chuabuuchau.com.vn,chuabuuchau, chua buu chau, chùa bửu châu, chua buu chau cu chi

Tinh thần đạo Phật trong văn hóa dân gian

Kết quả hình ảnh cho Tinh thần đạo Phật trong văn hóa dân gian

A - DẪN NHẬP

Đạo Phật truyền đến nước ta khoảng những năm đầu Công nguyên, đã trở thành một trong những hệ tư tưởng Tôn giáo có sức sống lâu dài nhất và song hành cùng Dân tộc trong mọi thời đại lịch sử. Chính vì vậy, văn hóa Phật giáo ảnh hưởng rất sâu rộng đến đời sống hằng ngày của người Việt.

Đạo Phật đã thích ứng với hoàn cảnh lịch sử, địa lý và văn hóa của Dân tộc, hòa nhập với Dân tộc như nước với sữa, đã biến thành một cái gì đó rất gần gũi, thân thương với Dân tộc Việt Nam, với con người Việt Nam. Hơn nữa, sự hội nhập của Phật giáo vào nền văn hóa dân gian Việt Nam đã thành tựu đến mức mà nhà thơ Việt Nam hiện đại Hồ Dzếnh có thể viết:

“Trang sử Phật
Đồng thời là trang sử Việt,
Trải bao độ hưng suy
Có nguy mà chẳng mất. . .”

Hai câu thơ dân dã sau đây cũng đủ nói lên mức độ tinh thần Đạo Phật trong văn hóa dân gian Việt Nam sâu sắc tới mức độ nào:

“Mái Chùa che chở hồn dân tộc,
Nếp sống muôn đời của Tổ tông”

Có thể nói, đó là sự hòa mình của Đạo Phật, là quá trình Đạo Phật dần dần được dân gian Việt Nam hóa, biến thành một phần của cơ thể văn hóa và xã hội Việt Nam. Vì thế, việc nghiên cứu “Tinh thần Đạo Phật trong văn hóa dân gian Việt Nam” là đề tài có ý nghĩa lý luận, chứng minh thực tiễn trong đời sống. Bản thân người viết cũng đang sống trong môi trường văn hóa Phật giáo. Với nguyện vọng là giới thiệu giá trị cơ bản của Đạo Phật, nhằm phục vụ chủ trương hội nhập văn hóa dân gian Việt nam. Nhưng phạm vi trong đề tài khá rộng, nên người viết chỉ khảo sát những vấn đề thấy cơ bản nhất. Cộng thêm kho tàng văn hóa dân gian Việt Nam vô tận, thì không thể nào khảo sát từ góc độ thể loại. Người viết sẽ khảo sát từ góc độ tư tưởng, nghĩa là trước hết liệt kê vài nét tiêu biểu liên quan đến Đạo Phật, sau đó quy chiếu vào nền văn hóa dân gian Việt Nam, rồi đưa ra quan điểm chung để phát huy Đạo Phật. Tất nhiên Luận văn không thể đi sâu vào một khía cạnh nào của vấn đề, nhưng qua luận văn người đọc có thể có cái nhìn tổng quát về tinh thần Đạo Phật trong văn hóa dân gian Việt Nam.

Với năng lực còn kém cõi, hạn chế, chắc chắn Luận văn không sao tránh khỏi những khiếm khuyết sai lầm. Người Viết rất mong được sự góp ý phê bình của quý Ngài và những ai có nhân duyên đọc qua Luận văn này.

B - NỘI DUNG

CHƯƠNG 1: VÀI NÉT VỀ NGUỒN GỐC ĐẠO PHẬT Ở VIỆT NAM

1.1. SƠ LƯỢC VỀ ĐẠO PHẬT:

Cách đây hơn 25 thế kỷ, giữa lúc xã hội Ấn Độ đang rối ren, nhân dân cơ cực lầm than, bởi chế độ phân chia đẳng cấp hết sức khắc nghiệt, một Thái tử có lòng rộng lớn, chiêm nghiệm về nỗi khổ ở đời, đã quyết định hy sinh đời sống vương giả, để tìm giải thoát đau khổ cho nhân loại. Vị Thái tử đó là Tất Đạt Đa, con Vua Tịnh Phạn và Hoàng Hậu Ma Gia, nước Ca-tỳ-la-vệ, xứ Ấn Độ bấy giờ. Sau nhiều năm tu tập Ngài đã thành Phật hiệu là Thích Ca. Đạo Phật có mặt trên thế gian này từ đó. Nói về lý thuyết của Đạo Phật, có thể tóm tắt như sau:

+  Quan niệm về thế giới và con người:

Bản thể của vũ trụ là chân như, có có không không. Các hiện tượng là vô thường, luôn luôn chuyển động. Trong sự sống có sự chết, chết là điều kiện có sự sinh thành mới. Thời gian là vô cùng, không gian vô tận. Trong vũ trụ có đến ba ngàn thế giới, đời thì có nhiều kiếp, một tiểu kiếp có đếân 16 triệu năm. Và con người ở trong vòng luân hồi sinh tử.

+  Về lý thuyết cứu khổ:

Phật đưa ra các vấn đề rất tinh vi và sâu sắc. Trước hết là bốn điều huyền diệu gọi là Tứ Diệu Đế là :

- Khổ đế: Con người có bốn cái khổ sinh, lão, bịnh, tử, rồi còn nhiều cái khổ khác nữa như oán thù mà thường gặp nhau,yêu thương phải xa nhau, cầu như ý mà không được . . .  Tất cả những cái khổ này đều là nghiệp báo.

- Tập đế: Nguyên nhân của bốn cái khổ trên do đâu mà có. Là do chỗ con người mê muội.

- Diệt đế: Phải biết nguyên nhân mê muội ấy, biết rồi thì phải diệt đi. Diệt được thì lòng mới thanh thản, để vào cõi Niết Bàn.

- Đạo đế: Để diệt được mê muội phải có có con đường đi cho đúng. Con đường đúng ấy  có tám pháp, gọi là Bát Chánh Đạo.

Đấy là những điều cơ bản của Đạo Phật.

1.2. SỰ DU NHẬP PHẬT GIÁO VÀO VIỆT NAM:

Phật giáo truyền đến Việt Nam vào khoảng những năm đầu công nguyên, lúc bấy giờ nước ta đang nội thuộc Trung Quốc, Phật giáo đã dung hòa được với hệ tư tưởng và tín ngưỡng Dân tộc. Dựa vào các sử liệu, hiện nay hầu hết các Sử gia đều đồng ý với một điểm mấu chốt như sau :

- Đạo Phật đã đến Việt Nam trước hết là đường biển, theo bước chân của các doanh nhân và Tăng sĩ Ấn Độ.

- Điểm mấu chốt thứ hai là đạo Phật được truyền đến Việt Nam trước khi đến Trung Hoa, cũng như trong giai đoạn khai sinh, Phật giáo Việt Nam cũng đã hưng thịnh hơn Phật giáo Trung Hoa cùng thời.

- Điểm thứ ba là đến thế kỷ thứ II đã có một nền Phật giáo và Phật học hưng thịnh tại Việt Nam, nghĩa là đạo Phật đã truyền bá trước đó khá lâu, ít nhất cũng phải hàng trăm năm trước, nghĩa là ít nhất cũng vào khoảng thế kỷ thứ nhất hay sớm hơn nữa.

Một sử liệu khác chứng minh khá rõ ràng minh bạch việc đạo Phật đã đến và đã hưng thịnh ở Việt Nam trước khi du nhập và phát triển tại Trung Quốc được đăng trong Thiền Uyển Tập Anh Ngữ Lục ghi lại chuyện trong một lễ Trai Tăng vào ngày rằm tháng hai năm 1096, tại Kinh thành Thăng Long, bà Hoàng Thái Hậu Phù Cẩm Linh, tức Vương Phi Ỷ Lan hỏi Thiền sư Trí Không sau được tôn làm Thông Biện quốc sư “Đạo Phật đến nước ta hồi nào?” Các vị sư ngồi im lặng, riêng Thiền sư Trí Không đã trả lời như sau: “Xét chuyện Đàm Thiên pháp sư, ta thấy từ đời Tùy Cao Tổ, Phật pháp được nâng đỡ rất nhiều. Vua Văn Đế nói: “Ta muốm làm chùa Tháp ở Giao Châu để cho phước được thấm nhuần đại thiên thế giới . . .” Pháp Sư Đàm Thiên liền tâu: “Giao Châu có đường thông với Thiên Trúc (Ấn Độ) Khi Phật giáo mới tới Giang Đông chưa đầy đủ thì ở Thủ Phủ Luy Lâu của Giao Châu đã có tới hai mươi ngôi chùa, độ được hơn 500 vị Tăng già và dịch được 15 cuốn Kinh rồi. Như vậy, Phật giáo được truyền đến trước khi đến Giang Đông vậy.

Sau này, sang thế kỷ IV - V, lại có thêm luồng Phật giáo Đại thừa Bắc tông từ Trung Hoa tràn vào. Từ “Buddha” và tiếng Hán được phiên âm thành Phật Đà vào tiếng Việt rút gọn lại còn Phật. Từ đây, Phật dần dần thay thế cho từ Bụt.

Từ Trung Hoa đã có ba Tông phái Phật giáo được truyền vào Việt Nam: Thiền tông, Tịnh độ tông và Mật tông.

Thiền tông là tông phái Phật Giáo, do nhà sư Ấn Độ Bồ Đề Đạt Ma sáng lập ở Trung Quốc vào đầu thế kỉ thứ VI. Thiền tông Việt Nam luôn đề cao cái tâm, Phật tại tâm, tâm là Niết Bàn, là Phật. Tu theo Thiền tông đòi hỏi nhiều công phu và khả năng trí tuệ, do vậy chỉ phổ biến ở giới tri thức thượng lưu.

Tịnh độ tông chủ trương dựa chủ yếu vào sự giúp đỡ từ bên ngoài, để chúng sanh thoát khỏi Ta bà. Tịnh độ tông hướng họ đến cõi Niết bàn cụ thể là cõi Tịnh độ yên tỉnh. Chỉ cần chuyên tâm niệm Phật A Di Đà, đây là cách tu đơn giản và trở thành phổ biến khắp nhân gian.

Mật tông là phái tu chủ trương sử dụng những pháp tu huyền bí, như dùng linh phù, mậảt chú, ấn quyết … Vào Việt Nam, Mật tông không tồn tại độc lập như Tông phái riêng mà hoà vào dòng tín ngưỡng Dân gian với những truyền thống cầu đồng cúng pháp thuật, yễm bùa trị tà ma.

Cả ba Tông phái trên, mặc dù có những điểm khác biệt nhau, nhưng nhìn chung chúng đều dựa trên những giáo lý cơ bản của nhà Phật … giữa chúng có sự ảnh hưởng đến nhau và đều mang tinh thần hoà mình vào đời sống thường nhật.

Việc du nhập diễn ra với nhiều chiều hướng khác nhau, nhiều Tông phái khác nhau trong hoàn cảnh Việt Nam tạo nên một nét bản sắc Phật giáo Việt Nam. Rõ ràng, đó là một trong những cơ sở tạo nên đặc thù của lịch sử Phật giáo Việt Nam.

Vậy với những lý do trên có thể nói rằng, đạo Phật là một Tôn giáo ngoại lai, nhưng đã nhanh chóng truyền vào Việt Nam một cách tự nhiên, mà không bị một cản trở nào.

1.3. Phật Giáo trong tiến trình lịch sử dân tộc Việt Nam:

Lịch sử thế giới đã chứng minh rằng: Hầu hết các Tôn giáo được truyền bá đi bằng con đường chính trị, được áp đặt bằng vũ lực, bằng chiến tranh hoặc làm công cụ cho các thế lực xâm lược. Ngược lại, đã hai mươi sáu thế kỉ qua, trên bước đường truyền bá khắp thế giới, Phật giáo chưa bao giờ để lại một vết máu. Điều đó xuất phát từ bản chất từ bi vô ngã, vị tha của đạo Phật, bởi vì đạo Phật ra đời vì cuộc đời chớ không phải vì bản ngã của đạo Phật.

