp tục đi khuyến nông theo chủ trương của Nhật với mục đích củng cố và phát triển lực lượng tín đồ ở vùng ĐBSCL, thiết lập các tổ chức trong đạo như Hội Bảo An, Lực Lượng Vũ Trang Dân Quân tại các cơ sở của đạo. Đồng thời thành lập các đảng phái như: Việt Nam Dân Chủ Xã Hội Đảng, Việt Nam Quốc Gia Độc Lập Đảng, Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất, Mặt Trận Quốc Gia Liên Hiệp. Mục đích lập ra các tổ chức này nhằm vào việc củng cố lực lượng trong hoạt động chính trị. Sau cách mạng tháng tám thành công, ông được cách mạng mời tham gia Ủy Ban Kháng Chiến Nam Bộ, với tư cách là đại diện cho đồng bào theo đạo Hoà Hảo.

Vào những năm 1946 - 1947, lực lượng vũ trang phát triển khá mạnh mẻ và với khẩu hiệu “Bảo vệ đạo”, họ đã tổ chức nhiều cuộc tấn công vào các cơ sở Kháng Pháp của ta ở vùng ĐBSCL gây nhiều tổn thất lớn cho cách mạng.

Ông mất tích vào tháng 04 năm 1947 tại Đốc Vàng (Đồng Tháp) trong một trường hợp khó hiểu.

Sau khi ông mất Lực Lượng Vũ Trang Hòa Hảo bắt đầu chia rẽ, mỗi nhóm các cứ một vùng để “mưu bá đồ vương” do các đệ tử tiếng tăm của ông cầm đầu như: Lê Quang Vinh (Ba Cục) ở vùng Thốt Nốt, Trần Văn Soái (Năm Lửa) ở Cái Cồn - Cần Thơ, Nguyễn Thị Gấm (Phàn Lê Huê), Lâm Thành Nguyên (Hai Ngoán) ở Châu Đốc, Nguyễn Giác Ngộ (Ba Gà Mỗ) ở vùng Chợ Mới - Long Xuyên ,Chín Em, Trương Kim Cù.

Ta thường biết, trong chế độ thực dân thì bọn tay sai đầu cơ thường lợi dụng tôn giáo để truyền bá mê tín nhằm lừa dối tầng lớp nông dân dốt nát để đưa họ vào những hoạt động sai trái, phản bội tổ quốc, để rồi cuối cùng chính họ lại bị bọn thực dân này sát hại bằng cách này hoặc cách khác.

Năm 1955, Mỹ đưa Ngô Đình Diệm lên nắm chính quyền ở Miền Nam, sắp đặt âm mưu trong cuộc chiến tranh tôn giáo nhằm xóa bỏ các giáo phái. Lực lượng vũ trang của đạo Hoà Hảo bị tan rã, có một số người gia nhập vào quân đội Ngụy. Cho đến năm 1964, dưới sự nâng đỡ của chính quyền này, đạo Hòa Hảo đã củng cố lại các tổ chức, xây dựng các cơ sở tôn giáo như: Đọc Giảng Đường , Viện Đại Học Hòa Hảo … để làm cơ sở hoạt động tôn giáo cũng như tạo một đội ngủ trí thức trong giáo phái này (các cơ sở này nay không còn nữa).

Qua đó chúng ta thấy được mối quan hệ giữa đạo và đời ở rất nhiều khía cạnh khác nhau. Cuộc đời ly loạn thì người ta vào đạo là để nương tựa tâm linh với ước vọng cứu đời. Mặt khác, do chính quyền Ngụy nâng đỡ cả hai phương diện vật chất lẫn tin thần nên nhân dân trong vùng bị kiểm soát càng đến với đạo đông hơn. Đó là hình tượng“dựng đạo tạo đời”, nên cũng lúc cần thì họ tụ hội, không cần thì họ phân rẽ. Chính vì “dựng đạo tạo đời”, nên có lúc họ theo Cách Mạng, rồi có lúc lại thỏa hiệp với Pháp, với Mỹ ngụy, sát hại giống nòi, bán đứng quê hương. Tuy mang danh nghĩa là đạo phái, nhưng trong lòng họ chỉ có chiến tranh và quyền lực nhiều hơn, và đến một lúc chính họ trở lại cấu xé với nhau vì mâu thuẫn, nhất là từ khi ông Huỳnh Phú Sổ vắng bóng về sau.

Tất cả các việc làm này phần đông là do các chức sắc lãnh đạo. Điều này cho ta thấy những người này có tham vọng rất lớn, vì trong thực tế họ chỉ lo hoạt động chính trị nhiều hơn là hoạt động tôn giáo của họ. Sau này, những người dân thường theo đạo cũng biết rõ bộ mặt thật của những kẻ lợi dụng danh nghĩa của đạo đi làm việc sai trái nên đã tỉnh ngộ quay về với Cách Mạng, tham gia kháng chiến chống chính quyền Diệm - Nhu từ năm 1957, đồng thời cũng tham gia vào cuộc đồng khởi ở Đồng Tháp (năm 1960).

Về luật lệ thì cũng giống như đạo BSKH, Tứ Ân Hiếu Nghĩa. Đạo Hòa Hảo không chủ trương xây dựng chùa chiền, không thờ tượng ảnh mà chỉ thờ một tấm Trần Điều để biểu hiện ý nghĩa tâm linh, một ý nghĩa thiêng liêng sâu sắc của tư tưởng Phật Giáo có từ thời Phật Thầy Tây An là “Phật tại tâm, tâm tức là Phật”, tu hành cốt yếu là ở tấm lòng chứ không cần hình thức. Ngoài ra, đạo Hòa Hảo còn thờ Cửu Huyền Thất Tổ và các anh hùng liệt sĩ có công với đất nước, bàn thờ Thông Thiên trước sân nhà là để tưởng nhớ Trời đất. Phẩm vật cúng chỉ dùng hương, hoa, nước lã đơn giản, một sự tiện dụng và phù hợp nhất với hoàn cảnh của những người dân quê chân bùn tay lấm ấy. Người nhập môn phải thệ nguyện là “giữ gìn một đời một đạo cho đến ngày chung thân”. Ăn chay từ thấp lên cao, từ 6 ngày đến 10 ngày hoặc trường chay thì tốt. Ăn mặn phải cử 12 con Giáp. Ngày cầu cúng 2 lần. Cách ăn mặc cũng bình thường, chỉ là áo bà ba đen, quần lá nem, bới tóc (cả nam lẫn nữ), một lối ăn mặc của người xưa với ý nghĩa giữ gìn bản sắc văn hoá của cha ông, tôn thờ tư tưởng luôn nhớ về nguồn cội.

Giáo lý của đạo Hòa Hảo cũng là một sự tổng hợp các giáo lý khác, nhưng lại mang một ý nghĩa thực tiễn, gần gũi với cuộc đời hơn, với từng bước tu tập từ thấp lên cao, nếu muốn học làm Phật trước phải học làm người thông qua tiến trình “Học Phật- tu nhân”.

Học Phật:

Giáo lý học Phật này đa số là được rút ra từ giáo lý của Phật giáo, nhưng nó được đơn giản bớt, sửa đổi cách giải thích khác so với Phật giáo.

Phương pháp học Phật của đạo Hòa Hảo bao gồm ba pháp môn chính đó là ác pháp, chân pháp và thiện pháp.

- Ác pháp: Là các pháp làm trở ngại cho thiện pháp, dẫn đến ô nhiễm thân tâm, tạo nhiều tội lỗi, đưa chúng sanh đến sanh tử luân hồi. Nó bao gồm: Tam Nghiệp (thân nghiệp, khẩu nghiệp và ý nghiệp tạo ra 10 điều ác như sát sinh, trộm cắp, tà dâm, nói dối, nói hai lưỡi, nói khoác lác, tham lam, giận dữ, si mê), Thất Tình (7 trạng thái tâm lý tình cảm như: Mừng, giận, buồn, yêu, ghét, muốn sợ), Lục Dục (6 điều ham muốn của con người như: Danh vọng, tài lợi, sắc đẹp, hư vọng, tật đố. Có chổ nói sắc, thinh, hương, vị, xúc, danh), Ngũ Uẩn (tham, sân, si, nhân, ngã. Có chổ nói là tham lam, hư vọng, ngu si, kiêu ngạo, thói quen xấu), Tứ Đỗ Tường (năm thứ mê hoặc con người: Tữu, sắc, tài, khí).

