chuabuuchau.com.vn,chuabuuchau, chua buu chau, chùa bửu châu, chua buu chau cu chi

Tinh thần lễ bái trong đạo Phật

Hình ảnh có liên quan
 
DẪN NHẬP

1- Ý nghĩa và Lý do chọn đề tài.

Đại trí và đại bi là hai mặt của tâm Bồ Đề. Đó là chất liệu duy nhất để hoàn thành công hạnh tu tập của mọi hành giả. Điều đó đã được chỉ dạy trong “Phát Bồ đề tâm văn”:
 
“Làm các việc lành mà bỏ quên tâm chí mong cầu tuệ giác vô thượng thì đó chỉ là làm việc của ma”.

Nếu đánh mất tâm Bồ đề ấy, dù có làm các việc lành cũng chẳng khác nào việc làm của những kẻ do sự thúc đẩy của tâm bất thiện. Tất cả mọi sự thực hành dễ rơi vào hình thức mà trốùng rỗng về nội dung. Muốn đạt được kết quả thì đòi hỏi hành giả phải có chánh tri kiến trên mọi hành động, lời nói và ý nghĩ của mình.

Đối với sự phát triển của nhân loại trong thời đại hiẹân nay, Đạo Phật đóng vai trò cực kỳ quan trọng. Bởi lẽ một quốc độ muốn được phát triển ổn định cần phải được quân bình trên hai phương diện là tinh thần và vật chất. Tinh thần giúp ta nghệ thuật sử dụng vật chất sao cho hướng thượng, hướng thiện và bổ ích thực sự. Trái lại, vật chất phải chuyển tải một ý nghĩa cao thượng và lợi lạc. Nói đúng hơn, cuộc sống phải có văn hóa; tôn vinh văn hóa là hoàn toàn nhân bản. Theo Encydopedia Britanvica: “Văn hóa là những hình thức tổng hợp các kiến thức, niềm tin và hành vi của con người, có nghĩa là bao gồm ngôn ngữ, tư tưởng, tín ngưỡng, phong tục, cấm kỵ, luật lệ, giáo dục, kỹ thuật, nghệ thuật, nghi thức, lễ bái và những yếu tố liên hệ khác”. Lại nữa, các nhà xã hội học như A. Krocher và C. Khuckholm phát biểu: “Trọng điểm của văn hóa bao gồm những tập truyền tư tưởng. Hệ thống văn hóa một mặt được coi như là sản phẩm của hành động, mặt khác là điều kiện thực thi các hành động”. [17-357] Qua những lời phát biểu trên chứng tỏ văn hóa không thể thiếu trong mỗi dân tộc, cộng đồng. Nó hầu như là một hệ thống vận hành của xã hội. Văn hóa là nền tư tưởng liên hệ giữa cuộc sống con người với tạo hóa, từ đó những liên hệ giữa con người với con người được thiết lập. Với tầm quan trọng như vậy, chúng ta dễ dàng nhận biết rằng bất luận vấn đề nào, mỗi khi tầm quan trọng của nó càng cao, nếu không thận trọng thì sự hủy diệt của nó càng lớn. Như Khổng tử nói: “Làm thầy thuốc mà sai lầm thì chỉ giết một người, làm chính trị mà sai lầm thì tàn hại cả đất nước, làm văn hóa mà sai lầm thì gây tai họa cho muôn đời”. Bởi vậy trong lãnh vực văn hoá bất luận phát triển mặt nào cũng cần sự chính xác mới đem đến lợi ích lớn.

Mỗi dân tộc là mỗi đơn vị đặc thù, mỗi tôn giáo, mỗi trường phái tư tưởng có nét riêng của nó, nét riêng đó được đánh giá qua các sự giao lưu với nhau. Tuy nhiên tất cả phải được đánh giá dưới ánh sáng trí tuệ và chánh kiến. Đức Phật dạy: “Đừng tin tưởng vào những gì vì dựa vào tập quán lưu truyền. Đừng tin tưởng bất cứ một điều gì chỉ vin vào uy tín và thẩm quyền của một người nào đó. Đừng tin tưởng điều gì vì có được nhiều người nói đi nhắc lại. Nhưng hãy tin tưởng vào những gì mà người ta từng trãi nghiệm, thấy là đúng, thấy có lợi cho mình và người khác”. F .L. Woodward, một trong những dịch giả nỗi tiếng về lời dạy của Phật, nói: “Phật giáo là tôn giáo tự mình làm lấy”.