 Đạo Phật được truyền vào nước ta khoảng từ trước Công nguyên. Và trước khi Phật giáo du nhập vào nước ta đã có một hệ thống tín ngưỡng, phong tục vô cùng phong phú. Họ quan niệm rằng : “Ông Trời ở trên cao có thể nhìn thấy mọi việc dưới đất, biết trừng phạt kẻ làm ác, giúp đỡ kẻ làm lành … Ông Trời có những thuộc hạ gần xa. Gần thì có Ông Sấm, bà Sét .Xa có Sơn Tinh, Thủy Tinh, thần núi Tản Viên, thần cây đa, ông Táo, ông Địa vv. . ..Rồi linh hồn con người không hẳn là bất diệt, nhưng có thể tồn tại một thời gian khá lâu quanh quẩn bên xác người chết và có thể ở chung với  người thân thích còn sống trong một thời gian để che chở, bảo hộ.” (Nguyễn Lang-VN Phật giáo sử luận;  tập I, trang 50)

Khi Phật giáo vào Việt Nam, tuy giáo lý nhà Phật không chấp nhận có một đấng ở trên cao, có thể nhìn thấy mọi vật dưới đất, nhưng thuyết nhân quả nghiệp báo của đạo Phật phù hợp với quan niệm ông Trời trừng phạt kẻ ác, thuyết luân hồi phù hợp với quan niệm tồn  tại sau khi xác thân tiêu hoại. Cho nên, Phật giáo ứng hợp ngay với quan điểm nhân gian.

Tiến sĩ Trần Ngọc Thêm trong giáo trình Cơ sở Văn hóa Việt Nam đã hệ thống tín ngưỡng dân gian thành ba yếu tố: Tín ngưỡng phồn thực, tín ngưỡng sùng bái tự nhiên và tín ngưỡng sùng bái con người. Những tín ngưỡng trên là sản phẩm của nhân dân, hình thành trong chiều dài lịch sử trên cơ sở kinh nghiệm, sự sùng bái và trí tưởng tượng của con người. Vì thế, nó thành hệ thống chặt chẽ, tất nhiên thiếu cơ sở vững chắc.

Cùng thời gian đó, Nho giáo cũng đã bước vào nước ta, người Việt vốn trọng tình nghĩa, hòa hiếu, cởi mở “song vì đây là thứ văn hóa do kẻ xâm lược áp đặt, cho nên ngoài một số người Việt được bổ làm quan trong bộ máy cai trị, có thể nói rằng suốt cả giai đoạn chống Bắc thuộc Nho Giáo chưa có chỗ đứng trong xã hội Việt Nam.”  (Trần Ngọc Thêm - Cơ sở văn hóa Việt Nam; trang 317)

 Khác với Nho giáo, “Phật giáo được truyền vào Việt Nam bằng phương tiện hòa bình chứ tuyệt nhiên không phải là công cụ cho những thế lực xâm lược Cộng với phương châm từ, bi,hỷ, xả, trí tuệ, vị tha và nền giáo lý phù hợp với tín ngưỡng truyền thống, nên đạo Phật thấm vào nền văn minh Giao Châu tự nhiên và dễ dàng như nước thấm vào lòng đất.” (Nguyễn Lang)

Cho nên, trong đời sống thường ngày, chúng ta không lạ gì với những biểu tượng của Phật giáo… Những hình ảnh đó được thể hiện trong đời sống một cách tự nhiên, đó là hình ảnh ông Bụt, mái Chùa, nhà Sư, tiếng chuông vv. . . như:

“Tiếng chuông Thiên Mụ dặn dò
Em đi cảnh vắng hẹn hò cùng ai”

“Đi chợ thì bỏ quên tiền,
Về nhà quên ngõ, đâm xuyên vô chùa
Mưa từ trong núi mưa ra,
Mưa khắp thiên hạ, mưa qua Chùa Thầy”

Như thế để chứng tỏ rằng, đó là một sự hội nhập sâu sắc giữa Phật giáo và văn hóa Việt Nam.

Tóm lại: Ngay từ buổi du nhập vào đất Việt, Phật giáo đã hòa quyện, hội nhập trong lòng Dân tộc như nước với sữa. Khi đất nước trãi qua ngàn năm Bắc thuộc, Phật giáo cùng chung số phận khổ nhục, đau thương, ẩn nhẫn, chịu đựng. Đến nữa Thế kỷ thứ X, khi Dân tộc vùng lên giành độc lập thì tức khắc Phật giáo đã cùng Dân tộc đồng lòng xây dựng, phát triển quê hương ngày càng giàu đẹp.

Rồi các triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần là thiên sử “Anh hùng ca” dài bốn trăm năm mươi năm, chẳng những chứng minh tinh thần độc lập hào hùng bất khuất của Dân tộc mà đồng thời khẳng định tinh thần gắn liền Đạo pháp với Dân tộc của Phật giáo Việt Nam, là điểm son, là dấu ấn truyền thống đặc thù của Phật giáo Việt Nam trong lòng Dân tộc.

Thế kỷ XX, cả Dân tộc đứng lên chống Thực dân và Đế quốc giành lại chủ quyền cho Dân tộc thì Phật giáo Việt Nam lại một lần nữa kề vai sát cánh cùng nhân dân để đấu tranh thực thi khát vọng hạnh phúc.

Ngày nay, phương châm của Giáo hội Phật giáo Việt Nam là: “Đạo pháp - Dân tộc - Chủ nghĩa xã hội” Càng khẳng định tính chất gắn bó giữa Phật giáo với Dân tộc Việt Nam.

CHƯƠNG 2: TINH THẦN ĐẠO PHẬT TRONG VĂN HÓA DÂN GIAN VIỆT NAM

2.1. Phật Giáo đối với một số lĩnh vực trong đời sống văn hóa tinh thần ở Việt Nam:

2.1.1. Phật giáo với nghệ thuật Dân tộc:

Nghệ Thuật là hình thức biểu hiện cao nhất của cái đẹp, cái thẩm mỹ. Nghệ thuật là sự nhận thức thẩm mỹ về cuộc sống và cải tạo cuộc sống theo một lý tưởng thẩm mỹ nhất định. Nghệ thuật cũng là tư duy trong các hình tượng nghệ thuật, qua những quan hệ thẩm mỹ của con người, trong những môi trường quan hệ xã hội ở những điều kiện lịch sử cụ thể, được nghệ sĩ khai thác, phân tích, tái tạo.

Nghệ thuật có khả năng khơi dậy trong con người tình cảm sâu xa nhất, có sức thuyết phục tự nguyện lớn lao, hướng con người vươn tới những cảm xúc cao thượng, những lý tưởng thẩm mỹ. Ảnh hưởng của Phật giáo với nghệ thuật Dân tộc có thể thấy rõ nhất trên ba loại hình sau là kiến trúc, điêu khắc và thơ văn.

Phật giáo với kiến trúc truyền thống Dân gian Việt Nam:

Kiến trúc truyền thống dân gian là một nghệ thuật nhằm kết hợp cái đẹp với cái thực dụng để sáng tạo không gian sinh tồn cho người Việt. Kiến trúc thì đa dạng, tuy nhiên trong không gian sinh tồn tinh thần thì Chùa, Tháp vẫn là một trong những công trình kiến trúc có giá trị văn hóa truyền thống dân gian khá đậm nét. Chùa, Tháp cũng là những kiến trúc nhằm thõa mãn nhu cầu Tôn giáo của Phật giáo. Do vậy,những ý tưởng triết lý Tôn giáo nhà Phật đã trở thành yếu tố chủ đạo của kiến trúc Chùa, Tháp. Như Chùa Một Cột là một tác phẩm nghệ thuật, một công trình kiến trúc phản ảnh triết lý tổng hợp của Phật giáo Việt Nam. Nhà kiến  trúc sư Nguyễn Bá Chí sau khi họa đồ toàn diện ngôi Chùa Một Cột, có ghi chú thêm rằng “Về ý nghĩa cổ tích, về kiến trúc của ngôi chùa Một Cột này, được xem như viên ngọc của nghệ thuật Việt Nam.”
(Nguyễn Đức Sự-Mấy vấn đề Phật Giáo và lịch sử tư tưởng Việt Nam)

Vẻ đẹp của ngôi chùa Việt Nam, trước hết là chỗ hài hòa với cảnh quan môi trường xung quanh. Chẳng hạn như chùa Hương Tích, chùa Thầy, chùa Đậu . . . đều là những kiến trúc hòa hợp với thiên nhiên. Núi non, sông nước và chùa chiền không tách rời cảnh (sơn thủy hửu tình) tôn giá trị ngôi chùa và gắn bó với chùa như hình với bóng. Quan niệm thẩm mỹ của người Việt Nam chịu ảnh hưởng sâu đậm của đặc trưng tổng hợp Phật giáo Việt Nam, tâm linh văn hóa người Việt. Sự hòa hợp làm tôn ý nghĩa Tôn giáo của Phật giáo.

Phật giáo với địêu khắc truyền thống dân gian Việt Nam:

Điêu khắc mang những giá trị tinh thần để tưởng niệm, để giáo dục tinh thần công dân. Điêu khắc là nghệ thuật tạo hình bằng cách phối các mãng khối, nét trong không gian đa chiều để thể hiện các giá trị tinh thần của con người cũng như các phương diện của đời sống. Rõ nét nhất là đối với các pho tượng thờ. Các pho tượng thờ gây ấn tượng một sự linh thiêng và chiều sâu của cuộc sống. Tất cả các tượng đều biểu hiện hoặc là một thứ đạo đức hoặc tình cảm Tôn giáo cố gắng làm nổi bật sự trầm tĩnh và cao cả của tâm linh từ trong sự lương thiện. Điêu khắc Phật giáo đã đạt đến sự hòa nhã tĩnh mặc, ung dung tư đắc viên mãn đầy đặn, đều biểu hiện một cách xác đáng một trạng thái Tôn giáo Phật giáo đại ngộ. Cái trạng thái dường như  rũ sạch mọi mùi tục lụy bụi trần, cái mĩm cười tự tại . . . đã biểu đạt cái tư tưởng triết lý nhân sinh Phật giáo một cách tinh tế thấu đáo. Như các pho tượng, tượng Di Đà ở chùa Phật Tích, huyện Tiên Sơn, tỉnh Hà Bắc đươc tạc bằng đá là một tác phẩm nghệ thuật quý hiếm ở nước ta. Pho tượng cao 1.87m nếu kể cả bệ cao thì 2.77m. Tượng Quan Âm là một biểu tượng sâu đậm Tôn giáo Việt Nam. Ở chùa Bút Tháp có tượng Phật Quan Âm cao 3.70m; đặc trưng Việt Nam là Bồ tát Quan Thế Âm đã được biến thành Phật Bà Quan Âm - vị Phật hộ mệnh của dân gian. Một triết lý lạc quan toé lên dáng thư thái thanh thản luôn cuời toét miệng,đó là pho tượng Di Lặc. Rồi tượng Văn Thù Bồ tát tượng trưng cho sức mạnh trí tuệ, tượng Phổ Hiền Bồ tát chủ về chân lý và đại nguyện. . .

Tất cả các pho tượng đều rất đẹp, mang tính thẩm mỹ cao. Mỗi tượng tuy khác nhau về tư thế, đường nét, hình khối nhưng tất cả đều nói lên sự trong sáng của tâm hồn, sự thanh khiết của trí tuệ, sự trầm ngâm suy nghĩ về nỗi đau của chúng sinh. Tính nhân văn của Phật giáo được thể hiện rất rõ trong từng pho tượng.

Từ sự phân tích trên có thể thấy Phật giáo đã ảnh hưởng khá sâu đậm trong nghệ thuật điêu khắc, những ý tưởng tôn giáo Phật giáo được thấm nhuần một cách tinh tế, thấu đáo.