- Chân pháp: Là những pháp phá tan vô minh, mê hoặc, khai sáng trí tuệ cho chúng sanh giác ngộ chân lý. Nó bao gồm:

Tứ diệu Đế: Đây là bốn chân lý cao siêu của triết học Phật giáo, đó là:

+ Khổ đế: Cuộc đời là một bể khổ.
+ Tập đế: Nguồn gốc của sự khổ.
+ Diệt đế: Cái khổ có thể đoạn tận được.
+ Đạo đế: Con đường đưa đến sự đoạn tận khổ đau.


Đây là sự giải thích của Phật giáo. Tuy nhiên, khi thuyết giảng, ông Huỳnh Phú Sổ sửa lại thứ tự và nội dung như sau:

+ Tập đế: Là khi mới vào tu tập.
+ Diệt đế: Là phải diệt trừ các pháp ác.
+ Khổ đế: Nhẫn nại, nhịn khổ trong tu luyện.
+ Đạo đế: Là đạt đến bậc giác ngộ (thành đạo).


Thập nhị nhân duyên: Là 12 sợi dây chằn chịt tạo nên một chuổi sanh tử luân hồi không thoát ra được. Mười hai nhân duyên gồm có: Vô minh, hành, thức, danh sắc, lục nhập, xúc, thọ, ái, thủ hữu, sanh, lảo tử.

Ngũ trược: Là năm thứ nhơ bẩn ở cỏi đời là: kiếp trược, kiến trược, phiền não trược, chúng sanh trược, mạng trược.

- Thiện pháp: Là các pháp thiện lành, nếu chúng sanh tu tập theo thì sẽ lần lần gội rửa được thân tâm, trở nên thánh thiện và có thể đạt đến quả vị Phật. Thiện pháp gồm có:

Bát chánh đạo: Là 8 con đường tu hành chân chánh theo ba nghiệp thân, khẩu, ý. Gồm có: Chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định.

Bát nhẫn: Là 8 điều phải nhẫn nhịn trong khi tu tập và xử thế.

- Nhẫn năng xử thế: Nhẫn nhịn trong cách cư xử với đời.
- Nhẫn giới: Giữ gìn giới luật một cách trong sạch, nghiêm túc.
- Nhẫn hương lân: Là giữ sự vui vẻ hoà khí đối với chòm xóm láng giềng và cộng đồng xã hội.
- Nhẫn phụ mẫu: Là giữ đức ái kính, hiếu thảo với ông bà cha mẹ.
- Nhẫn tâm: Là giữ lòng cho trong sạch, an tịnh không xao động.
- Nhẫn tính: Là giữ cho tâm tính được điềm đạm.
- Nhẫn đức: Là giữ đức độ hòa nhã với mọi người.
- Nhẫn thành: Là giữ sự thành tâm, thành tín (làm việc gì cũng phải thành tâm tín ý).


Tu nhân

Tu nhân là tu theo giáo lý “Tứ ân”mà đức Phật Thầy Tây An đã vạch sẵn, nhưng đối với đạo Hòa Hảo thì giáo lý nầy được thực hiện một cách triệt để hơn.

- Ân tổ tiên cha mẹ: Con người sinh ra, lớn lên, lập thành danh phận là do công lao sâu dầy của cha mẹ, nhờ ơn đức tổ tiên. Vì thế nên phận làm con phải lo nuôi dưỡng  cha mẹ, thờ kính tổ tiên. Ngoài ra còn phải tu tạo phước lành cầu cho cha mẹ được tăng long phước thọỉ, cữu huyền thất tổ tịnh độ siêu sanh.

- Ân đất nước: Đất nước là nơi tổ tiên ta từng sinh ra và lớn lên, là nơi tạo cho ta một cuộc sống thuần phong mỹ tục, làm rộng lớn tâm hồn ta, nâng đỡ từng bước chân ta, nên mỗi người chúng ta phải biết yêu quê hương tổ quốc, phải có trách nhiệm, quyết tâm bảo vệ đất nước khi bị giặc ngoại xâm, dù bỏ thân mạng cũng không phản bội tổ quốc làm tay sai cho giặc.

- Ân đồng bào nhân loại: Đồng bào là người cùng màu da, cùng tiếng nói với ta nên ta phải biết cùng họ chia sẽ những buồn vui, giúp đỡ họ trong những lúc khó khăn hoạn nạn. Nhân loại là những người không cùng màu da chủng tộc, nhưng lại là đồng loại với ta nên ta phải có bổn phận đền ân đáp nghĩa với một tấm lòng tư,ụ bi, hỹ xã, vô ngã, vị tha, không riêng tư thù oán, gây hại cho người.

- Ân Tam bảo: Tam bảo là 3 ngôi báo Phật Pháp Tăng. Phật là người Giác ngộ, Ngài đã nói ra giáo pháp, khai mỡ trí tuệ cho chúng sanh tu hành, cứu vớt chúng sanh ra khỏi sông mê, bể khổ, nên ta phải đời đời tôn kính, quyết chí noi theo để tu luyện thân tâm , chóng lên đường giải thoát.

Như vậy đạo Hoà Hảo chủ trương vừa học Phật, vừa tu nhân. Quan niệm của họ cho rằng tu nhân là tạo nên Công, học Phật là làm nên Đức, có công có đức mới trở thành bậc hiền nhân chí sĩ được. Tuy vậy, đạo Hòa Hảo lại đặt nặng vấn đề tu nhân làm trọng. Họ cho rằng muốn trở thành Tiên Phật trước phải học đạo làm người: “Dục tu tiên đạo tiên tu nhân đạo, nhân đạo bất tu tiên đạo viễn hỹ”, có nghĩa là: muốn tu tiên trước phải tu đạo làm người, nếu đạo làm  người mà không tu thì tiên Phật hãy còn rất xa vời. Vì vậy ân tam bảo được đặt ở sau cùng là để nói lên ý nghĩa trên. Đó là điểm đặc biệt của người dân Nam bộ, giống như tín ngưỡng thờ Thần là ý thức việc biết ơn những người “Tiền hiền khai khẩn, hậu hiền khai cơ” vậy.

Song song với vấn đề học Phật tu nhân, đạo Hoà Hảo còn chú trọng đến việc để tâm trì niệm lục tự “Nam mô A di Đà Phật” của phái Tịnh Độ Tông trong Phật giáo, nhưng không thờ Phật, không lần chuổi mà chỉ niệm trong tâm theo tinh thần của Phật Thầy Tây An là “Phật tức tâm, tâm tức Phật”. Từ tinh thần đó mà câu niệm Phật đã biến thành câu đầu lưỡi của tín đồ.

Những ngày lễ của đạo Hòa Hảo hầu hết là những ngày lễ truyền thống của Đạo Phật, ngoại trừ những ngày kỷ niệm trong đạo. Ví dụ ngoài các ngày lễ như rằm tháng giêng, rằm tháng bảy, rằm tháng mười, lễ Phật đản mùng 8 tháng 4, lễ Phật thành đạo mùng 8 tháng chạp, lễ vía đức Phật A di Đà 15 tháng 11 …, còn có lễ vía Phật Thầy Tây An, sinh nhật ông Huỳnh Phú Sổ, lễ kỹ niệm các ông Nguyễn Trung Trực, Trần Văn Thành, Ngô Lợi …

Giáo lý của Đạo được thể hiện qua những bài sấm kệ do ông Huỳnh Phú Sổ soạn ra gồm 6 tập là: Sấm Khuyên Người Đời Tu Niệm, Kệ Dân Của Người Khùng, Sấm Giãng, Giác Mê Tâm Kệ, Khuyến Thiện,  Những Điều Sơ Học Cần Biết Của Kẻ Tu Hiền.

Nội dung các sách nầy giống như tư tưởng các sách của ông Sư vãi bán khoai. Cũng có thể nói, giáo lý của đạo Hòa hảo là sự tiếp thu và nâng cao ý thức tư tưởng  BSKH của Phật Thầy Tây An một cách rốt ráo nhất.

2.2.4. Đạo Cao Đài:

Ra đời năm 1926 (có thuyết nói vào đêm Noel- 1925) lúc Liên Đoàn Cộng Sản Đông Dương sắp ra đời dưới sự lãnh đạo của các chi bộ Thanh Niên Cách Mạng Đồng Chí Hội, tiền thân của các tổ chức Bộ Cộng Sản.

Phong trào công nhân, nông dân đấu tranh lan rộng. Có một nhóm tư sản, địa chủ, tiểu tư sản, và công chức có tin thần yêu nước đứng ra thành lập đạo Cao Đài với mục đích tập hợp lực lượng chống thực dân Pháp đô hộ.