Ở môi trường sinh sống, thế giới tự nhiên không thể đáp ứng hết nhu cầu của con người. Săn băùn rồi cũng hết thú, mùa màng thì bị thiên tai, bệnh tật, chết chóc phát sinh. Từ đó con người có cảm giác bất lực, trông mong một sức mạnh khác giúp đỡ hộ trì. Tôn giáo là yếu tố thiết thực được xem như đời sống tinh thần của con người. Trong quan niệm hiện nay, tôn giáo có vai trò rất lớn. Kant xem tôn giáo như lời đáp cho câu hỏi “Tôi có thể trông mong cái gì?”. “Dù triết học hay khoa học cũng đều thoát thai từ sự ức đoán về bản tính của vạn vật, sự nghiên cứu về con người và xã hội, từ những tính toán mang tính tôn giáo về linh hồn và về phương diện thích hợp tư cách đạo đức của con người. Còn đạo Phật là một tôn giáo với những sắc thái huyền nhiệm lung linh; ở điểm khác, Đạo Phật lại là một thức thuyết sắc bén thực tiễn, có khả năng ứng dụng vào cuộc sống. Ở tôn phái này thì Đạo Phật chấp giữ giáo pháp như một chân lý tuyệt đối và nghiêm ngặt, ở tôn phái kia Đạo Phật phá chấp không nhìn nhận giáo pháp là một chân lý tuyệt đối mà giáo pháp chỉ có giá trị như một phương pháp hướng dẫn con người trong công cuộc tu chứng mà thôi. Tóm lại đạo Phật là sự thể hiện của cuộc đời phồn tạp khúc mắc đa diện, nên cũng có thể nói đạo Phật là đạo của con người nhân đạo. Với đầy những trái ngược phức tạp nhưng vẫn chỉ là một “con người” sống thực với những nhu yếu phức tạp đó, Đạo Phật là tất cả”.

Qua một vài lần mục kích khung cảnh lễ nghi, hình thức lễ bái, người viết không khỏi ưu tư cho sự mất mát về giá trị của lĩnh vực này. Chỉ e rằng mỗi ngày nó sẽ trở thành một phương tiện hay hình thức phục vụ cho mê tín và những tâm hồn bệnh hoạn. Đạo Phật vốn dĩ là đạo trí tuệ, luôn hướng dẫn nhân sinh đến giải thoát, phát huy tự giác để đi đến giác tha. Theo quan điểm Phật giáo, mỗi cá nhân tự thiết lập cuộc sống an lạc cho mình và nhận lấy tất cả những kết quả do hành động, lời nói và suy nghĩ của mình tạo nên.

2- Phạm vi đề tài.

Với tập luận văn này, người viết không dám lạm bàn đến những lĩnh vực cao xa mà chỉ tìm hiểu một phần nhỏ bé trong kho tàng văn hóa đó là “Tinh thần lễ bái”, đặc biệt là tinh thần lễ bái Phật giáo. Do đó, công trình luận văn tập trung thảo luận một số vấn đề sau đây:

- Đối tượng tôn kính trong một số các tôn giáo và Phật giáo.
- Hình thức lễ bái được tìm thấy trong một số tôn giáo và Đạo Phật.
- Ý nghĩa lễ bái được nhấn mạnh trong Đạo Phật.

3- Phương pháp nghiên cứu.

Để làm sáng tỏ các vấn đề trên, người viết tổng hợp nhiều nguồn tài liệu liên quan và vận dụng phương pháp phân tích bình giải đối với các tiêu chí được đề cập trong luận văn. Thực hiện thiên tiểu luận này, người viết chỉ mong chấm phá một nét nhỏ cho nếp sống văn hóa thêm thi vị, góp phần tạo thành ngọn gió mát giữa bầu trời oi bức của mùa hè cháy bỏng mà thôi.
 
NỘI DUNG

CHƯƠNG 1: ĐỐI TƯỢNG TÔN KÍNH

Cho đến nay, khi nói đến khởi thủy của một vài tôn giáo người ta chỉ xây dựng lý thuyết trên ước đoán. Bằng chứng về đức tin của người tiền sử thì quá mong manh. Một vài trường phái chịu ảnh hưởng của thuyết tiến hóa, đã cố gắng dựng lại các giai đoạn của đời sống tôn giáo để tìm ra các tôn giáo có lịch sử. Tuy nhiên dù ở hình thức sơ khai tôn giáo vẫn mang mục đích phô diễn tri giác con người về sự huyền bí hay thánh thiện qua thi ca, nghi lễ, biểu tượng và triết lý. Tri giác thánh thiện đó được xây dựng chặt chẻ với giá trị đạo đức và cơ cấu xã hội. Hiện nay một số dân tộc trên thế giới vẫn duy trì lối sống ở trình độ nguyên thủy, thời kỳ đồ đá. Họ không phải thiếu tinh tế mà phải hiểu các tín ngưỡng và các phong tục đó như một phần kết cấu xã hội được xác định bởi những kỹ thuật thời kỳ nguyên thủy. Họ tin có một lực vô hình vây quanh mình. Lực đó có thể là linh hồn thần thánh hay mara. Lực vô ngôi đó đã thâm nhập khắp mọi nơi, mọi vật, huyền bí và năng động như người. Tôn giáo được thể hiện dưới dạng vật tổ, tín ngưỡng vật linh như thú vật cây cối. Có một số học giả giải thích tôn giáo như một nhu cầu xã hội và tâm lý cá nhân. Nhu cầu và áp lực này nhằm mục đích giải thích về cảm giác của con người về sự huyền bí và giá trị đạo đức. Bên cạnh đó, nó nói lên sự sáng tạo của con người, cho thấy khả năng tự vệ trong những trường hợp cấp bách và khủng hoảng của đời sống. Ở đây chỉ đề cập đến một số tư tưởng và đối tượng được tôn vinh của một số tôn giáo, trường phái trước hay trong thời Đức Phật mà thôi.