Phật Giáo với văn thơ truyền thống dân gian Việt Nam:

“Thơ ca và Phật giáo đã có một cuộc hôn phối kỳ diệu. Cái đêm hợp cẩn giữa thơ ca với đạo Phật thành tựu từ bao giờ, chúng ta chưa biết nhưng chắc chắn nó đã tượng hình từ mấy ngàn năm, khi Dân tộc sửa soạn tâm tư đón nhận Phật giáo, khi lịch sử Việt Nam bắt đầu chớm nở. Từ đó, thơ ca và đạo Phật nương tựa nhau để trưởng thành và thấm đượm theo chiều tiến triển chung của lịch sử Dân tộc.”
(Đỗ Văn Đăng-Ảnh hưởng Phật giáo trong truyện cổ tích dân gian người Việt)

Văn học dân gian thể hiện khá hoàn chỉnh những nét văn hóa Phật giáo theo nếp nghĩ của dân gian. Thơ văn dân gian là nghệ thuật phát triển theo hướng biểu hiện cái đẹp tự nhiên chân chất mộc mạc, nhưng sâu xa ý vị. Hướng nghệ thuật này đã ảnh hưởng từ đầu Công nguyên trong các sáng tác. Do đặc trưng trên của nghệ thuật truyền thống, mà đạo Phật đã thẩm thấu vào các tác phẩm một cách tự nhiên. Điển hình như các tác phẩm  “Quan Âm thị kính, Quan Âm Nam Hải,” “truyện Kiều” của Nguyễn Du . . . đã hướng tới lòng từ bi, cứu khổ cứu nạn, toát lên đời sống tâm linh, mà đời sống tâm linh là cái nền vững chắc của mối quan hệ cộng đồng, là thế giới của cái thiêng liêng. Rõ ràng thơ văn truyền thống dân gian của Phật giáo đã góp phần tạo nên truyền thống nhân bản. Từ thực tế đó, tâm linh cộng đồng như là “mãnh đất” của nghệ thuật Phật giáo phát triển. Phật giáo đã hòa vào nghệ thuật, như là một yếu tố ảnh hưởng sâu đậm trong các tác phẩm nghệ thuật.

2.1.2. Phật giáo với đạo đức Dân tộc:

Nói đến văn hóa Việt Nam, chúng ta không thể không đề cập đến đạo đức truyền thống. Việt Nam xưa nay vốn tự hào về lịch sử 4000 năm văn hiến, với truyền thống tốt đẹp của nòi giống Tổ tiên. Niềm tự hào đó được thể hiện đậm nét trong ca dao tục ngữ, tục ngữ thi ca và truyện cổ, với những biểu tượng mộc mạc nhưng vẫn bàng bạc đầy tình người, tình quê hương đất nước.

Trước hết là đạo làm người. Nó biểu hiện qua tấm lòng con cái đối với cha mẹ. Hai dòng văn học dân gian và trí thức ở nước ta đều nhiệt tình ca ngợi tấm lòng hiếu kính của người con đối với hai đấng sanh thành. Tình sâu nghĩa nặng ấy được nhân dân ta cảm kích sâu đậm và hát thành những bài ca mang tính: “Uống nước nhớ nguồn.”

Từ điển Dagobert P.Kunes (1970) định nghĩa “Đạo đức là môn học liên hệ đến các phán xét về điều kiện chấp nhận hay phủ nhận, đúng hay sai, tốt hay xấu, đức hạnh hay phi đức hạnh, dục vọng hay trí tuệ của các hành vi con người.”
(TT. Chơn Thiện - Những Hạt Sương, trang 103)

Hẳn nhiên còn có nhiều quan niệm về đạo đức khác nhau nữa,tùy theo mục tiêu của đời sống dừng lại ở những chỗ khác biệt nhau. Riêng Phật giáo xây dựng con đường sống đạo đức, đến với đạo đức từ trí tuệ thực nghiệm toàn giác của đức Phật. Phật giáo Việt Nam là một bộ phận quan trọng trong di sản đạo đức và văn hóa quý báu của Dân tộc. Có thể nói một trong những đặc sắc tốt đẹp của đạo Phật là khả năng thích ứng của một Tôn giáo cởi mở, là không hẹp hòi, không giáo điều, một Tôn giáo đạo đức nhân bản thực sự của con người.

Giáo lý đạo Phật không phải là một phạm trù trừu tượng mà là những nội dung hết sức cụ thể, có tính hệ thống bao gồm nhiều giá trị nhân bản, khoa học và rất thực tại. Tất cả đều là những nhân tố góp phần xây dựng bản thân, hướng dẫn mọi người sống một lối sống tích cực để làm nên những viên đá xây dựng vững chắc ngôi nhà đạo đức.

Khi đức Phật tuyên bố “Này các Tỳ kheo, xưa cũng như nay, Ta chỉ nói lên sự khổ và sự dứt khổ” (Kinh Kim Cương) Lời tuyên bố này, xác nhận tất cả lời dạy của đức Phật đều hướng tới mục đích duy nhất là cứu khổ độ sanh. Đức Phật lại khuyên các đệ tử xuất gia “Hãy du hành vì hạnh phúc của quần sanh, vì an lạc cho quần sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích,vì an lạc cho chư Thiên và loài người.” (HT. Minh Châu-Kinh Tương Ưng I, trang 128)

Như vậy, đại nguyện của đức Phật là làm vơi nổi khổ của chúng sanh, đem lại hạnh phúc cho mọi loài, mọi người. Một lời dạy đem lại một đời sống có đạo đức, mà một đời sống có đạo đức là một đời sống có hạnh phúc.

Nói đến hạnh phúc là nói đến đạo đức, thế nên pháp môn tu tập của đạo Phật thường liên quan và đi liền với đạo đức, mà Giới luật chính là tinh hoa phát sanh đạo đức và là bước đi đầu tiên của tiến trình đưa đến giải thoát. Đức Phật giới thiệu nếp sống theo năm Giới, mười điều thiện cho hàng Phật tử tại gia. Khi bước vào cửa Thiền tu học thì mỗi bước chân của nhật dụng Tỳ Ni, mỗi động tác Oai nghi cảnh sách đều chứa đựng nội dung xây dựng nhân cách đạo đức của một Tu sĩ. Vì vậy, Giới luật đối với người xuất gia rất là quan trọng, và đó là nếp sống mẫu mực của Phật giáo.

Trong thời đại ngày nay, “hành thiện, không hành ác” của nhà Phật tỏ ra có nhiều điều phù hợp với nền đạo đức Dân tộc. Người sống thiện giữ năm giới sẽ đem lại sự an bình nội tâm, sự sáng suốt của trí tuệ và thấy được an lạc hạnh phúc ngay trong đời sống hiện tại.

Triết lý Phật giáo từ lâu nay đã chuyển thành luân lý đạo đức, mà từ bi, cứu khổ cứu nanỉ, biết nghĩ đến người khác là hạt nhân. Rõ ràng xét về phương diện đạo đức của nhân gian Phật giáo đã ảnh hưởng khá sâu rộng trong đời sống con người Việt. Những gì mà Phật giáo đã để lại dấu ấn trong đời sống đạo đức vẫn bảo lưu như  một nếp sống, một thói quen suy nghĩ  và giao tiếp, hòa nhập vào văn hóa dân gian Việt Nam.

2.1.3. Phật giáo trong phong tục tập quán người Việt

a- Lễ hội Chùa:

Từ lâu, những ngôi chùa đã trở nên quen thuộc, trở thành một phần không thể thiếu được với cộng đồng làng xã Việt Nam. Chùa là của làng, của dân gian, nên từ  xưa có câu “đất vua chùa làng” là vậy. Chùa không những là nơi sinh hoạt tín ngưỡng, mà còn là trung tâm văn hóa, là nơi hội họp của dân làng, hội chùa cũng chính là hội làng. Như ngày Phật Đản là ngày hội truyền thống của Phật giáo kỷ niệm đức Phật Thích Ca đản sinh. Họ thường nhắc nhau:

“Dù ai buôn bán ở đâu
Đến ngày Phật đản năm châu cũng về
Dù ai buôn bán trăm bề
Đến ngày Phật đản ta về chùa ta”

“Chùa làng một điện trăm gian
Hàng năm lễ Bụt cả làng dâng quy”

 
Đó chính là dịp hội tụ của dân làng vậy.

Cứ mỗi dịp xuân về, hội chùa Hương (Hà Tây) nơi mà truyền thuyết cho rằng Phật Bà Quan Âm đã tu hành và thành chánh quả, lại thúc giục lòng mỗi người xứ Bắc:

“Chẳng đi thì nhớ thì thương
Đi thì mến cảnh chùa Hương chẳng về,
Một là vui thú sơn khê,
Hai là đã trót lời thế cùng ai”

Giáo sư  Sử học Nguyễn Khắc Thuần đã đưa ra một giả thiết hết sức sinh động “Giá thử có một phép thần trớ trêu nào đấy khiến sau một đêm ngủ dậy, bỗng dưng trên khắp giang sơn này không còn một ngôi chùa nào, thì. . . . sự khủng khiếp bởi cảnh ngộ tan hoang còn hơn cả chiến tranh. Đất Việt và người Việt đã khá quen với bóng dáng của những ngôi chùa cổ kính từ hàng ngàn năm nay.”

Chính vì vậy mà lễ hội chùa chiền càng tổ chức bao nhiêu, thì sự gắn bó giữa nhà chùa với xã hội càng trở nên mật thiết bấy nhiêu. Chùa chiền thực sự là trung tâm văn hóa của xã hội. Những ngày lễ lạt và hội chùa cũng được quy định theo hàng năm (theo âm lịch):

Tháng giêng: Ngày mồng một Tết: Lễ vía Phật Di Lặc.

- Ngày rằm: Lễ thượng nguyên.

Tháng 4: Ngày mồng 8: Vía ngày sinh của Phật (còn gọi là Lễ Phật  Đản).

- Ngày rằm: Lễ bắt đầu vào hạ An cư kiết hạ của chùa.

Tháng 6: Ngày 19 vía Quan Thế Âm Bồ tát.

Tháng 7: Ngày 13: Vía Đại Thế Chí Bồ tát.

- Ngày rằm: Lễ Vu Lan, lễ trung nguyên, lễ mãn hạ An cư.

Tháng 9: Ngày 19 vía Quan Thế Âm Bồ tát xuất gia.

- Ngày 30: Vía Phật Dược Sư.

Tháng 11: Ngày 17 vía Phật A Di Đà.

Tháng 12: Ngày 8 vía Phật Thích Ca thành đạo.

Nhìn chung những ngày lễ như vậy, nhưng tất nhiên là ở từng địa phương từng chùa cụ thể, hình thức hội chùa này có thể biến hóa đa dạng, có nhiều sáng kiến khác nhau.

b. Ảnh hưởng của tiếng chuông chùa:

Tiếng chuông chùa vẫn ngân nga đều đặn, trên khắp mọi nẽo đường quê hương, từ nơi làng mạc xa xôi đến thành thị đông người, ở bất cứ nơi đâu trên đất nước này, mọi người không ai mà không nghe qua tiếng chuông chùa.

Tiếng chuông ấy đã hiện diện từ lâu và nó sẽ ở mãi với con người Việt và đất nước Việt Nam muôn đời. Tiếng chuông tự nó là một bản chiêu hồn ca gieo rắc vào lòng người hạt giống tình thương, thương người, thương vật, biết hồi tâm trở về con đường chánh giác. Một điều lợi thế nữa về tiếng chuông Chùa là dân gian Việt Nam vốn có cách định thời gian bằng đêm năm canh, ngày sáu khắc hoặc bằng tiếng gà, tiếng chim nhưng thường khi lại là tiếng chuông, tiếng trống của chùa:

“Gió đưa cành trúc la đà,
Tiếng chuông Linh Mụ canh gà thọ xương
Trên chùa đã động tiếng chuông,
Gà thọ xương đã gáy, chim trên nguồn đã kêu.”

“Chiều chiều bìm bịp giao canh
Trống chùa đã đánh sao anh chưa về.”

2.2. Những nét tương đồng giữa Phật giáo và nền văn hóa Việt Nam:

2.2.1. Khát vọng hạnh phúc, giải phóng  đau khổ của con người:

Mục đích của đạo Phật là giải phóng khổ đau không những cho con người mà còn cho cả chúng sanh nữa. Dân tộc ta, một Dân tộc mà trong chiều dài lịch sử phải luôn luôn đối mặt với thù trong giặc ngoài, biết bao áp bức bóc lột đã đè nặng trên  đôi vai bé nhỏ của mỗi người Việt từ bao thế hệ, thì vấn đề giải phóng khổ đau có thể nói là vấn đề bức thiết trong lòng mỗi người.