Cũng như một số các tôn giáo khác, đạo Cao Đài ra đời vẫn dựa trên những tiền đề kinh đề kinh tế, chính trị, xã hội nhứt định. Trên thực tế, lịch sử nước ta có một sự kiện bi đát vào những năm đầu thế kỷ 20, đó là việc thực dân Pháp đẩy mạnh việc khai thác thuộc địa. Chúng tổ chức vơ vét, bốc lột với chính  sách cai trị rất hà khắc, các cuộc khởi nghĩa nổi dậy khắp nơi nhưng lại lần lược bị dồn vào trong bể máu. Cuộc sống càng ngày càng đi đến cùng cực, nó đã làm cho tư tưởng con người bị dồn nén vào cảnh bi quan yếm thế, tâm hồn vô cùng lạc lỏng, khổ sở. Họ đua nhau tìm đến tôn giáo, nhất là tin vào các bùa chúù phép thuật với một niềm tin đổi đời ở tương lai của ho. Thế nên hiện tượng ra đời của các ông đạo, các giáo phái mang tính chất thần tiên, phù thủy, bùa chú có cơ may lan rộng và phát triển.

Nguyễn An Ninh đã có nhận xét về sự ra đời của đạo Cao Đài như sau: “Dân đã mê muội trong tôn giáo, mà các tôn giáo, các đạo lý của nhà nước đều suy sụp, làm sau mà  không theo Cao Đài  được. Không trông thấy, không suy ra, gặp Cao Đài có màu sắc mới mẽ, lại dễ dàng cho tâm trí như ngựa quen đường  cũ”.

Những năm 1920, phong trào “thần linh học”, một hình thức tín ngưỡng mới từ phương tây du nhập mạnh mẽ ứng hợp với tư tưởng của đạo Lão, một đạo giáo rất tin tưởng về chuyện thần tiên và phong trào “cầu cơ giáng bút” cũng xảy ra rất sôi nổi ở các vùng: Sài gòn, Cần Thơ, Mỹ Tho, Tân An (thuộc An Giang)… Đây là những lý do trực tiếp để đạo Cao Đài ra đời.

Người đầu tiên sáng lập ra đạo Cao Đài là ông Ngô Văn Chiêu, hay còn gọi là Ngô Minh Chiêu, sinh năm 1878, trong một gia đình tiểu chủ tại chợ Bình Tây (chợ Lớn sài gòn). Tục truyền lúc mới chào đời ông không biết bú sữa mẹ mà chỉ uống nước cháo gạo. Lớn lên học rất giỏi nên được cử làm thư ký cho sở Di Trú sài gòn (thời Pháp thuộc) khi còn rất trẻ. Năm 1902, ông được bổ làm tri phủ ở đảo Phú Quốc.

Ông Ngô Minh Chiêu là người rất ham mê chuyện thần tiên và luôn chìm đắm trong những giấc mơ ấy. Sau khi được chuyển về làm chuyên viên ở văn phòng 2 phủ thống soái sài gòn, ông đi gặp gở vớiõ một số bạn bè để tổ chức “cầu tiên giáng bút” rồi loan báo cho bạn bè biết về việc ông được Cao Đài Tiên Ông bảo phải lãnh sứ mạng xây dựng tôn giáo mới ở phương Nam. Cuối cùng ông được mọi người nhiệt liệt hưởng ứng, trong đó phải kể đến các quan chức cao cấp của chính quyền Pháp như ông Lê Văn Trung (sinh năm 1875) ở Chợ Lớn, ông Phạm Công Tắc (sinh năm 1893), ông Cao Huỳnh Cư ở Tân An … và ông Ngô Minh Chiêu chính thức thành lập đạo Cao Đài vào đêm Noel năm 1925 trong một buổi cầu cơ, Tiên ông xuất hiện gián bút ứng bảo thành lập đạo lấy tên Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, gọi tắc là Đạo Cao Đài. Bài thơ ứng bút như sau:

Chiêu Kỳ Trung độ dẫn hoài danh
Bản Đạo Khai sang Quí Giảng Thành
Hậu Đức Tắc Cư thiên địa cảnh
Hường Minh Mẫu đáo thử đài danh.


Bài thơ ý nói Đức tiên ông Bồ Tát muốn chọn ra 12 người (có tên trong bài thơ trên) đứng ra lập đạo.

Ngay lúc đạo Cao Đài phát triển rầm rộ thì ông Ngô Minh Chiêu lại nhường sự lãnh đạo lại cho ông Lê Văn Trung để trở về Cần Thơ hình thành phái Cao Đài Chiếu Minh Đàn.

Ông Lê Văn Trung là người rất thông minh lanh lợi, có tài tổ chức nên đã tiếp thu sứ mạng khai đạo ban đầu của ông Ngô Minh Chiêu và cuối cùng tôn giáo của ông trở thành một trong những tông giáo đứng đầu cơ quan Hành pháp của đạo Cao Đài là Cữu trùng đài. Một thời gian sau, sau khi ông Trung chết, ông Phạm Công Tắc lại tiếp tục trở thành lãnh tụ tối  cao của  Đạo,  nắm  hai  cơ  quan  Hành Pháp và  Lập Pháp “Hiệp Thiên Đài”.

Về cách thờ phụng cũng rất phức tạp như là: Thờ Thiên nhãn, ba vị thánh Tôn Dật Tiên, Vitor Hugo, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Brahma, Civa, Krishna, Khương Thái Công, Quan Công, Lý Thái Bạch, và cả Quan Thế Âm Bồ Tát.

Đạo Cao Đài có một bài cầu tiên gián bút nói lên  ý nghĩa này như sau:

Phật Trời Trời Phật cũng là ta,
Nhánh nhóc chia ba cũng một nhà,
Thích, Đạo, Gia Tô… tay chưởng quản,
Thương dân xuống thế độ lần ba.


Về mặt kiến trúc, điêu khắc, cách thờ  phụng, y phục, kinh kệ cũng là sự pha tạp, sự hỗn hợp nhiều tín ngưỡng và tôn giáo Đông Tây kim cổ, do đó đạo Cao Đài được mệnh danh là đạo hổn hợp.

Giáo lý và luật nghi của đạo Cao Đài cũng là một sự hổn dung các tư tưởng về Thần, Thánh, Tiên, Phật.

Về giáo lý, đạo Cao Đài có những khái niệm về tam bảo, ngủ chi, Cao Đài, Cao Đài Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ. Nó bao gồm:

- Tam bảo: Là tinh, khí, thần (khác với khái niệm Tam Bảo trong Phật giáo).

- Ngũ chi: Là Nhân đạo, Thần đạo, Thánh đạo, Tiên đạo, Phật đạo.

Kinh sách gồm có: Sách Đại Thừa Chân Giáo, Ngọc Đế Chân Truyền, Pháp Chánh Truyền, Thánh Ngôn Hợp Tuyển.

Trong hệ thống tín điều và giáo lý hầu như đều vai mượn từ Phật giáo, Nho giáo, Lão giáo và cả Gia tô giáo, nó được tóm tắc như sau:

- Ngũ giới: Được rút ra từ Phật giáo, gồm có: Bất sát sanh (không sát hại cuộc sống của loài vật), bất du đạo (không tham lam trộm cắp, lừa gạt hại người), bất tửu nhục (không ăn thịt, uống rượu say sưa quá độ dẫn đến các việc làm tội lỗi), bất tà dâm (không ngoại tình hoặc xúi dục người ta vi phạm luân thường đạo lý), bất vọng ngư (không nói dối, không thêu dệt, không thô tục, nói không giữ lời).

- Tứ đại điều quy: rút ra từ Nho giáo, đó là: Ôn, Cung, Khiêm, Nhường.

+ Ôn: Sự ôn hòa, tuân theo lời dạy của bề trên và chịu sự điều độ của bậc dưới, lấy lẽ để hòa người, nếu có lầm lỗi phải ăn năng chịu thiệt.

+ Cung: Chớ khoe khoan kiêu ngạo, phải biết quên mình giúp đỡ người khác làm nên đạo, không oán cừu riêng tư cũng không che lắp những người hiền đức.

+ Khiêm: Tiền bạc xuất nhập phải phân minh, không được vai mượn mà không trả, phải khiêm tốn và kính trên dạy dưới.

+ Nhường: Ở trước mặt hay sau lưng đều một lòng một dạ, đừng kính trước khinh sau, thấy đồng đạo đấu tranh nhau phải dùng lời hoà giải, cũng không được cậy quyền mà yểm tài người.

Ngoài ra, đạo Cao Đài còn rất chú trọng trong việc giáo dục tín đồ về lối sống đạo đức theo Nho giáo là Tam cương (quân, phu, phụ), Ngũ thường (nhân, lễ, nghĩa, trí, tín) cho nam giới và Tam tùng (tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu phu tử tòng tử), Tứ đức (công, dung, ngôn, hạnh) cho nữ giới. Cộng với những qui định riêng về việc nhập môn cầu đạo, việc xây lập họ đạo, xây dựng Thánh Thất, tổ chức quan, hôn, tang, tế.

Tín đồ theo đạo cũng có 2 bậc thượng thừa và hạ thừa tuỳ theo khả năng và điều kiện của mỗi người mà có pháp môn thực hành phù cho hợp.

- Thượng thừa: Bao gồm tất cả những tín đồ có chức sắc (từ giáo hữu trở lên), thực hiện những điều lệ trên một cách nghiêm túc như: Không được lặp gia đình, phải xuất gia vào Thánh Thất trọn đời, để râu tóc, trường chay tuyệt dục với một đời sống khổ hạnh.

- Hạ thừa: Là những tín đồ sống tại gia bình thường theo thế tục như được thờ cúng Tổ Tiên, mỗi ngày bốn lần cầu kinh trước bàn thờ Đạo tại nhà theo tứ thời Tý, Ngọ, Mẹo, Dậu, hoặc đến Thánh Thất tuỳ theo điều kiện. Ăn chay mỗi tháng 2 ngày, 10 ngày, hoặc mỗi năm ba tháng (tháng giêng, tháng bảy, tháng mười). Đặc biệt, tín đồ đạo Cao Đài phải tôn kính đấng Chí Tôn là Cao Đài Thượng Đế, đồng thời cúng tổ tiên cũng không được cúng đồ mặn, cấm đốt vàng mã …

Về kinh sách gồm có: Kinh Cúng Tứ Thời, Kinh Quan Hôn, Kinh Tang Tế, Kinh Thiên Đạo. Hầu hết được biên soạn theo văn vần, đọc tụng bằng giọng Nam ai hoặc Nam xuân.

Về Lễ nghi cũng rất cầu kỳ, rườm rà không kém. Ví dụ như: Đốt 5 cây hương là tượng trương cho tiến trình tu tập của đạo Phật là: Giới, định, huệ, tri kiến, giải thoát. Riêng theo sách Đại Thừa Chân Giáo nói 5 cây hương tượng trưng cho ngũ hành là: Kim, mộc, thuỷ, hoả, thổ. Còn rượu, trà, hoa tượng trưng cho Tam Bảo của Lão giáo là tinh, khí, thần. Tín đồ khi đi dâng lễ chân phải theo hình chữ Tâm (đây là di tích của đạo Nho, cách lấy dấu thì theo đạo Công giáo nhưng lại biểu hiện sự tượng trưng Tam Bảo của Phật  giáo là Phật, Pháp, Tăng.

Về lễ phục cũng có 3 ngành riêng biệt như:

- Ngành thái (thuộc Phật) màu vàng.

- Ngành thượng
(thuộc Lão) màu xanh.

- Ngành Ngọc
(thuộc Nho) màu trắng.


Các loại lễ phục này được cắt may rất cầu kỳ theo phẩm phục của vua quan thời phong kiến.

Theo như các giáo lý, nghi lễ, và luật nghi trên, những nhà nhận xét cho rằng đạo Cao Đài chỉ là một giáo lý của sự tổng dung, sự kết hợp, chắt lọc từ những giáo lý đã có sẵn ở các tôn giáo trước đó chứ tự bản thân nó không tạo  ra được cái gì mới mẻ cả. Một lần nữa, Nguyễn An Ninh nhận xét: “Đạo Cao Đài là cái củ của dân mê tín được sơn lại mới, mọi vật củ ngày xưa nay đều mang một cái tên mới, coi lạ mà có quen”. Tuy vậy, đạo Cao Đài cũng rất gần gũi, phù hợp với trình độ nhận thức của một bộ phận cư dân Nam bộ thời đó, và nó cũng đáp ứng được những nhu cầu tâm linh của họ.

Như chúng ta biết, bất cứ một tôn giáo nào khi hình thành và phát triển đến một mức độ nhứt định cũng đều có sự phân hóa, nhưng nếu như các tôn giáo khác phân hoá do sự bất đồng về quan điểm giáo thuyết, thần học … thì đạo Cao Đài bị phân hoá do những mâu thuẫn cá nhân của các chức sắc với nhau.

Đạo Cao Đài khi mới ra đời là một tổ chức thống nhứt với cơ quan đầu là Toà Thánh Tây Ninh, sau này do nhiều mâu thuẩn nên các nhánh khác được lập ra như: Ông Nguyễn Văn Ca với tổ chức “Cao Đài Minh Lý Hội” ở Mỹ Tho (năm 1929). Ông Trần Quan Đạo và ông Cao Triều Phát với tổ chức “Cao Đài Minh Chân Đạo” ở Bạc Liêu. Ông Nguyễn Ngọc Trương với tổ chức “Cao Đài Ban Chỉnh Đạo” ở Bến Tre. Ông Nguyễn Hữu Chỉnh, Nguyễn Hữu Tài, Phan Văn Tòng với tổ chức “Cao Đài Thiên Thai Tinh” cũng ở Mỹ Tho (sau chuyển về Bến Tre đổi tên là Cao Đài Thiên Tiên). Bên cạnh đó còn có một số tổ chức khác như  “Cao Đài Bạch Y Liên Đoàn Chân Lý” ở Rạch Giá, Kiên Giang, Đồng Tháp. Cao Đài Thượng Đế ở Cần Thơ. Cao Đài Trung Việt ở Đà Nẵng và một số tỉnh ở miền Trung. Trong thời kỳ kháng chiến còn có các tổ chức khác như: Cao Đài thống nhất do Phan Khắc Sữu và Nguyễn Bửu Tài (giáo trưởng nhóm Cao Đài Tây Tông Vô Cực) thành lập năm 1958, Cao Đài Việt Nam Bến Tranh, Cao Đài Việt Nam Bình Đức do Trần Lệ Xuân chỉ đạo một số người thành lập năm 1960 - 1962, Cao Đài Liên Hiệp Miền Tây do Đặng Văn Quang và Trần Kim Chiêu (Ngọc Đầu Sư phái Cao Đài Thiên Tiên) lập, Bữu Tòa Minh Long Chân lập năm 1969 …

Sự phân hoá những chi phái của đạo Cao Đài cũng là sự phản ảnh tình hình xã hội thời ấy. Có nghĩa là lúc bấy giờ đất nước Việt Nam cũng như trên toàn thế giới đang trong cơn rùng mình chuyển động, sự tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế và chiến tranh đã lan tràn khắp mọi nơi trên thế giới bắt đầu từ năm 1930.

Tuy ban đầu mục đích của việc thành lập đạo là để tập hợp lực lượng chống ngoại xâm, nhưng trong quá trình phát triển, đạo Cao Đài cũng là sự phân hoá, chia rẻ về thái độ chính trị của họ. Thế nên, trên thực tế có một số chức sắc đã lợi  dụng cơ hội, hoặc có tư tưởng hướng ngoại, hoặc bị các thế lực đế quốc, phản động lôi kéo, mua chuộc nhằm thực hiện ý đồ chính trị của họ. Vì vậy có lúc họ hợp Nhật để đánh Pháp, có lúc hợp Pháp để chống lại nhân dân ta. Tuy nhiên, cũng có một số tín đồ và chức sắc đã có xu hướng trong việc tích cực tham gia, đóng góp sức người, sức của cho cách mạng và một số giáo phái đã phối hợp để đấu tranh chống khủng bố Cao Đài cũng như đòi chính quyền Mỹ Diệm thi hành hiệp định Genève (1953) và các cuộc kháng chiến chống Mỹ sau này.

2.2.5. Đạo Dừa:

Như đã nói, trong phong trào vận động giải phóng dân tộc ở đồng bằng Nam bộ vào những năm 1940 - 1945, ngoài những tầng lớp nông dân ra còn có một số thân hào địa chủ, các quan chức, các nhà doanh nghiệp, các tầng lớp thượng lưu… Họ cũng muốn dùng tín ngưỡng của tôn giáo để tập hợp quần chúng chống lại sự chèn ép của bọn thực dân, bọn đế quốc Pháp xâm lược. Điều này thể hiện rỏ qua sự ra đời, sự hoạt động của các đạo giáo như đã nói, trong đó cũng phải kể đến hiện tượng của Đạo Dừa.