Dân tộc Việt Nam là dân tộc ưa chuộng hòa bình, nhưng trước sự xâm lăng của kẻ thù, họ đành phải cầm vũ khí. Họ đấu tranh quyết liệt vì bảo vệ nền hòa bình, chứ họ hoàn toàn không thích chiến tranh. Chiến tranh cũng là việc làm giải phóng khổ đau của người Việt, việc làm ấy có tính giai cấp, tính thời đại. Với Phật giáo, vấn đề giải quyết khổ đau là vấn đề muôn thuở, đạo Phật giải phóng con người bằng cách xóa bỏ hận thù:

“Hận thù diệt hận thù
Đời này không thể có
Từ bi diệt hận thù,
Là định luật ngàn thu.”
(Kinh Pháp Cú)

Trong bài Đạo Phật với Dân tộc Việt Nam (đăng trên tập văn Phật Đản PL 2540, tác giả Thích Phước Đạt đã nhận định: “Đạo Phật đã đến với Dân tộc từ xưa đến nay, bao giờ cũng hòa điệu chung tấm lòng.Lúc suy yếu cũng như lúc thịnh đạt, đạo Phật và người dân Việt Nam vẫn cùng nhau có mặt để thực thi cái khát vọng lớn nhất của con người, chính là khát vọng hạnh phúc.”

2.2.2. Tinh thần tự lực, tự cường:

Khi đức Phật nhập Niết Bàn, có di giáo lại cho đệ tử rằng: Các đức Như Lai chỉ là người chỉ đường, các người phải tinh tấn lên để giải thoát. Tinh thần ấy được kết tinh qua câu luận “Hãy tự mình thắp đuốc mà đi.” Thiết nghĩ không cần bàn gì thêm nữa, câu luận đó đã khẳng định tính tự lực mạnh mẽ của Phật giáo rồi.

Trải qua mấy ngàn năm lịch sử, các thế lực ngoại bang với nhiều thủ đoạn khác nhau (về văn hóa,chính trị, bạo lực cũng như về kinh tế) đã tìm mọi cách để chiếm lĩnh hoặc đồng hóa Dân tộc ta. Đất nước ta, dù là quốc gia bé nhỏ nhưng không bao giờ chịu cúi đầu làm nô lệ. Người Việt không chịu ỷ lại, dù khó khăn bao nhiêu cũng tự xây dựng cho mình. Có như thế, ngày nay chúng ta vẫn giữ được truyền thống văn hóa tốt đẹp của Dân tộc.

2.2.3. Hiếu kính:

Là người Việt Nam không thể không hiếu kính Cha Mẹ, niềm tri ơn và báo ơn ấy đã trở thành bản tính tự nhiên,ăn sâu vào tâm khảm của người dân Việt. Tinh hoa và tinh thần cao đẹp  này không phải tự nhiên mà có, mà chính là nhờ ảnh hưởng của một nền giáo dục, một tổ chức văn hóa từ ngàn xưa để lại, tương xứng với tư tưởng và phong tục của dân tộc Việt. Trong tất cả những ảnh hưởng lớn nhất và sâu rộng nhất cũng vẫn là sự ảnh hưởng của Đạo Phật, một Tôn giáo, một nền giáo dục đã có mặt với dân tộc từ buổi đầu của công nguyên, mà Đạo Phật là Đạo hiếu, lời dạy của Phật về việc nhớ ơn và báo ơn Cha Mẹ là những cảm giác suy tư in đậm trong lòng người Việt và đã thể hiện linh động ngang qua ca dao, dân ca, mà chúng ta thấy tràn ngập trong dân gian Việt Nam:

“Công cha như núi Thái  Sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra
Một lòng thờ mẹ kính cha
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con.”

“Non cao biển rộng mênh mông,
Cù lao chính chữ ghi lòng con ơi!”

Cũng vì thương kính Cha Mẹ, nên người con luôn luôn cầu nguyện Phật trời gia hộ cho hai đấng từ thân:

“Đêm đêm khấn nguyện Phật trời
Cầu cho cha mẹ sống đời với con.”

Thực ra, “Hiếu tâm tức thị Phật tâm, hiếu hạnh vô phi Phật hạnh” làm tròn bổn phận của người con đối với Cha Mẹ chính là một trong những pháp tu nhà Phật:

“Tu đâu mà bằng tu nhà
Thờ cha kính mẹ mới là chân tu"

“Đi về lập miếu thờ vua
Lập trang thờ mẹ, lập chùa thờ cha.”

2.2.4 Tính đoàn kết: 

Phát xuất từ nền văn minh nông nghiệp lúa nước, ngay từ buổi đầu cộng đồng người Việt phải đoàn kết lại để cùng thực hiện một chương trình sản xuất lâu dài và nhiều công đoạn ấy. Đến khi đất nước bị xâm lăng, tinh thần ấy càng mạnh mẽ. Dù trong trường hợp nào đi nữa, không ai có thể phủ nhận rằng “Đoàn kết là sức mạnh vô địch.” Tinh thần đoàn kết thể hiện bàng bạc trong ca dao dân gian :

“Một cây làm chẳng nên non
Ba cây chụm lại nên hòn núi cao”

Đạo Phật thể hiện tính đoàn kết bằng tinh thần lục hòa. Hòa hợp từ thân đến tâm, từ vật chất đến tinh thần. Pháp này không chỉ dành riêng cho bậc xuất thế, mà hàng tại gia, cư sĩ thực hành cũng rất có lợi ích. Đó là tinh thần nhân bản cao cả của con người, có thể thực hiện theo trong nếp sống gia đình, tập thể, học đường.  Kinh Vu Lan ghi lại rằng “Ngày xưa thấy mẹ mình mắc trong vòng ngạ quỷ, Tôn giả Mục Kiền Liên khóc than thảm thiết và xin Phật cứu độ. Đức Phật dạy rằng muốn cứu khổ mẹ, ông phải nhờ oai lực của mười phương Tăng chúng.” Qua chuyện đó, chúng ta thấy đức Phật đã nêu cao tinh thần đoàn kết như thế nào rồi. Có câu thành ngữ, nhà Phật thường dùng để chỉ sức mạnh của tinh thần đoàn kết là “Đức chúng như hải.”

2.2.5. Lòng từ bi và đức hy sinh:

Lòng thương người là một trong những nền tảng cơ bản của tư tưởng người Việt: “Bầu ơi thương lấy bí cùng, tuy là khác giống nhưng chung một giàn.”

Chính vì lòng thương nên họ chấp nhận hy sinh. Đất Việt có được như ngày nay là kết quả của biết bao xương máu của hàng ngàn thế hệ đi trước, đó là điều hiển nhiên, không cần phải lý giải gì nữa. Đạo Phật lấy Từ bi làm phương châm, với tinh thần vô ngã, vị tha người Phật tử sẵn sàng hy sinh bản thân để làm tròn hạnh nguyện phụng sự tha nhân. Trong công cuộc trường kỳ kháng chiến cứu nước, cùng những tấm gương hy sinh anh dũng của các chiến sĩ cách mạng là những tấm gương xã thân vì đời của các Tăng, Ni, Phật tử. Những ngọn đuốc Quảng Hương, Thanh Tuệ, Diệu Quang, Thiện Mỹ . . . Đặc biệt là trái tim bất diệt của Bồ tát Thích Quảng Đức trong thời kháng chiến chống Mỹ, là những chứng minh hùng hồn về sự hy sinh cho Dân tộc, cho Đạo pháp.

2.2.6. Tinh thần tự do, bình đẳng:

Trên thế giới từ nghìn xưa cho đến bây giờ, chưa có Tôn giáo nào có tinh thần tự do như Phật giáo. Trên căn bản, không có giáo điều nào gò bó khắc nghiệt, không coi Kinh điển là thánh thư huyền bí, không bao giờ bắt buộc ai theo mình, khống chế, chống báng ai, không mong cầu bất cứ lợi dưỡng nào về danh lợi phù hư. Đức Phật chỉ tự nhận mình là người chỉ đường, chỉ rõ nguồn an lạc hạnh phúc giải thoát chơn thật cho mọi người thấy và làm theo để chứng ngộ như  Ngài.

Giữa một xã hội phân hóa giai cấp khắc nghiệt nhất trong lịch sử nhân loại, đức Phật tuyên bố “không có giai cấp trong nước mắt cùng mặn và máu cùng đỏ.” Giáo lý Đạo Phật là giáo lý của tinh thần bình đẳng tự do tuyệt đối. Đức Phật dạy “Như Lai là Phật đã thành, còn chúng sanh là Phật sẽ thành.”

Quyền bình đẳng là lý tưởng chung mà con người hướng đến. Ngày nay, chúng ta đang tiến lên xây dựng xã hội công bằng, văn minh, thì tư tưởng Phật giáo ngày càng được khẳng định  trong nền văn hóa dân gian Việt Nam.

2.3. Những hình tượng tiêu biểu của đạo Phật:

2.3.1- Từ đức Phật lịch sử đến ông Bụt trong dân gian:

Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, là Thái tử nước Ca Tỳ La Vệ xứ Trung Ấn Độ, lúc nhỏ Ngài có trí tuệ sáng suốt và tài năng phi thường. Lớn lên nhìn thấy nhân sinh thống khổ, thế cuộc vô thường nên Ngài cương quyết xuất gia tu hành, tìm đường giải thoát cho mình và cho người, ngõ hầu đưa tất cả chúng sanh lên bờ giác ngộ.

Sau sáu năm tu khổ hạnh trong núi Tuyết, Ngài thấy tu khổ hạnh ép xác như thế không thể đạt được chân lý, nên Ngài đi qua núi Koda, ngồi dưới cây Bồ Đề và thề rằng: “Nếu ta không thành đạo thì dù thịt nát xương tan, ta cũng quyết không đứng dậy khỏi chỗ này.” Với chí hùng dũng cương quyết ấy, sau 49 ngày tư duy, Ngài thấu rõ chân tướng của vũ trụ nhân sanh và chứng đạo Bồ đề. Sau khi thành đạo Ngài chu du khắp xứ, thuyết pháp độ sinh chuyển mê thành ngộ, lìa khổ được vui. Suốt thời gian 49 năm, như một vị lương y đại tài, xem bịnh cho thuốc, Ngài đã dắt dẫn chúng sanh lên đường hạnh phúc và vạch cho mọi người con đường giác ngộ giải thoát. Đến 80 tuổi, ngài nhập Niết Bàn ở thành Câu Thi Na, trong rừng Ta La song thọ. Lúc bấy giờ nhằm ngày rằm tháng 2 âm lịch.

Xét về mặt lịch sử, thì vấn đề hiện hữu của đức Phật không có gì phải bàn thêm. Những chứng tích về địa điểm và thời gian Đản sinh, học đạo và hành đạo … của đức Phật đến nay vẫn còn ở đất Ấn. Tuy nhiên không ít người băn khoăn tại sao lịch sử lại đản sinh ra con người vĩ đại như thế. Ở đây người viết không lý giải vấn đề này, vì điều đó lịch sử đã chứng minh và lý giải. Cùng với những sử liệu cụ thể là một huyền thoại được dệt nên về cuộc đời đức Phật. Chẳng hạn như khi vừa ra đời, thái tử Tất Đạt Đa đã bước đi bảy bước, dưới mỗi bước chân Ngài nở một hoa sen. Những huyền thoại như thế là điều tất yếu, nó mang một biểu tượng nào đó. Người Việt ta cũng đã đoàn kết với nhau bằng huyền thoại sinh ra cùng trong bọc trứng của Mẹ Âu Cơ. Những huyền thoại như thế lại rất cần thiết cho một Tôn giáo.

Nếu Đức Phật là một bậc Thầy dạy khắp Trời, người, cha lành chung bốn loài, thì đức Phật nhân gian lại là một đấng đầy quyền năng. Quyền năng được biểu hiện ở phép thần thông mầu nhiệm.

Đa số người Việt lớn lên đều mang trong mình một hình tượng đức Phật qua lời kể của Mẹ từ thuở tuổi ấu thơ, được kêu bằng ông Bụt. Bụt là người nhân từ, có quyền năng vô hạn, rất thương người và thường hiện lên trong những tình huống khó khăn để giúp đỡ người hiền lành bị hoạn nạn. Bụt trở nên thân thương với tất cả mọi người, bởi lẽ Bụt là một khát vọng của con người mong muốn được thương yêu,được tự do, công bằng, bình đẳng. Bụt là hiện thân của mầu nhiệm trong cuộc sống của người Việt.