Đạo Dừa do ông Nguyễn Thành Nam sáng lập. Ông sinh năm Kỷ Dậu (1909) tại xã phước Thịnh, tổng An Hoà, huyện Trúc Giang, tỉnh Kiến Hoà (nay thuộc tỉnh Bến Tre) trong một gia đình thuộc hàng thượng lưu rất giàu có, cha làm chánh tổng địa chủ.

Từ năm 1928 - 1935 ông sang Pháp du học, đậu được nghành kỹ sư hóa và một số trường đại học khác, sau trở về nước lấy vợ sinh con. Đến năm 1943, bổng nhiên ông thay đổi tánh tình, chán ngán cỏi đời khổ đau trần tục nên đã rời bỏ gia đình vào núi Thất Sơn, xuất gia với Hoà Thượng chùa An Sơn ở núi Tượng. Ông tu theo hạnh khổ đầu đà, phát nguyện ngồi thiền dưới cây cột phướng trước sân chùa suốt 3 năm liền, ngày đêm tịnh khẩu, bị ruồi bu muổi cắn cũng không nãn chí, thân hình mỗi ngày mỗi gầy ốm chỉ còn da bộc xương, chỉ có lúc đến giờ ăn mới ôm bát hóa trai rồi trở lại như củ.

Mãn hạn 3 năm, ông xuống núi vân du hành đạo nhiều nơi từ Sài gòn đến Mỹ Tho, Bến Tre. Đến năm 1950 ông trở về quê hương Phước Thịnh, tại nơi đây ông xây dựng đài Bát quái cao 14 mét để toạ thiền. Cuộc sống tu hành đơn sơ, đạm bạc, thức ăn chỉ là trái cây, chủ yếu là dừa (nên mới có biệt danh là Ông Đạo Dừa), ngày ăn một bữa, ban đêm lên tọa thiền ở bát quái đài.

Đối tượng tôn thờ của ông là sự tổng hợp các mối đạo khác như: Đạo Phật, Đạo Lão, Đạo Nho và cả chúa GiêSu .

Khác với các đạo giáo khác, ông không cho ra đời một hệ thống giáo lý hành  đạo riêng biệt nào cho mình và tín đồ mà chỉ soạn ra một số bài tụng để đọc hằng ngày. Pháp môn tu chủ yếu của ông là những  câu niệm Nam mô A Di Đà Phật, A men và dạy mọi người ăn chay niệm Phật. Tín đồ có một số là người Mỹ, trong đó có con trai của nhà văn J. Steinbeck.

Ông Nguyễn Thành Nam còn có một số sự kiện nổi bậc đáng chú ý như sau :

Vận động tranh cử Tổng Thống Ngụy Sài gòn đồng thời tuyên truyền đạo của mình trên báo chí.

Đến năm 1958, gởi thư đặt nhiều yêu sách và phản đối với chính quyền Ngô Đình Diệm, cuối cùng ông cũng bị bắt và được thả ra sau đó.

Ông tự xưng mình là Thiên Nhơn giáo chủ Thích Hoà Bình Nam -Nguyễn Thành ở chùa Nam  Quốc Phật thuộc Cồn Phụng (gần Rạch Miểu).

Năm 1964 cũng tại nơi đây ông lại dựng thêm đài Bát quái cao 18 mét, bên trên đặt quả địa cầu khắc hình chữ vạn và nhiều dấu hiệu  khó hiểu khác. Ông làm thuyền Bát nhã hình tròn như cái đĩa lộ thiên nếu có ai hỏi thì giải thích rằng đó là thiên cơ ngày kia sẽ ứng nghiệm. Ông còn treo chuông để rung hằng ngày để cầu cho phong điều vũ thuận, quốc thái dân an, nguyện cho tiên Phật mau ra đời cho chúng sinh bớt khổ. Ông sang vận động cả Nông-Pênh và bị bắt, một thời gian sau mới được tha.

Đạo của ông về sau càng ngày càng tan rã, phân chia ra nhiều nhóm khác nhau để đi rãi rác các nơi lập chùa hành đạo như : Nhóm đạo Chín Hồng ở Thủ Đức, Nhóm Nguyễn Văn Sự ở Long Thành, nhóm Hoà Đồng tôn giáo của Lý Văn Thạnh ở Chợ Lớn … Nhìn chung, đạo của ông mang nặng tính dị đoan mê tín.  

2.2.6. Đạo Nằm:

Vẫn vào những năm khói lửa ấy, một mối đạo nữa lại ra đời đó là Đạo Nằm, nhưng khác với các đạo giáo khác về hình thức lẫn nội dung, nhất là việc ông không quan tâm đến xã hội, thời cuộc, chỉ chuyên tu giải thoát và hoá độ chúng sanh. Điều này được thể hiện qua cuộc đời tu tập và hành đạo của ông. Đạo này tuy không phát triển rộng rãi mà chỉ ảnh hưởng một vài vùng, nhưng vẫn tồn tại đến hôm nay.

Đạo Nằm được sáng lập vào năm 1938, do ông Trần Văn Thế, sinh năm 1904 tại làng Hoà An, Cao Lãnh (Sa Đéc cũ, nay là Đồng Tháp). Sinh ra trong một gia đình dân dã, nhưng truyền thuyết về cuộc đời của ông lại mang đầy tính huyền thoại của một bậc giáo chủ giống như các tôn giáo khác. Tương truyền rằng lúc ông chưa sanh, mẹ ông có lần nằm mộng thấy ăn hoa sung rất đẹp, hương thơm ngào ngạt. Lần sau khi hai ông bà chở hoa quả bán tại vàm Cái Mơn (Vĩnh Long), đang lúc trời giông bão lớn, bổng có một lằn điện xẹt vào mình cụ bà, tự nhiên bà cảm thấy cơ thể nhẹ nhàng, tinh thần minh mẫn. Sau một thời gian thọ thai, cụ bà hạ sinh một người con trai mụ mẫm đó là ông. Khi ông chào đời, mọi vật xung quanh bổng nhiên bừng sáng lạ thường, chim từng đàn ríu rít trên cành sung to trước sân nhà, mùi hương tỏa khắp, mọi người đều mừng rở. Bà bổng nhớ lại lời tiên tri của sư tổ Từ Vân từng  nói với hai ông bà là sẽ có một vị đại Bồ Tát mượn chổ gián trần nên trong lòng hoan hỷ.

Thuở thiếu thời ông sống trong gia cảnh rất nghèo khó, nhưng rất siêng năng, hiếu học lại rất mực hiếu thảo với mẹ cha, được làng xóm thương mến. Mới 13 tuổi mà to lớn và sức mạnh phi thường như người 18 tuổi. Do nhà nghèo em đông, ông đành sớm nghỉ học theo cha đi cày ruộng.

Năm 18 tuổi, trên tiến trình cùng thân phụ bôn ba khắp nẽo, đến tận Biển Hồ để tìm kế sinh nhai, thấy cảnh nhiều sinh vật bị giết mà chạnh lòng, rồi phát chí xuất gia theo Phật giáo. Ông đến tu tại chùa Phước Thiền (thuộc Long Xuyên - An Giang) được pháp danh là Bữu Nguyệt. Do tu học rất cần cù, oai nghi trọn vẹn nên được mọi người thương yêu, kính nễ.

Đến 23 tuổi, ông được sư trụ trì cử đến chùa Tân Long thuộc làng Tân Thuận Tây, Cao Lãnh, để trao đổi giáo lý. Ông tu học dưới sự dẫn dắt của sư tổ Từ Vân, trụ trì chùa Tân Long với pháp danh là Tịnh Nghiêm. Tương truyền rằng, tại nơi đây việc tu hành của ông có nhiều linh nghiệm được các huynh đệ đồng môn cho là ông đắc đạo.

Sau đó ông trở lại chùa Phước Thiền làm công quả 2 năm rồi phát nguyện tu theo hạnh ngọa thiền gọi là “cửu niên viên bích”. Ông nằm bên hiên chùa chỉ bằng bộ vạt tre lá thô sơ suốt 9 năm, chịu đựng mọi sự khổ hạnh và thử thách. Từ đó ông có danh là Đạo Nằm.

Nói về việc tu hành của ông cũng có những nét giống như những vị tu hạnh đầu của Phật giáo thời Đức Phật, cộng với nhiều sự linh ứng trong lời nói và việc làm nên được nhiều người cho rằng ông là Phật Di Lặc giáng thế mở hội Long Hoa nơi cỏi ta bà (mà theo kinh Phật, Đức Thích Ca đã có lần nói đến). Điều này được chứng minh qua lời nói đầu tiên của ông sau chín năm thiền ngoạ:“Xuất dương ta ra đời, ta khai mở chánh pháp mới, pháp này tất cả đều trọn lành, trọn thanh. Ta là bậc vô sư tự ngộ, như thị tri, như thị thị kiến thực thực tại, bằng trực giác, không qua trung gian, cũng không do ơn thần linh, chư Phật, Bồ Tát. Nên nguơn hội này ta tự chế giới luật, phản bổn hoàn nguyên, là pháp lành mới đến cho chúng sanh tu học, ta tu theo pháp nguyên thủy của Đức Thích Ca, ta hành theo pháp Di Lặc cứu độ ba cỏi khai mở hội Long Hoa, lập thượng nguơn cho  Thánh Đức ra đời …”.

Như vậy, qua lời nói trên, ông cũng đã tự nhận mình là người tiếp nối theo di chỉ của Đức Phật Thích Ca, khai mở hội Long Hoa đễ cứu độ chúng sanh trong đời mạt pháp, nên ông đã tự chế ra một số giới luật và kinh tụng bao gồm: 186 điều pháp; 689 điều luật; về kinh tụng, ông nói Long Hoa Đại Thừa gồm 5 đệ.

Ông hành đạo tại làng Hoà An gần 3 năm, Tăng Ni và thính chúng theo rất đông có đến hàng ngàn người. Sau đó, ông lần lượt thành lập các chùa gồm 4 cảnh di tích mà cho đến ngày nay vẫn còn tồn tại. Đó là chùa Minh Bữu, chùa Vân Lôi, chùa Thiên Đà (thuộc huyện Cao Lãnh - Đồng Tháp) và chùa Thành Hoa (thuộc xã Mỹ Luông - Chợ Mới - An Giang).

Về cách thờ cúng ông chủ trương “chánh pháp vô vi”, chánh điện chùa du cũng có bàn thờ Phật Thích Ca, đối diện bàn Hộ Pháp, đặc biệt là có bàn Long Hoa nhưng tất cả chỉ để một lư hương chứ không thờ hình tượng cũng không đánh mõ tụng kinh như các chùa khác.

Pháp môn tu chính của ông là dạy đệ tử niệm Phật tham thiền để trở về với bổn tâm chứ ông không chủ trương tu bằng hình tướng (ý nói đến việc thờ Phật, tụng kinh).

Về y phục thì tất cả Tăng Ni từ nhỏ đến lớn vẫn chỉ mặc một bộ vạc hò màu vàng. Khi lễ Phật có đắp y vàng theo Phật giáo Bắc Tông.

Năm 1953, được tín chủ hiến đất và kinh phí, ông cho xây dựng chùa Thành Hoa với chu vi rất rộng, vẫn lập chánh điện để thờ phụng, nhưng hậu tổ là nơi ngự của ông để hằng ngày thuyết pháp cho thính chúng.

Ảnh hưỡng của ông đến cả các tôn giáo bạn đều phải nễ. Họ hối hả quay về với đạo, tu theo pháp môn mới rất đông, trong đó có các đạo giáo tên tuổi lúc bấy giờ như: Đạo Công giáo, đạo Cao Đài, Cao Đài Toà Thánh Tây Ninh, Cao Đài Bến Tre, Cao Đài Vĩnh Long, Hoà Hảo …

Do ảnh hưởng của ông mỗi ngày một lớn,  tín đồ mỗi ngày một đông nên một số người trong đạo Hoà Hảo đã nảy sinh mâu thuẫn đối nghịch luôn tìm cách chống đối, cuối cùng ông bị giết vào năm 1954 tại Thành Hoa Tự.

Như vậy, giáo phái của ông cũng đã trải qua một thời vàng son mà cho đến hôm nay vẫn còn lưu dấu. Sau khi ông viên tịch, thể theo chính quyền và Giáo hội lúc bấy giờ, một số đệ tử lớn đã đưa 4 cảnh chùa di tích của ông vào Giáo hội Phật giáo Việt Nam đồng thời thỉnh tượng Phật về thờ, tụng kinh bái sám với những cái tên là Minh Bữu Tự, Vân Lôi tự, Thiên Đà Tự và Thành Hoa Tự. Tuy vậy, người ta vẫn quen gọi với những cái tên của thời xa xưa ấy “ bốn cảnh chùa của ông Đạo Nằm”.

2.2.7. Các đạo giáo khác:

Theo sinh hoạt tín ngưỡng dân gian, một số người dễ dàng trở thành ông đạo nếu như họ có những biểu hiện của cuộc sống bất bình thường, những đặc điểm kỳ dị của cơ thể … rồi đưa ra một vài tín điều hoặc một số thuyết lý gì đó nói về Thần, Thánh, Tiên Phật … lặp tức họ được tôn  sùng, cung phụng và bổng nhiên có cả hàng trăm, hàng ngàn tín đồ chạy theo. Phần lớn các ông đạo đều là những người ít học, mù chữ nhưng lại có tài ăn nói. Đối tượng dẫn dắt là những dân đen ngu dốt. Chính vì thế nên thông thường các mối đạo của các ông nổ ra rầm rộ một vài năm hay năm bảy tháng rồi lặng mất, không còn ai để ý đến. Đó là một số những mối đạo nhỏ được đề cặp như:

- Đạo Kiếng: Tục danh là ông Mười Phé (không rỏ tên thật). Sở dĩ được gọi là đạo Kiếng là vì lúc nào ông ngồi thiền đều để tấm gương to trước mặt. Trước ông tu ở núi Cấm, sau trở về Long Điền (Chợ Mới) lập am thu nhận tín đồ khá đông. Tuy là ở chợ nhưng ông cũng đóng thuyền Bát Nhã với ý nghĩa là cứu đất nước khỏi họa đao binh và vớt đệ tử trong ngày tận thế. Ông bị giặc giết năm 1945 tại vùng Thất Sơn.

- Đạo Thứ: Do Nguyễn Văn Thức sáng lập. Ông sinh ra ở vùng Thất Sơn (An Giang), sau xuống núi lập am ở Phú Lâm (Tân Chính - Châu Đốc) để tu luyện bùa phép, làm thuốc chữa bệnh rồi cũng tập hợp lực lượng mưu đồ đánh Pháp. Cuối cùng ông bị Pháp giết chết và bêu đầu năm 1845.

- Đạo Tưởng: Do Lương Minh Quốc sáng lập năm 1909 tại Long Phú (Châu Đốc - An Giang), người ta gọi ông là ông Đạo Quốc. Ông tự xưng mình là Minh Hoàng rồi phong chức cho các môn đệ, chuẩn bị khởi nghĩa chống Pháp, sau khi bị thất bại, đạo của ông hoàn toàn tan rả.

Ngoài ra còn có các ông đạo khác như: ông Đạo Ớt, Đạo Thắng, Đạo Cao, ông cao trên 2 mét, mỗi khi ông đi, trẻ nhỏ thường bu quanh dòm ngó. Ông đạo Câm, suốt ngày làm thinh, mẹ cha hỏi cũng không thưa, ai chọc trêu cũng không tức. Ông đạo Đi Chậm, chỉ đi khoan thai từng bước, vài bước lại đứng nghỉ một lúc. Ông đạo Rắn, lúc nào cũng có con rắn cuộn trên cánh tay, sau ông bị rắn cắn chết. Ông đạo Chó (ở Đốc Vàng), ông sống bằng nghề làm thuê, tánh tình hiền lành chất phát nhưng chỉ một điều là ông nhất nhất tôn thờ chó, lo cho chó ăn mặc giống như người, mỗi ngày 2 lần ông thắp hương khấn chó, khi chó chết ông làm đám tang long trọng như cha mẹ, để tang và khóc lóc thê thảm. Ông đạo Cậy (ở Bình Hoà), tên là Nguyễn Văn Cậy, do mắc bệnh lạ, hễ cứ đến mùa đông chân ông nổi vẩy tròn như vẩy cá, mùa hè thì vẩy lặng, tín đồ cho là vẩy Rồng và tin ông có mạng cứu người, ông cũng lập am, dùng thuốc nam trị bệnh. Ông chết năm 1966.