Tuổi thơ của chúng ta, ai không một lần bị oan ngồi khóc và chờ Bụt hiện lên cứu giúp. Câu nói “làm sao con khóc” đã trở thành niềm khát khao và hy vọng của trẻ thơ. Ông Bụt đã mang đến cho tuổi thơ một tình thương đầy tính vô ngã. Với hình tượng ông Bụt trong các truyện cổ tích, ông Bụt luôn hiền lành, thương người, đặc biệt là người nghèo khổ, côi cút, cô đơn, bị ức hiếp, bị oan ức . . .

Giáo sư Minh Chi đã bàn về sự hội nhập giữa Phật Giáo và nền văn hóa qua hình ảnh ông Bụt như sau: “Ông Bụt hiền, ông Bụt lành . . . đó la hìnhụ tượng đức Phật Thích Ca trong dân gian Việt Nam, là một kết quả rất đặc sắc của Phật giáo hội nhập vào nền văn hóa dân gian Việt Nam. Người Việt Nam sợ thần, sợ Thánh, sợ ma, quỷ. . . .có thể sợ luôn ông ác hay là Diêm Vương mặt đen sì, nhưng nhất định là không bao giờ sợ ông Bụt (. . .)

Ông Bụt trong dân gian Việt Nam hiền lành nhân hậu tới mức không biết giận là gì. Cho nên, thậm chí có người không gọi là ông Bụt mà chỉ gọi cụt ngủn là Bụt, nhưng thân thương biết bao là:

“Gần chùa gọi Bụt bằng anh.
Trông thấy Bụt lành cõng Bụt đi chơi
Thậm chí có câu còn tai ngược hơn là:
Gần chùa  gọi Bụt bằng anh
Trông thấy Bụt lành hạ xuống đất  chơi”

Học Giả Minh Chi lại bàn thêm rằng: “Tất nhiên, có tín đồ nhà Phật khó chịu với những hình ảnh đức Phật như vậy, thế nhưng nhìn từ một góc độ khác, lại có thể đánh giá những hình ảnh Bụt đó là đánh giá mức độ hội nhập sâu sắc của Đạo Phật vào văn hóa dân gian và Bác Học của Việt Nam. Chúng ta có gì phải thắc mắc, khi đức Phật, đạo Phật để lại trong ký ức tập thể, trong tiềm thức tập thể của Dân tộc Việt Nam, trong lòng mỗi người dân Việt Nam, những biểu trưng đậm nét nhất, nhất quán nhất của lòng thương vô hạn, sự công minh và công bằng tuyệt đối, thái độ không khoan nhượng với cái ác, cái giả dối, cái xảo trá quỷ quyệt . . .Đức Phật là như vậy, đạo là như vậy. Chính những biểu trưng nói trên mới là quan trọng, chứ còn những chuyện khen chê, thị phi với đạo Phật và đức Phật là chuyện miệng lưỡi thế gian, làm sao mà tránh được.”
(Minh Chi-Bàn về sự hội nhập giữa Phật Giáo và văn hóa Việt Nam, T.V.Thành đạo PL 2539-1996)

Đức Phật dân gian hiền lành đến không biết giận là gì, nhưng ngài cũng đã thẳng tay trừng trị bọn gian ác. Nếu đức Phật lịch sử siêu thoát ra ngoài hai thái cực thiện và ác, không chấp thường, không chấp đoạn, không biên kiến cũng không nhị kiến thì dân gian đã đem Ngài về chỗ đứng riêng của cái thiện. Từ chỗ này, Ngài đã phân biệt rạch ròi giữa cái ác và cái thiện, là hai thái cực đối nghịch nhau, nên hành động ứng xử của Ngài cũng khác nhau. Quan niệm này, dĩ nhiên không làm mất giá trị của đạo Phật song hình ảnh Đức Phật thì  đã bị thế tục hóa rất nhiều.

Về mặt từ ngữ Phật và Bụt là hai từ khác nhau để nói đến một đối tượng mà thôi. Do đó, giữa hai từ này không phân biệt rạch ròi, bởi Phật cũng chính là Bụt. Nhưng giả sử dùng từ Phật để chỉ đức Phật lịch sử và từ Bụt để chỉ Phật dân gian thì học giả Nguyễn Khắc Thuần đã phân biệt Phật và Bụt như sau: “Trong tâm thức người Việt, dáng dấp của Bụt có phần khác hơn so với những pho tượng Phật ở trong chùa, Phật có gương mặt nhân từ, khả ái dễ kính và dễ gần, nhưng tóc Phật thì quăn, chẳng giống với tóc của đa phần người Việt. Có lẽ vì thế mà từ sâu lắng tình cảm của dân, Bụt hiện lên hình trong bao chuyện cổ tích với râu tóc bạc phơ giản dị như một ông lão chỉ có khác là có thần thông, công minh và đức độ đến kỳ lạ. Bụt là biểu tượng của đạo lý và chính nghĩa, là niềm an ủi vỗ về của lớp lớp những thế hệ bị áp bức. Phật và Bụt, hai mà là một, một mà là hai. . . Từ nhà chùa Phật  đã hóa thân làm Bụt để đi đến nhà dân. Bụt chính là Phật Việt Nam vậy . . . Bụt đã từng hiện lên không biết bao nhiêu trong chuyện cổ tích Việt Nam, khiến cho dấu ấn của Phật giáo đối với văn hóa dân gian Việt Nam càng thêm sâu sắc.”
(Nguyễn Khắc Thuần-Chùa Chiền trong đời sống văn hóa người Việt, tuần báo giác ngộ số 181)

2.3.2. Đức Phật qua thành ngữ, tục ngữ Việt Nam:

Thành ngữ và tục ngữ là sự đúc kết trí tuệ và tâm hồn của nhân dân lao động Việt Nam. Đây là thể loại văn học dân gian gần gũi và gắn bó nhất trong lời ăn tiếng nói hằng ngày của con người Việt. Chính trong địa hạt này, đức Phật là một trong những chủ đề được dân gian khắc họa nhiều nhất. Khảo sát thành ngữ, tục ngữ Việt Nam cho thấy hình tượng đức Phật thường xuyên hiện diện trong đời sống tinh thần của nhân dân lao động. Với dân gian, có thể nói đức Phật thật sự trở nên gần gũi, tin tưởng và thiêng liêng hơn cả.

Trước hết với dân gian, đức Phật là từ bi, hiền thiện. Ngài là biểu tượng cho giá trị chân-thiện-mỹ, thường đối lập với cái ác, cái xấu, mà từ có giá trị biểu trưng ấy là ma. Các thành ngữ, tục ngữ sau thể hiện ý tưởng ấy là: Hiền như Bụt, hiền với Bụt, ai hiền với ma, chùa rách Phật vàng, khẩu Phật, tâm xà.

Một bậc hiền thiện từ bi như Bụt hẳn nhiên là giàu lòng vị tha vô ngã và đáng là nơi quay về nương tựa cho những con người khốn khổ như:

- Ăn của Bụt, thắp hương thờ Bụt.
- Để làm hòn đá, cất nên ông Bụt.
- Lễ Phật quanh năm, không bằng rằm tháng giêng.

Đức Phật cũng đã trở thành một hình tượng gương mẫu được dân gian vận dụng để khuyên dạy con người cần phải trang nghiêm, đúng đắn trong cuộc sống:

- Bụt trên tòa, gà nào dám mổ mắt.

Đức Phật là một bậc từ bi, luôn sẵn sàng cứu khổ và đáng tôn thờ trong quan niệm của dân gian, dĩ nhiên trở thành một đấng thiêng liêng, linh thiêng ban phúc,  phát lộc. Thành ngữ, tục ngữ đã nói:

- Bụt nhiều, oản ít.
- Bụt lại từ oản chiêm.
- Bụt Chùa nhà không thiêng.

Hay làm quan ăn lộc Vua, ở chùa ăn lộc Phật.

Đặc biệt là trong khi khắc họa những đức tính của đức Phật để đúc kết thành những kinh nghiệm và chân lý về cuộc sống, Dân gian không chỉ dừng lại ở một đức Phật bên ngoài mà còn chỉ ra những đặc tính bên trong tự tâm của mỗi con người: Phật tại tâm, Phật là lòng, Chân tâm tức Phật, Phật nhà không cầu đi cầu Thích Ca ngoài đường . . .

Bụt trong thành ngữ, tục ngữ dẫu không sinh động và có nhiều pháp mầu như Bụt trong truyện cổ tích, song đó là hình tượng rất gần gũi và gắn bó trong cuộc sống. Hơn nữa, sự hiện diện của Phật (Bụt) trong hai thể loại văn học này là trường hợp cá biệt. Lịch sử Việt Nam cho thấy ngoài Đức Phật, Khổng Tử, Lão Tử, cũng là nơi quay về của lý tưởng xã hội Việt Nam thời phong kiến. Song lịch sử thành ngữ, tục ngữ cho thấy chỉ có một mình đức Phật là thường xuyên hiện diện và chiếm lĩnh trong đời sống tinh thần của dân gian Việt Nam.

2.3.3. Quán Thế Âm Bồ tát:

Hình tượng Bồ tát Quán Thế Âm đã quá quen thuộc trong đời sống tâm hồn mỗi người dân Việt. Trong tâm thức người Việt bình dân, nếu Đức Thích Ca là đấng cha lành với triết lý giáo dục cao siêu, thì Quán Thế Âm là người mẹ hiền luôn thân cận để chia xẻ nổi khổ niềm vui với họ, đặc biệt là trong lúc khổ đau, hoạn nạn. Có lẽ vì vậy mà hình tượng Bồ tát Quán Thế Âm được dân gian thờ nhiều hơn cả hình tượng Phật Tổ. Trước hết ta tìm hiểu danh hiệu của Ngài.

Quán Thế Âm, nghĩa là quán sát tiếng kêu than của chúng sanh trong thế gian để độ cho họ thốt khổ. Và nghiên cứu về hình tượng Ngài, chúng ta thấy có lắm tượng. Những tượng y cứ theo giả sử, như : Quán Âm Hài Nhi (thể theo cốt truyện Quán Âm Thị Kính), Quán Âm Nam Hải, Quán Âm Tử Trúc ... Những tượng y cứ theo các kinh phái Mật tông, như: Quán Âm Mã Đầu, Quán Âm Thiên Thủ Thiên Nhãn, Quán Âm Cữu Diện...

Bồ-tát Quán Thế Âm hiện thân của đức Từ Bi. Muốn nói lên tình thương chân thành tha thiết nhất trong con người, không tình thương nào qua tình mẹ thương con. Mẹ đối với con là tình thương chân thành thâm thúy bao la, khó lấy cái gì có thể hình dung được. Cho nên, đức Quán Thế Âm hiện thân là một người mẹ hiền của nhân loại, hay của tất cả chúng sanh. Người mẹ dầu bận cơng ăn việc làm gì, một khi nghe tiếng con kêu khĩc, mẹ buông bỏ tất cả vội vàng chạy lại vỗ về con. Đức Quán Thế Âm cũng thế, dù bận việc giáo hóa ở đâu, một khi nghe tiếng kêu thương của chúng sanh, Ngài liền hiện thân đến an ủi. Vì thế, gọi Ngài là Bồ-tát Quán Thế Âm. Người mẹ hiền của tất cả chúng sanh, người mẹ lúc nào cũng lắng nghe tiếng nấc nở từ cõi lòng của đàn con dại đang đắm chìm trong bể khổ mênh mông, để đến xoa diu, cứu thốt khiến mọi khổ não đều được tiêu tan.

Tóm lại trong nhà Phật, Quán Âm Bồ tát tượng trưng cho hạnh Từ bi. Như đã trình bày, Quán Thế Âm không chỉ là danh hiệu riêng để chỉ một vị Bồ tát mà còn là một phương pháp tu. Cho nên, ở đâu xuất hiện một người có tình thương lớn thì ở đó đức Quán Âm xuất hiện. Ở đâu có người biết lắng nghe tiếng kêu đau khổ của cuộc đời thì ở đó có sự hiện hữu của Ngài. Với ý nghĩa đó, Bồ tát Quán Thế Âm đã xuất hiện khắp trong cuộc đời.