Sau hiệp định Genève 1954, còn có các mối đạo như Hội Thông Thiên Học, đạo Ba Hai (Baha’i- gốc Aráp), đạo Subub (gốc Indonésie), Việt Võ Đạo, Hồng Môn Minh Đạo, Tổ Tiên Chính Giáo, Thiên Khai Huỳnh Đạo …

Tóm lại, mặc dù các đạo giáo này đã sử dụng một số giáo lý trong đạo Phật, nhưng không phải là tông phái của Phật giáo. Khi bọn địa chủ phong kiến bốc lột, bọn thực dân giày xéo quê hương thì các sĩ phu yêu nước cùng với nông dân chống lại bằng mọi cách, hoặc bí mật hoặc công khai dưới hình thức đạo giáo. Cho nên có thể gọi đây là những đạo giáo “cứu thế” .

Đối với nhân loại, tôn giáo thường bị pha tạp là do các yếu tố về văn hóa, tín ngưỡng, phong tục tập quán … Tuy nhiên, sự pha tạp cũng có nhiều sự khác biệt, lắm khi lại bị những thế lực chính trị, những quyền lực của kinh tế chi phối, có tính cách thế tục hóa rất cao, thế nên các đạo giáo ở Nam bộ là trung gian giữa con người, thiên nhiên và thời cuộc. Con người phải từng sống, từng trãi qua mới có thể biết được. Vì thế chỉ có Miền Nam Việt Nam mới có nhiều mối đạo như thế.

Tôn giáo còn có những qui luật riêng của nó, có khi là huyễn hoặc nhưng cũng không thể cho là mê tín được. Và nếu như cái nền tảng nhân bản đạo đức luôn luôn được tôn trọng thì nó sẽ tồn tại mãi mãi với thời gian.

2.3. Phật giáo trong thời kỳ xây dựng xã hội chủ nghĩa:

Trong thời đại công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Phật giáo đã đóng góp một phần không nhỏ vào công cuộc cải thiện xã hội. Bởi xã hội càng hiện đại bao nhiêu thì con người càng dễ dàng bị cám dỗ bấy nhiêu, cuối cùng lại đắm mình trong đau khổ, tuyệt vọng và họ đã tìm đến đạo Phật như đợi chờ một sự cứu rổi. Các nhà nghiêng cứu cũng nhận ra đều đó như sau: “Con người dù hạnh phúc hay khổ đau thì vấn đề của sự tồn tại và sự an tỉnh tâm hồn vẫn luôn là điều khắc khoải. Chỉ có Tôn giáo mới đáp ứng được hai điều này một cách rốt ráo và trung thực, lâu bền được”.

Bản chất của đạo Phật tuy là để giải thoát khổ đau nhưng không phải xa rời cuộc đời mà luôn đồng hành với cuộc đời để khắc phục những khổ đau ấy, hướng dẫn con người bước chân vào cuộc chiến đấu thầm lặng của chính mình giữa cái ác và cái thiện, giữa tham lam và bố thí, giữa hạnh phúc và khổ đau … để đạt được sự an bình trong tâm thức. Cuối cùng họ cũng nhận chân được giá trị đích thực của cuộc sống “hạnh phúc của người khác chính là hạnh phúc của mình, cho tất cả và sẽ nhận được tất cả”, và họ đã biết hy sinh tài sản, đóng góp sức mình vào công cuộc an sinh xã hội, họ làm với tất cả tình thương yêu và nhân nghĩa. 

Hiện nay nhà nước ta có chủ trương tự do tín ngưỡng. Đối với Phật giáo, Đảng và nhà nước đã có những chính sách mở rộng, nhằm tạo điều kiện để Phật giáo phát huy tính thực dụng của nó bằng cách hổ trợ cùng với ban lãnh đạo Giáo hội, các cơ sở để xây dựng nhà tình thương, Tuệ tỉnh đường, khám và điều trị Đông Tây y miễn phí cho người nghèo. Tham gia các chiến dịch xóa đói giảm nghèo, xóa mù chữ với những lớp học tình thương, các cơ sở nuôi dạy trẻ mồ côi, trại khuyết tật, người già neo đơ, tổ chức các chuyến thăm viếng an ủi các trại cải tạo tệ nạn xã hội giúp họ có những nhận thức mới mẻ, đúng đắn hơn trong tương lai nhằm hướng vào lợi ích chung của xã hội.

Phật giáo hiện nay còn tham gia vào các bộ máy của nhà nước như Hội Đồng Nhân Dân, Mặt Trận Tổ Quốc, Ban Tôn Giáo, Hội Phụ Nữ … Ngoài ra, để phát huy truyền thống văn hóa dân tộc, nhà chùa còn tổ chức các lễ hội truyền thống nhằm đáp ứng những nhu cầu tín ngưỡng lành mạnh của người dân.

Tuy nhiên, ngoài tính tích cực trên còn có những mặt tiêu cực khác như có một số người lợi dụng lòng tin của tín đồ bày ra những trò dị đoan mê tín. Những kẻ ganh gét thì tìm cách xuyên tạt, chống phá tinh thần đại đoàn kết của nhân dân ta bằng nhiều hình thức hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp. Hoặc có một số chính quyền ở một số địa phương do lơ là pháp lệnh tự do tín ngưỡng của chính phủ nên có không ít trường hợp gây khó khăn hoặc hạn chế trong những hoạt động chính đáng của các cơ sở Phật giáo.

Tóm lại, Tôn giáo luôn vận hành theo những quy luật riêng của nó nhưng nó vẫn có sự thay đổi để phù hợp với sự phát triển của xã hội, phù hợp với nhận thức con người theo từng thời đại, bởi “Tôn giáo là phương tiện để con người tìm thấy ý nghĩa của cuộc sống”. Vì thế ngày nay bản thân của mỗi Tôn giáo đã giảm bớt cuồng tín, để đổi mới hơn nữa với tư duy  “Tôn giáo là một bộ phận cấu thành của văn hóa”. Hơn thế nữa, Phật giáo ngày nay chẳng những không chống lại khoa học mà còn có vai trò làm rỏ thêm về vấn đề nhận thức khoa học nữa.

Xã hội ta trong thời kỳ kinh tế thị trường đang trên đà phát triển thì sự liên hệ giữa tín ngưỡng, Tôn giáo với văn hóa xã hội là điều mà tất cả chúng ta cần quan tâm và nghiêng cứu.

 
NHẬN ĐỊNH VÀ KẾT LUẬN

Từ thời cổ đại,Việt Nam đã là nơi gặp gỡ giao lưu văn hóa của nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là Ấn Độ và Trung Hoa. Về lĩnh vực thương mại, Việt Nam lại là nơi có nhiều vật quí hiếm nhất nên từng được các thương gia nước ngoài gọi là “hòn ngọc viễn đông”của vùng Nam Á. Đặc biệt là sự giao lưu giữa văn hóa vật chất và văn hóa tâm linh. Đối với văn hóa tâm linh còn có sự hội nhập của các Tôn giáo lớn như Phật giáo, Bà la môn giáo, Hồi giáo … và một số tín ngưỡng bản địa do các điều kiện khác tạo thành. Tuy nhiên, chỉ có Phật giáo có ảnh hưởng sâu rộng nhất đối với đời sống tín ngưỡng của người dân cùng tồn tại lâu dài nhất. Điều đó đã được thể hiện qua các phong tục tập quán và nếp sống sinh hoạt của họ. Theo thời gian, không gian và hoàn cảnh, nó đã khéo hội nhập, uyển chuyển để phù hợp với từng con người theo từng thời đại khác nhau để tạo thành một nét đẹp văn hóa Việt Nam mang tính riêng biệt.

Đối với khu vực ĐBSCL, tuy chỉ mới định hình rỏ nét cách đây 300 năm, nhưng các nền văn hóa ấy đã có từ khi con người mới đặc chân đến, khi mà ranh giới nước nhà chưa phân biệt rỏ. Thế mà từ một vùng đất hoang vu hẻo lánh, do sức lực của con người, do sự kết tụ những tinh hoa văn hóa của nhiều dân tộc khác nhau và do được “bản địa hóa” nên cuối cùng nó đã trở thành một chất liệu đặc thù không thể thiếu đối với người dân Việt, một xứ sở mà thiên tai và chiến tranh luôn rình rập. Thế nhưng con người vẫn chiến thắng, vẫn chinh phục được, còn làm cho nó trở nên trù phú. Đó là những điều kiện để cho ra những cơ sở như đền thờ, lăng miếu cho đến các tín ngưỡng, các tập tục thờ cúng.

Người dân sông Cửu Long luôn có óc sáng tạo, luôn tìm kiếm những cái gì mới mẻ cho tương lai nên họ không ngừng “tiếp thu và sàng lọc”, do vậy họ đã vượt qua tất cả mọi chướng ngại. Đặc biệt là sự sáng tạo để trở thành sức mạnh ngàn cân chiến thắng mọi kẻ thù xâm lượt từ giặc phương Bắc đến phương Tây. Trong các chất liệu để tạo nên sức mạnh ấy phải kể đến Phật giáo.

Phật giáo đã du nhập từ những năm đầu thế kỷ, nó đã thấm sâu vào máu thịt của người dân, đã gắn bó cùng phù hợp với lối sống đạo đức qua việc thờ cúng Trời Phật, Tổ Tiên, thờ Thần dân tộc. Đối với những người dân quê chất phát, đạo Phật đến với họ không phải cao siêu, xa lạ mà rất ư bình dị, gần gủi qua những câu ca dao, tục ngữ mang đầy triết lý sống Phật giáo, nó còn đóng góp một phần đáng kể vào nền thơ ca Việt Nam. Điều này ta thấy rất rỏ qua các thời đại Lý - Trần, Phật giáo là quốc giáo, người dân sống và hành sử theo thập thiện. Những vị vừa là Vua vừa là Thiền sư, vừa là những nhà thơ đặc sắc. Khi đất nước bị giặc ngoại xâm thì các vị ấy “cởi áo cà sa khoác chiến bào”. Khi đất nước thanh bình thì lo chăn dân trị nước, thực hiện giáo lý vô ngã vị tha, xem kẻ thù như những người thân thuộc. Họ đã khéo léo đưa Phật giáo vào tính thực dụng của nó một cách triệt để. Nhứt là thuyết từ bi cứu khổ, nhân quả luân hồi, vô ngã tùy duyên … đã thấm sâu vào mọi tầng lớp người từ hào trưởng đến nông dân cùng khổ. Chính lòng tin ấy đã làm nên mọi kỳ tích. Giáo sư Trần Văn Giàu cũng nhận định: “Đức thương người của Tổ Tiên là đoàn kết, đấu tranh trừ hại, hưng dân lơi nước”. Thuyết này biểu hiện qua các đạo giáo cứu thế như BSKH, Tứ Ân Hiếu Nghĩa, Hòa Hảo … Ngoài ra còn có những nhà sư, những Phật tử vô danh đã nhỏ xuống cho quê hương biết bao giọt máu đào để đưa đất nước Việt Nam đến ngày đại thắng, đó chính là những “hoa sen trong biển lửa”. Khi nước nhà độc lập  thì những giáo lý ấy lại càng mang tính tích cực hơn thông qua nhiều hình thức cứu người, giúp đời, cải tạo xã hội, xây dựng đất nước ngày một vinh quang, phồn thịnh hơn.

Nói tóm lại, tất cả những yếu tố văn hóa tốt đẹp trên cần phải được gìn giữ, bảo vệ và lưu truyền. Hiện nay nhà nước ta có chủ trương khôi phục lại các lễ hội truyền thống mang đậm dấu ấn dân tộc. Pháp lệnh tự do tín ngưỡng đối với mọi công dân đáp ứng được nhu cầu tín ngưỡng lành mạnh của họ là một điều đáng mừng. Tuy nhiên, hiện nay lễ hội đã xâm nhập cơ chế thị trường cho nên các dịch vụ mọc lên đầy dẫy ở những nơi thờ tự, ảnh hưởng lớn đến sự tôn nghiêm, làm mất đi tính thẩm mỹ của nó. Mặt khác còn có sự tranh giành quyền lợi của cả chính quyền địa phương trước những nơi Thờ lễ, hoặc gây khó khăn trong việc xin phép xây dựng cơ sở tôn giáo, tổ chức các lễ hội … gây ảnh hưởng xấu trong dư luận quần chúng cũng như sự làm sai lệch đi pháp lệnh của chính phủ vốn được bàn hành. 


Thích nữ Diệu Tâm

__________________

THƯ MỤC THAM KHẢO

[1]. Toan Ánh, Nếp cũ con người Việt Nam, Nhà sách Khai Trí, 1970.

[2]. Toan Ánh, Hội hè đình đám Việt Nam, NXB TP. Hồ Chí Minh.

[3]. Toan Ánh - Tìm hiểu phong tục Việt Nam qua tết, lễ, hội hè, NXB Tổng hợp Đồng Tháp.

[4]. Toan Ánh, Tín ngưỡng Việt Nam, NXB Văn nghệ - TP Hồ Chí Minh, 2002.

[5]. Nguyễn Đăng Duy, Văn hoá tâm linh Nam bộ, NXB Hà Nội, 1997.

[6]. Trần Bạch Đằng, Đồng bằng sông Cửu Long 40 năm, NXB TP. 1996.

[7]. Trần Văn Giàu, Giá trị tin thần truyền thống dân tộc Việt Nam, NXB Khoa học xã hội.

[8]. Nhiều tác giả, (Huỳnh Hứa chủ biên), Lịch sử khám phá vùng đất Nam bộ, NXB TP. Hồ Chí Minh, 1997.

[9]. Nhiều tác giả (Phòng thông tin tư  liệu và Ban tôn giáo chính phủ), Một số tôn giáo ở Việt Nam (Tài liệu tham khảo - lưu hành nội bộ),NXB Hà Nội 1993.

[10]. Nhiều tác giả, Sài gòn 300 năm, NXB TP. HCM, 2002.

[11]. Nhiều tác giả, Tạp chí văn hóa nghệ thuật, NXB Văn hóa thông tin Hà Nội 1997.

[12]. Nhiều tác giả, Nghiên cứu tôn giáo, Tạp chí của Viện khoa học xã hội Việt Nam và Viện nghiên cứu Tôn giáo, NXB Hà Nội,2004.

[13]. Lệ Như - Thích Trung Hậu - Ca dao tục ngữ Việt Nam- NXB TP. HCM, 2002.

[14]. Lê Hương, Người Việt gốc Miên, 1969.

[15]. Nguyễn Hữu Hiệp, Tây An cổ tự Núi Sam - An Giang, Tạp chí giác ngộ số 68, ngày 15 - 10 - 1993.

[16]. Nguyễn Hữu Hiếu, Tìm hiểu văn hoá tâm linh Nam bộ, NXB Trẻ, 2002.

[17]. Nguyễn Hiến Lê, Bảy ngày trong Đồng Tháp Mười, NXB Long An, 1989.

[18]. Trần Hồng Liên, Đạo Phật trong cộng đồng người Việt ở Nam bộ Việt nam từ thế kỷ 18 đến năm 1975. NXB Khoa học xã hội, 1995.

[19]. Nguyễn Lang, Việt nam Phật giáo sử luận, NXB Lá Bối, 1974.

[20]. Trần Thanh Phương, Những trang về An Giang, NXB Văn Nghệ An Giang, 1984.

[21]. Thích Trí Quảng, Cảm niệm về Đức Phật, THPG,TP. Hồ Chí Minh ấn hành, 1992.

[22]. Phạm Côn Sơn, Văn hoá phong tục Việt nam ABC, NXB Văn hóa dân tộc, 2002.

[23]. Trần Ngọc Thêm, Cơ sở văn hoá Việt nam, NXB Giáo dục, 1998.

[24]. Phan Lạc Tuyên, Các đạo giáo và cư dân ở đồng bằng sông Cửu Long, Giáo trình giãng dạy Học viện PGVN tại TP. Hồ Chí Minh.

[25]. Phan Lạc Tuyên, Những đạo giáo ở Nam bộ, Giáo trình giãng dạy Học viện PGVN tại TP. Hồ Chí Minh.

[26]. Lê Minh Tuấn, Ngũ giáo đồng nguyên.

[27]. Phan Thị Yến Tuyết - Nhà ở, trang phục, ăn uống của các dân tộc đồng bằng sông Cửu Long, NXB Văn hoá thông tin, 1997. 

[28]. Huỳnh Khái Vinh, Những vấn đề văn hoá Việt Nam đương đại, NXB Khoa Học Xã Hội.

[29]. Trần Khái Vinh, Những vấn đề văn hoá Việt Nam đương đại, NXB Hà Nội.

Giảng sư

Nghe nhiều

Kết nối

Tổng số truy cập
Thông tin: 49.250
Pháp Âm: 28.393
Đang truy cập
Hôm qua: 5966
Tổng truy cập: 818.096
Số người đang online: 73

Các tin khác

PHÁP ÂM NỔI BẬT

Giảng sư Xem tất cả

hosting gia re , web gia re tron goi , thiet ke web tron goi tai ho chi minh, binh duong, vung tau, ha noi, ca nuoc , thiet ke web tron goi gia re