2.3.4. Người tu sĩ Phật giáo:

Đã hơn hai mươi Thế kỷ nay, hình ảnh người tu hành Phật giáo đã trở nên thân quen trong lòng người Việt và là một phần trong đời sống tâm linh dân gian. Nhờ lòng từ bi và phạm hạnh, mà họ đã trở thành chỗ dựa tinh thần của người dân, là nơi để người dân trút bầu tâm sự, quay đầu hướng thiện.

Tu sĩ là người mang những nét đạo đức của Bụt, của Bồ tát để đi vào cuộc  đời. Dù họ cũng là một con người với đầy đủ bản năng dục vọng, nên nhiều khi bị cám dỗ bởi thị dục. Tuy nhiên họ luôn phấn đấu vươn lên, đấu tranh với những tâm niệm xấu xa, ích kỷ, sống đời sống phạm hạnh, góp phần xây dựng một đời sống an lạc. Khi mặc nhiên công nhận người tu hành là những người đạo hạnh, thì lắm khi dân gian cũng lên án những kẻ không thực tâm tu hành mà cũng mặc áo phục nhà sư. Ở nước ta Phật giáo ảnh hưởng mạnh của truyền thống Bắc Tông, nên phần lớn nhà Sư ăn chay trường, những nhà tu hành không giữ điều này thì họ chế nhạo:
 
“Quy Phật, quy Pháp, quy Tăng
Ông sư, bà vãi bẻ măng xáo gà.”

Những truyện cổ tích phê phán nhân vật người tu hành Phật giáo, đơn cử truyện “Hòa thượng và người thợ giày,” nhà sư Diệu Kế “tuy không phải là hạng hổ mang, nhưng cũng chẳng phải thuộc hạng chơn tu,” đã nhờ người thợ giày giúp mình vượt qua cuộc khảo hạch của một vị quốc sư. Người thợ giày không biết nửa câu Kinh Phật, ấy mà đóng thế sư Diệu Kế trong cuộc khảo hạch và được quốc sư đánh giá xuất sắc vì . . . hai bên hiểu lầm nhau.

Hầu hết, các truyện cổ tích phê phán nhân vật người tu hành Phật giáo đều có tính xã hội. Nếu xét kỷ thì không hề mang một chút cảm quan Phật giáo nào. Những nhân vật trong truyện cổ tích đã được thế tục hóa va pha chút ít màu sắc châm biến, phê phán, trào lộng, khôi hài.

Không ít người nhầm lẫn cho rằng đạo Phật là Tôn giáo đề cao khổ hạnh. Lịch sử kể rằng, trước khi thành Phật, Thái tử Tất Đạt Đa đã cùng năm người bạn đồng tu trải qua sáu năm khổ hạnh trong rừng sâu núi thẳm mà vẫn không tìm ra chân lý. Cho đến một ngày kia, sau cơn hôn mê tỉnh dậy, Ngài nhận ra rằng “hành hạ xác thân quá đáng sẽ không ích gì, người cầu đạo cần phải phát chiếu trí tuệ mới mong được giác ngộ. Nghĩ vậy, Ngài quyết định ăn uống như thường.” Bài Kinh đức Phật dạy cho năm người đệ tử đầu tiên là Kinh Trung Đạo, trong đó đức Phật dạy rằng: “Này các Tỳ kheo, có hai cực đoan mà hàng xuất gia phải tránh. Sự dễ dãi trong dục lạc là sự thấp hèn, thô bỉ, phàm tục không xứng phẩm hạnh của bậc Thánh nhơn. Và sự thiết tha gắn bó với lối tu khổ hạnh là đau khổ, không xứng đáng phẩm hạnh của bậc Thánh nhơn.” Từ bỏ cả hai cực đoan ấy, Như Lai đã chứng ngộ con đường Trung đạo, là con đường đem lại nhãn quan và tri kiến, đưa đến an tịnh, trí tuệ cao siêu, giác ngộ Niết Bàn. Như vậy, Ngài đã đưa con đường sống hài hòa. Nếu ai bảo rằng Đạo Phật phải khổ hạnh trường kỳ, thì điều đó đã đi lệch tinh thần Phật dạy.

2..4. Nhân sinh quan, vũ trụ quan Phật giáo qua lăng kính dân gian:

2.4.1- Thiện ác và nhân quả-nghiệp báo:

Thiện-ác là vấn đề rất quen thuộc đối với mỗi người, nhưng lại là vấn đề không đơn giản. Có nhiều quan điểm khác nhau về thiện ác. Thiện ác trong đạo Phật thì căn cứ vào ý thức, vào tâm địa phát ra chứ không căn cứ vào hành động đơn thuần của việc làm. Trong Phật giáo thiện được định nghĩa là những việc làm có lợi cho mình và người trong hiện tại và tương lai. Ngược lại ác là những việc làm gây hại cho mình và người khác trong hiện tại và tương lai.

Biểu hiện rõ nhất của Phật giáo trong đời sống là vấn đề thiện ác. Dường như trong tâm thức người Việt, nói đến đạo Phật nói riêng, và nói đến Tôn giáo nói chung, người ta nghĩ ngay đến việc thiện. Điều đó không phải là không chuẩn xác. Một câu Kinh rất quen thuộc, bình dị nhưng đó là kim chỉ nam cho người học Phật:

“Không làm các việc ác
Thường làm các việc lành,
Giữ tâm ý trong sạch,
Đó là lời Phật dạy.”

Thiện ác là tiền đề cho một giáo lý có tính quy luật, giáo lý nhân quả.Nhân quả là định luật hiển nhiên, phổ biến trong đời sống vật chất, cũng như tinh thần. Có thể định nghĩa: Nhân là nguyên nhân, là năng lực phát động. Quả là kết quả, là sự hình thành của năng lực phát động ấy. Như vậy trong mỗi sự vật, hiện tượng trong vũ trụ, đều có nguyên nhân của nó. Nhân quả hoàn toàn không do đức Phật đặt ra, mà Ngài chỉ căn cứ trên thực tế để chứng minh mà thôi. Phật giáo là nơi phát ngôn mạnh mẽ nhất cho giáo lý nhân quả.

Thiện ác, nhân quả thấm đượm một triết lý giáo dục sâu sắc. Nó là kim chỉ nam soi sáng trong từng hành động của con người. Những câu nói mộc mạc của ông bà như “ở hiền gặp lành, gieo gió gặt bão,” . . .đã tuôn chảy vào lòng người Việt Nam thành một truyền thống đạo đức tốt đẹp. Giáo lý nhân quả dạy con người ta thức tỉnh trong các hành động tạo tác của mình, để xa lánh các việc ác và nổ lực làm các việc lành nhằm đem lại sự an vui, thanh bình cho suộc sống. Giáo lý nhân quả cũng chú trọng đến việc thiện ác, tức là vấn đề luân lý đạo đức của con người nói chung và của những người Phật tử nói riêng. Đặc biệt luật nhân quả phù hợp với lương tâm loài người, có tính cách công bằng, tự nhiên, đặt trách nhiệm lên chính con người mình, không có sự nô lệ nơi thần linh bên ngoài, cũng không có tính cách vô luân như kẻ chủ trương ngẫu nhiên họa phúc.

Chữ Nghiệp báo đã không ít người hiểu lầm về chữ này. Họ cho rằng nghiệp như là một định mệnh, một mặc khải mà đấng tối cao nào đó đã gán cho mỗi người. Phật giáo định nghĩa Nghiệp là những hành động có ý thức tạo thành những sức mạnh chi phối tự thân và hoàn cảnh. Báo là quả báo, nghĩa là những kết quả do các nghiệp nhân tạo tác. Cho nên, con người sanh ra trên đời ai cũng có thân thể với đầu, trán, da, mặt, râu, tóc, mắt, lưỡi … như nhau, ai cũng có tứ chi gồm hai tay và hai chân không khác nhau. Nhưng vì cớ gì mà có kẻ chết yểu người sống lâu, kẻ hay ốm đau người sống mạnh mẽ, kẻ giàu người nghèo, kẻ quý người tiện, kẻ ngu dốt người thông minh, kẻ xấu hình người tốt tướng, kẻ nói cuội nói trăng, người thật thà như đếm … Tại sao vậy? “Bởi tư niệm và nghiệp duyên mỗi người mỗi khác, cho nên căn cơ không đồng, địa vị không đồng, và hưởng thụ cũng không đồng. Do đó mà có kẻ xảáu người đẹp, kẻ hèn người sang, kẻ ngu dốt người thông minh v.v. Theo lời Phật dạy thì chỉ vì tạo tác lành dữ đã thực hiện trong quá khứ mà mỗi con người tự có báo ứng riêng. Trước kia làm lành thì nay hưởng phước, trước kia tạo ác thì nay gặt họa. Nhân nào quả nấy, quả nào nhân nấy, mảy mún không sai.” (Kinh Na Tiên Tỳ kheo - Cao Hữu Đính dịch, trang 93)

Chính vì thế, Thế Tôn xác nhận con người vừa là chủ nhân vừa là kẻ thừa tự nghiệp khi đã tạo nghiệp rồi thì không thể trốn tránh:

“Không trên trời dưới biển
Không lánh vào động núi
Không chỗ nào trên đời
Trốn được quả ác nghiệp”
(Pháp Cú 127)

Như vậy, nghiệp là do con người tạo ra và hoàn toàn chịu trách nhiệm về hành động của mình, nhưng con người không phải là nô lệ của nghiệp, vì với sự nổ lực của tự thân trong hiện tại con người có thể chuyển nghiệp ở quá khứ. Vả lại, nếu không giữ gìn ba nghiệp thì “Khổ não sẽ theo sau như xe chân vật kéo.” Thấu rõ lý Nhân quả Nghiệp báo, mọi người sẽ tránh xa tội lỗi và tích tạo nhiều điều lành hầu tiến đến hạnh phúc an lạc trong hiện tại cũng như tương lai.

Triết lý nhân quả-nghiệp báo thường ảnh hưởng với tư tưởng truyền thống dân gian nên người dân thường nghĩ:

“Ác giả, ác báo xoay vần,
Hại nhân, nhân hại xưa nay lẽ thường.”

2..4.2 Duyên khởi:

Duyên khởi là cơ sở của vũ trụ quan Phật giáo. Duyên Khởi là giáo lý mà từ đó Thế Tôn giác ngộ vô thượng Bồ đề. Duyên khởi trong Phật giáo giải thích sự ra đời, tồn tại và hủy diệt của các sự vật hiện tượng. Đức Phật định nghĩa 12 nhân duyên nối nhau như một mắc xích tròn không thể xác định vòng nào là vòng đầu, vòng cuối. Để có một khái niệm về duyên khởi một cách cô đọng nhất, có thể dẫn lời tóm tắt của Phật trong Kinh “Phật Tự Thuyết” như sau:

“Do cái này có mặt nên cái kia có mặt.
Do cái này không có mặt nên cái kia không có mặt.
Do cái này sinh nên cái kia sinh   
Do cái này diệt nên cái kia diệt.”

Dưới cái nhìn duyên khởi, thì mọi hiện tượng trong cuộc đời đều tồn tại hỗ tương cho nhau. Cho nên, mỗi hành động của chúng ta đều ảnh hưởng đến ngoại cảnh. Trong dân gian giáo lý Duyên Khởi ảnh hưởng rất mạnh mẽ. Nếu ai mà liễu hội Duyên Khởi tức thành tựu sự giác ngộ tối thượng, như đức Phật dạy: “Ai thấy Duyên Khởi là thấy pháp, ai thấy pháp là thấy Phật.” (HT. Minh Châu-Trung Bộ I-Đại Kinh Dụ Dấu Chân Voi, trang 422)

Giáo lý duyên khởi cũng liên quan đến nhân quả-nghiệp báo. Xét về tiến trình một sự vật, một hiện tượng nào đó được thành tựu phải đi từ nhân - duyên - quả. Nghĩa là kết quả thành tựu được không chỉ do nhân mà còn phụ thuộc vào duyên. Về mặt đạo đức, duyên khởi giúp con người chuyển hóa lỗi lầm của mình

2.4.3 Luân hồi: 

Phần đông người đời hay lo sợ băn khoăn thắc mắc không biết sau khi chết sẽ đi về đâu? Sở dĩ họ lo sợ là đúng vì “sanh tử sự đại.” Nói đến luân hồi là nói đến sự chuyển sinh vô tận. Có rất nhiều học thuyết bàn về luân hồi. Vậy luân hồi là gì?

Luân hồi là sự tiếp nối của nhân quả-nghiệp báo, ở đâu có nhân quả nghiệp báo, thì ở đó có luân hồi.Luân hồi nghĩa là sự tái sinh, sự đi đến, nói đủ là bánh xe sinh tử không có khởi điểm, không có chung cuộc. Có thể nói hết thảy hiện tượng trên thế gian đều không thoát ra ngoài cái đạo lý luân hồi, sự vận chuyển vật lý của vũ trụ, sự thay đổi bốn mùa xuân, hạ, thu, đông, sự lưu chuyển ba đời quá khứ, hiện tại, tương lai . . . tất cả đều là hiện tượng luân hồi.

Luân hồi còn là ở ngay nhịp đập của quả tim đời sống hiện giờ, nhịp đập ấy được nối tiếp nhau đến khi bỏ xác thân này, hướng mãnh liệt khát khao về đời sống khác, cứ đeo níu thành một sợi dây nghiệp thức rồi trở thành một thân sau,cứ xoay vần mãi như thế, cho đến khi nào mười hai nhân duyên đoạn diệt, vòng quay luân hồi mới chấm dứt.

Luân hồi là Môtíp nổi bậc nhất trong tâm thức của đa phần người Việt. Người ta vẫn tin rằng sau khi chết con người sẽ sống một đời sống khác hơn, tốt đẹp hơn kiếp này, do với tư tưởng nghĩ vậy, mà nhiều người dân luôn hướng về điều thiện, tránh điều ác, tin tưởng ở tương lai. Vậy với giáo lý luân hồi là giáo lý có tính nhân bản, đã góp phần xây dựng nền đạo đức  xã hội và khích lệ con người hành thiện.

2.4.4 Niết Bàn:

Niết Bàn là mục đích của người tu Phật. Người Việt ảnh hưởng Phật giáo, nên từ ngữ Niết Bàn đã trở nên thân thuộc trong đời sống dân gian. Tuy thế, khái niệm Niết Bàn vẫn là “ụmột khái niệm hàm súc và rất dễ bị ngộ nhận.” (TT.Phước Sơn-Niết Bàn phải chăng là hư vô-TV Thành đạo, xuân 1996)

Đức Phật cũng nói Niết Bàn Như Lai chứng được “thực sự sâu xa, vi diệu khó thấy,khó chứng, tịch tĩnh, cao siêu, vượt thoát mọi lý luận.” (TT.Phước Sơn) Thế nên có nhiều người bình dân họ không thể hiểu sâu xa hết về Niết Bàn, thế nhưng họ vẫn đưa ra một khái niệm Niết Bàn theo ý nghĩ của họ, dù đó là khái niệm bất thành văn.

Trong tâm thức dân gian, Niết Bàn là một thế giới cụ thể, rất xa chúng ta, nơi ấy không có khổ đau. Những người thực tâm tu hành và những người hiền thì kiếp sau sẽ được Phật rước qua đó. Quan niệm này không hoàn toàn trái với tinh thần giáo lý nhà Phật, tuy nhiên Niết Bàn của Phật giáo không phụ thuộc vào hình tướng cụ thể như thế.

Vậy Niết Bàn của Đạo Phật ở đâu? “Không có nơi nào nhìn về hướng Tậy ,hướng Nam, hướng Đông, hướng Bắc, phía trên, phía dưới, hay  phía ngoài mà có thể nói đó là Niết Bàn (. . . ) Người nào  sanh sống chơn chánh, giới hạnh trang nghiêm và chú tâm minh sát, dầu ở Hy Lạp, Trung Hoa, Alexandrie hay Kosala đều có thể thành tựu đạo quả Niết Bàn.” (Narada Thera: Đức Phật và Phật pháp, trang 470). Như vậy, Niết Bàn của Phật giáo không lìa thế gian: Sanh tử tức Niết Bàn. Niết Bàn của Phật giáo là trạng thái tâm thức “đã được thổi tắt, đã diệt hết lữa phiền não, là thành tựu trí huệ viên mãn. Trạng thái này là cảnh gíơi giác ngộ siêu việt sanh tử, là mục đích thực tiễn rốt ráo của đạo Phật.” (TT.Phước Sơn-Thanh Tịnh Đạo Luận)

Như vậy, Niết Bàn dân gian và Niết Bàn Phật giáo có chỗ không tương đồng, dân gian chuyển hóa trạng thái tâm thức thành một cảnh giới cụ thể. Tuy thế, họ gặp nhau ở điểm là người ta hãy hướng Niết Bàn bằng tâm chơn chánh, giới hạnh trang nghiêm. Thiết nghĩ, đó là điểm mà mọi người cần phải hướng đến, dù người ấy không dùng từ ngữ  Niết Bàn.

Tóm lại: Sự ảnh hưởng qua lại giữa Phật Giáo với nghệ thuật, đạo đức, nhân sinh quan, vũ trụ quan, phong tục tập quán dân gian... là một trong những yếu tố tạo nên bản sắc văn hóa tinh thần Việt Nam.

Và qua lăng kính về hình tượng Phật, Bồ Tát,Tu sĩ trở nên gần gũi với người Việt hơn. Đức Phật Thích Ca tướng tốt đoan nghiêm trong bộ cà sa vàng thoát tục biến trở thành Bụt Việt Nam, một ông già râu tóc bạc phơ, ăn mặc giản dị như những cụ già nhân từ đất Việt giúp người dân. Bồ Tát Quán Thế Âm được tạo nên  từ hình tượng người phụ nữ mang đậm tích cách dịu dàng, nhân hậu của dân tộc Việt Nam. Rồi hình dáng Tu sĩ luôn hiện hữu trong lòng người dân, giúp dân vượt qua khó khăn từ vật chất đến tinh thần. Nhưng dù biến cách thế nào đi chăng nữa thì họ vẫn luôn mang bản chất từ bi,hỷ xã,trí tuệ, nhẫn nhục . . .Đó là những phẩm hạnh của Phật Giáo tương đồng với những nét tính cách người Việt.
 
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT HUY ĐẠO PHẬT

3.1. Công cuộc đổi mới và hướng đi của Phật giáo Việt Nam:

Phật giáo là một hiện tượng xã hội tồn tại hơn hai ngàn năm trong lịch sử và đã có thời kỳ lịch sử Phật giáo phát triển hưng thịnh chủ đạo đời sống tinh thần xã hội. Hơn nữa,trong những năm gần đây Phật giáo phát triển theo cùng với sự biến đổi của xã hội. Phật giáo còn là một nhu cầu của một bộ phận quần chúng. Quần chúng có quyền tự do chọn lựa cái món ăn tinh thần cho chính bản thân họ. Vì thế trong điều kiện hiện nay, để thích ứng với xã hội Việt Nam, Phật giáo phải hấp thụ văn hóa xã hội qua nhiều tư tưởng, để nâng tầm nhận thức của con người lên một tầng cao mới về đạo Phật. Ngoài ra, Phật giáo còn chú trọng đến đời sống một xã hội hiện thực, ngày càng gắn kết chặt chẽ với những tín ngưỡng được cải thiện hơn, xuất hiện với một hình thức thánh thiện hơn. Chính nhờ vậy, Phật giáo Việt Nam  tỏ ra có tính hợp lý nhiều hơn, với một Tôn giáo vừa là lý trí, vừa là đạo đức.

Chúng ta biết, đã có một thời kỳ dài, người ta coi đời sống và tu hành là hai thứ cách biệt nhau, làm cho Phật giáo đi vào con đường lẫn tránh hiện thực mà HT.Thanh Từ gọi đó là thời kỳ suy đồi của Phật giáo Việt Nam. Chủ trương của Phật giáo là “Phật pháp là đời sống, đời sống là Phật pháp.” Chỉ có như vậy, mới có thể xây dựng được Niết Bàn trên thế gian này.

Ngày nay, công cuộc đổi mới đã làm biến đổi toàn bộ đời sống xã hội, cho nên Phật giáo cũng có hướng đi mới cho mình đầu tiên là khía cạnh giáo dục  đạo đức xã hội. Trên phương diện đó, Phật pháp là  một hệ thống luân lý truyền dạy con đường dẫn đến hạnh phúc, an bình.

Muốn trở thành con người toàn diện, trước hết giáo dục Phật giáo hướng con người trở về với chính mình, tức phải tìm hiểu mình, tự xây dựng cho mình. Xây dựng hòn đảo hay tìm ngọn đèn Chánh pháp là việc làm cấp bách và thiết thực đối với mỗi người trong xã hội hôm nay. Sở dĩ con người đau khổ là do không nhận thức rõ về mình mà mãi miết đi tìm cho mình những niềm vui nhỏ bé, ích kỷ, niềm vui xây dựng trên sự đau khổ của kẻ khác.

Ngoài việc giáo dục tự thân, giáo dục Phật giáo còn lấy cuộc đời làm đối tượng, lấy những con người đang sống trong tập thể của xã hội làm đối tượng. Phật giáo đã có mặt trên đất nước Việt Nam và đã cống hiến cho Dân tộc Việt Nam nói riêng và nhân loại nói chung một gia tài văn hóa tâm linh vô cùng phong phú và đa dạng. Điều đó khẳng định vai trò Giáo dục Phật giáo có tầm quan trọng rất lớn trong việc đem đạo vào đời và làm cho cuộc đời ngày càng tốt đẹp hơn.

Trước thềm của thế kỷ 21, con người đã và đang xoay về Phật giáo. Chính Thiền đã thể hiện vai trò tiên phong nhập thế của mình. Phật giáo có hướng đi mới là đưa Thiền vào học đường, vào các công ty, xí nghiệp gần gũi với mọi tầng lớp nhân dân, giúp họ thấy được và sử dụng được nguồn năng lực trí tuệ, sức khỏe của bản thân qua thực nghiệm thiền, đem lại lợi ích thật sự cho chính họ và cho xã hội.

Từ những công cuộc đổi mới Phật giáo đang có xu hướng thế tục hóa, ngày càng có sự thay đổi để thích ứng với điều kiện xã hội mới. Với phương châm: “Đạo pháp - Dân tộc - Chủ nghĩa xã hội.”

3.2. Một số giải pháp nhằm phát huy những ảnh hưởng tích cực và hạn chế mặt tiêu cực của Phật giáo trong đời sống văn hóa tinh thần ở Việt Nam hiện nay:

- Một là tuyên truyền giáo dục làm chuyển biến nhận thức vai trò của Phật giáo đối với đời sống văn hóa tinh thần Dân tộc, là một trong những nhân tố tạo nên sức mạnh tinh thần, một tiềm lực văn hóa và động lực to lớn cho sự phát triển dân tộc như tín ngưỡng tâm linh. Nó làm cho khuôn mặt văn hóa dân gian thêm phong phú. Sinh hoạt tín ngưỡng như chùa Hương, chùa Thầy, chùa Yên Tử Trúc Lâm, chùa Thiên Mụ...  Vừa là sinh hoạt tín ngưỡng, vừa là nơi sinh hoạt văn hóa tinh thần. Nó còn có tác dụng củng cố tình yêu quê hương Dân tộc. Tuy nhiên, những năm gần đây sinh hoạt tín ngưỡng Phật giáo có nhiều biểu hiện làm vẫn đục đời sống tinh thần xã hội. Nhiều kẻ nấp dưới bóng Phật làm ăn như bùa ngãi. Rồi chùa chiền lại nực mùi hương khói, đốt giấy tiền bạc quá nhiều, thắp nhang cũng quá nhiều gây ảnh hưởng đến môi trường và sức khỏe.

Như thực tiễn cho thấy việc tổ chức sinh hoạt Phật giáo, các lễ hội chùa, in ấn, xuất bản, xuất nhập lưu hành Kinh sách... Ở một khía cạnh nào đó còn tùy tiện. Vẫn còn tình trạng lợi dụng in ấn lén lút, làm sai lời Kinh, tổ chức các lễ đồng bóng làm dân thêm mê tín...  Tất cả tình hình trên là kẻ hở để một số người lợi dụng làm ăn, mưu cầu lợi ích riêng tư.

Trước tình hình như vậy, việc tuyên truyền giáo dục làm chuyển biến nhận thức sai lầm về tín nguỡng, về vai trò của Phật giáo trong văn hóa dân gian là điều hết sức cần thiết.

- Hai là biết chăm lo đời sống vật chất cho đồng bào đói nghèo, gặp thiên tai, nâng cao trình độ kiến thức mọi măt cho Phật tử chính là điều tiên quyết của Phật giáo ngày nay, phát triển đúng hướng, lấy đạo pháp phục vụ cho Dân tộc.

Thực tiễn trong những năm gần đây Phật giáo rất phát triển về mặt làm từ thiện và để thỏa nguyện mục đích học giáo lý của Phật tử, nên Phật giáo đã mở rất nhiều lớp giáo lý. Tuy nhiên, ở những nơi vùng sâu vùng xa, lại thiếu nhân sự về hoằng pháp. Và việc sử dụng những nhân lực đã được đào tạo chưa đạt hiệu quả cao, nhiều người vẫn còn làm những công việc chưa tương xứng với tài năng của họ. Điều quan trọng nhất là sau khi nhân sự được đi học tại các trường đại học trong và ngoài nước hoặc Học Viên Phật Giáo, không về lại nơi trú xứ mình phục vụ hoằng pháp. Đây là sự lãng phí nhân sự cần phải khắc phục, mới có thể làm cho việc truyền bá giáo lý Phật Đà phát triển. Thiết nghĩ rằng Giáo Hội Phật Giáo cần chú ý phân bố nhân sự hoằng pháp ở các nơi vùng sâu, vùng xa. Cần có những phụng sự viên thật tài, am hiểu thế học, Phật học nắm vững ngôn ngữ, phong tục tập quán, văn hóa, nhằm đáp ứng nhu cầu truyền bá giáo lý khắp nơi trên toàn thế giới.

- Ba là những ngôi Chùa nổi tiếng ở Việt Nam như Chùa Trấn Quốc,Chùa Diên Hựu (Chùa Một Cột), Chùa Quán Sứ (Hà Nội), Chùa Pháp Vân (Chùa Dâu), Chùa Phật Tích, Chùa Bút Tháp (Bắc Ninh), Chùa Thầy, Chùa Trăm Gian, Chùa Đậu, Chùa Mía, Chùa Tây Phương, Chùa Hương, Chùa Hoa Yên-Yên Tử (Quảng Ninh) Chùa Dư Hàng (Hải Phòng). Chùa Phổ Minh, Chùa Cổ Lễ (Nam Định), Chùa Keo (Thái Bình), Chùa Thiên Mụ, Chùa Từ Đàm (Thừa Thiên Huế), Chùa Linh Ứng, Chùa Tam Thai (Đà Nẵng) Chùa Long Sơn (Khánh Hòa), Chùa Cổ Thạch (Bình Thuận), Chùa Linh Sơn, Thiền Viện Trúc Lâm (Đà Lạt) Chùa Khải Đoan (Daklak), Chùa Giác Lâm, Chùa Vĩnh Nghiêm (TP.HCM), Chùa Vĩnh Tràng, Chùa Linh Thứu (Tiền Giang), Chùa Tây An (An Giang), Chùa Tam Bảo, Chùa Phù Dung, Chùa Hang (Kiên Giang), Chùa Kh’Leang, Chùa Mahatup (Sóc Trăng). . .

Những ngôi Chùa nói trên và hàng trăm ngôi Chùa nổi tiếng khác ở khắp miền đất nước là những danh lam thắng cảnh, điểm du lịch văn hóa dân tộc Việt Nam, mà các công ty du lịch đã đưa vào hệ thống tuyến điểm du lịch văn hoá đất nước. Nhờ vào đó, tín ngưỡng Phật Giáo càng ngày càng phát triển, nó làm cho khuôn mặt văn hóa dân tộc Việt Nam thêm phong phú. Nhưng để chủ động hòa nhịp và đóng góp tích cực của Phật Giáo vào đời sống văn hóa tinh thần cho nhân dân, thì việc xây dựng di sản văn hóa dân tộc, việc khuyến khích nhân dân các xã,phường, thôn, ấp, dân cư khu tập thể, phải giữ gìn,bảo vệ môi trường thiên nhiên,cảnh quan xung quanh các di tích văn hóa Chùa,Tháp là điều cần thiết, cần bổ sung hệ thống thanh tra chuyên ngành, tăng cường công tác thanh tra của Giáo Hội Phật Giáo. Nhằm mục đích bảo tồn, phát huy di sản văn hóa Phật Giáo nói riêng và văn hóa dân tộc Việt Nam nói chung.

Tóm lại: Từ những thực tế trên, để phát huy những giá trị tích cực, hạn chế mặt tiêu cực của Phật Giáo đối với đời sống văn hóa tinh thần Xã Hội,cần có một số giải pháp như tuyên truyền giáo dục, làm chuyển biến nhận thức về vai trò của Phật Giáo, chăm lo đời sống vật chất, nâng cao trình độ mọi mặt cho đồng bào Phật Giáo, tăng cường đào tạo hoàn thiện, sử dụng một cách hợp lý đội ngũ làm công tác Phật Giáo, nâng cao hiệu quả bảo vệ di sản văn hóa và lĩnh vực tín ngưỡng Phật Giáo.

C - KẾT LUẬN

Hơn hai ngàn năm, Phật Giáo hòa nhập với tín ngưỡng người Việt, đãtrở thành một thành tố của văn hóa dân tộc. Và sự ảnh hưởng tinh thần của Phật Giáo với nhiều lĩnh vực trong đời sống văn hóa dân tộc còn là kết quả sự tiến triển nội tại của Phật Giáo Việt Nam. Với phương pháp hòa đồng, với nội dung giáo lý có nhiều điều phù hợp với giá trị văn hóa tinh thần dân tộc. Với đội ngũ tăng sư không quản gian khó đi khắp nơi hoằng hóa Phật pháp. Nhờ vậy, Phật Giáo Việt Nam đã tìm được tiếng nói của mình trên vũ đài tư tưởng, nghệ thuật, đạo đức dân tộc Việt Nam.

Có thể thấy rằng, Phật Giáo đã góp một phần không nhỏ trong việc củng cố ý thức tinh thần văn hóa dân tộc Việt Nam. Về phương diện nghệ thuật, các loại hình nghệ thuật như thơ văn, điêu khắc, khiến trúc.. Đều phản ảnh nhân sinh Phật Giáo một cách tinh tế, thấu đáo. Hơn nữa, những di sản văn hóa, thẩm mỹ là những sản phẩm tài hoa của Phật Giáo. Trên lĩnh vực đạo đức, Phật Giáo đã góp phần vào sự hòan thiện nhân cách con người. Còn giáo lý Đạo Phật, đã làm vơi đi nổi thống khổ của con người, đem lại hạnh phúc cho mọi người, giúp cho tâm linh của con người hướng đến cõi thánh thiện, rũ bỏ đi bao nổi lo toan trong cuộc sống. Rồi xét về bình diện văn hóa Phật Giáo Việt Nam là một bộ phận văn hóa dân tộc Việt Nam, dù trong hoàn cảnh nào, vẫn tồn tại, an nhiên như thách thức với thời gian, với lịch sử, nó đều có khả năng hòa nhập linh hoạt trong sinh hoat cộng đồng.

Và khẳng định rằng, Phật Giáo Việt Nam đã in đậm dấu ấn son sắt trong nền văn hóa Việt, là niềm tin, niềm tín ngưỡng không bao giờ nguội lạnh trong lòng người Việt. Và một trong nhiều nổi bật nhất của nền văn hóa dân tộc Việt Nam là giá trị tinh thần Phật Giáo, vẫn trường tồn và phát triển trong lòng người dân từ đời này sang đời khác, nó đi sâu vào tiềm thức con người, tạo nên một tâm lý mang một dáng dấp độc đáo văn hóa dân gian Việt Nam.

Hơn nữa, qua bao cuộc biến đổi, thăng trầm của đất nước, Phật giáo đã đứng vững, tồn tại và phát triển trong lòng dân tộc. Phật giáo đã có những đóng góp đáng kể về kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội. Lịch sử đã chứng minh trong giai đoạn hiểm nghèo của đất nước trước tai họa xâm lăng, nhiều vị thiền sư cùng đồng bào Phật tử đã chung lưng với dân tộc chống giặc bảo vệ non sông, tranh đấu cho công bằng, tự do tín ngưỡng. Gương sáng của Thiền sư Vạn Hạnh, công lao to lớn của Trần Nhân Tông và tiếng chuông thức tỉnh của Hòa Thượng Thích Quảng Đức vẫn còn vang vọng đâu đây… Phật giáo đã đóng một vai trò quan trọng trong việc củng cố tinh thần đoàn kết, đã góp phần tạo nên những tinh hoa văn hóa dân tộc và mãi mãi là niềm tự hào của người Việt Nam.

Hiện nay, trong bối cảnh đất nước đang chuyển mình để hòa nhập với trào lưu phát triển thế giới, Việt Nam đang mở cửa giao lưu ngõ hầu tiếp thu, học tập những khoa học kỹ thuật tiến bộ hiện đại. Cũng từ đây, nhiều luồng văn hóa ngoại lai sẽ du nhập vào, cái tốt hòa lẫn cái xấu làm sao có thể phân biệt? Đây là một câu hỏi không những dành riêng cho các nhà giáo dục, đạo đức, xã hội, tôn giáo… mà nó trở thành vấn đề của quốc gia và của cả dân tộc Việt Nam. Do đó, nếu chúng ta có một nền văn hóa lành mạnh, đậm đà bản sắc dân tộc với truyền thống đạo đức tốt đẹp chắc chắn sẽ chống lại những cặn bã văn hóa ngoại lai đó. Những yếu tố tích cực của Phật giáo cùng với văn hóa dân tộc Việt Nam sẽ làm cho xã hội ngày càng hạnh phúc an lạc một cách hoàn mỹ.

Giá trị bất hủ của đạo Phật chính là ở chổ vạch ra con đường cụ thể giúp mỗi người trở thành con người hoàn thiện, con người sống tự do và hạnh phúc, con người mẫu mực về trí tuệ và tình thương rộng lớn. Xã hội không nhìn chúng ta, đánh giá chúng ta qua sách Phật và tượng Phật, mà nhìn chúng ta, đánh giá chúng ta qua việc làm và lời nói mà mỗi con người chúng ta thể hiện trung thành hay tương phản lại với ý tưởng Từ bi và Trí tuệ của đạo Phật.

Vậy Phật Giáo là một Tôn giáo có giá trị với thời gian, vượt qua khoảng cách không gian thấm sâu vào lòng người. Phật Giáo cũng là một nền văn hóa lớn, đặc biệt với Dân tộc Việt Nam, nên các nhà nghiên cứu, các cơ quan nghiên cứu văn hóa cũng như Phật học đã có nhiều công trình nghiên cứu về sự ảnh hưởng qua lại giữa Phật Giáo và văn hóa Việt Nam. Mỗi công trình nhìn từ một góc độ khác nhau, khai thác những yếu tố khác nhau của vấn đề. Vì vậy, việc khảo cứu và làm nổi bật giá trị tinh thần Đạo Phật trong văn hóa dân gian Việt Nam là việc làm đòi hỏi nhiều thời gian và dày công nghiên cứu. Thế nhưng, với vốn kiến thức còn quá hạn hẹp mà Người viết vẫn thiết tha nghiên cứu, tìm tòi tài liệu cộng thêm chút hiểu biết thiển cận của mình đã học được, để trình bày phần nào giá trị của Đạo Phật trong văn hóa dân gian Việt Nam. Một lần nữa Người viết xin nhận khiếm khuyết, sai lầm, không sao tránh khỏi khi làm tiểu luận văn này.

Thích nữ Diệu Liên

Giảng sư

Kết nối

Tổng số truy cập
Thông tin: 48.370
Pháp Âm: 28.394
Đang truy cập
Hôm qua: 8034
Tổng truy cập: 1.625.860
Số người đang online: 301

Các tin khác

PHÁP ÂM NỔI BẬT

Giảng sư Xem tất cả

hosting gia re , web gia re tron goi , thiet ke web tron goi tai ho chi minh, binh duong, vung tau, ha noi, ca nuoc , thiet ke web tron goi gia re