Trước hết là sơ lược về định nghĩa của từ ngữ lễ bái:

Lễ: Là những quy tắc nhất định của cung cách qua sự đi, đứng, nói năng trong những Quan hôn tang tế nhằm thể hiện sự tôn kính.

Bái: nghĩa là quỳ lạy bằng cách hạ mình xuống đất trước những bậc Hiền Đức mà mình tôn kính.

Lễ Bái tiếng phạn là Vandana, Tàu dịch âm là Ban Đàm, còn gọi là Hòa Nam, hoặc gọi là Na Mô Tất Yết La, nghĩa là lễ nghi cung cách với hình thức cúi đầu quỳ lạy trước những bậc tiền nhân và Thánh Đức mà mình đã đặt trọn niềm tin quy ngưỡng hướng về, như lạy chư Phật, chư Bồ tát, chư Hiền thánh tăng, lạy cha mẹ, Thầy tổ… Chúng ta quỳ lạy những vị đó nhằm biểu lộ đức tánh khiêm tốn và để tỏ lòng tri ân, báo ân, cũng như học theo và trau dồi những đức tính cao quý ấy.[10,75]

1.1- Đối tượng lễ bái trước thời Đức Phật

Để khảo sát tinh thần lễ bái nói trên người viết xin lược qua một vài hình thức trước và sau thơi Đức Phật để làm sáng tỏ ý nghĩa của nó hơn.

Theo Ấn độ giáo: Cách đây khoảng 4000 năm, nhóm du mục Aryan (Ấn Âu) từ trung Á tràn qua Bắc Ấn. Họ chinh phục các thổ dân trên đường đi qua và đã định cư tại bình nguyên Bắc Ấn. Tôn giáo của họ được truyền và thể hiện ở kinh Vệ đà. Về nghi lễ, họ hiến tế súc vật cho thần linh, theo thời gian việc cúng tế càng trở nên phức tạp. Qua một thời gian quan niệm này được thay thế bằng Brahma. Nghĩa là chiêm nghiệm về vũ trụ, tăng bước tiến của con người đi tìm một hữu thể thần linh duy nhất làm nguồn gốc và đối tượng thờ cúng. Vị thần đó là Brahma. Bên cạnh đó thánh ca thể hiện niềm tin vào một trật tự vũ trụ goi là rta, vừa là quy luật tự nhiên kiểm soát các biến cố, vừa là quy luật đạo đức kiểm soát các hành vi con người. Theo họ Brahman là sức mạnh che chở vũ trụ. Toàn thể vũ trụ hiện hữu do một sức mạnh thần bí. Như vậy Brahman là tên của một thực thể nằm sau thế giới hữu hình. Họ còn quan niệm rằng bên trong của một cá nhân có một Atman hay còn gọi là linh hồn ngự trị trong mỗi cá nhân. Riêng dân bản địa tại xứ này gọi là Druda, theo tín ngưỡng thần mẹ, thần cây. Khi dân Aryan xâm chiếm Ấn Độ, họ tiếp thu và làm phong phú thêm các tín ngưỡng ở đây. Họ tôn thờ mặt trời (surya), mặt trăng (canda), thần chết (yma), thần lửa (Agni). Kinh vệ đà cho thấy họ còn thờ hệ thống thần thánh vệ đà, những vị thánh gần gũi và trực tiếp với họ.

Tóm lại, đa số Hindu giáo tin ở một thượng đế duy nhất, mặc dù họ tín ngưỡng đa thần nhưng chỉ tin ở một vị thượng đế duy nhất. Tuy nhiên theo Shankara (788-820), một nhà thần học vĩ đại nhất của Ấn Giáo, thì con người chỉ giải thoát tinh thần khi đạt tới sự trải nghiệm nội tại nhờ đồng nhất với tuyệt đối thể. Ông cho rằng: “Biểu hiện thông thường giữa chúng ta với Brahman và với một người khác dựa trên sự ngu tối và ảo tưởng. Dưới ánh mắt giác ngộ, vũ trụ là ảo tưởng, đấng sáng tạo cũng là ảo tưởng. Dưới ánh mắt thấp hơn, chúng ta có thể coi vũ trụ là thực và được tạo dựng bởi Brahma (khía cạnh nhân tính của Brahman). Do đó, với thường nhân, tôn kính và nghi lễ là đúng, nhưng với cao nhân, phải vượt qua trình độ đức tin thường để có cái nhìn cao hơn”.[14,32] Đó là Hindu giáo, nhưng đối với Nho Giáo thì sao?

1.2- Đối tượng lễ bái theo quan niệm Nho giáo:

Nho giáo là một trường phái tư tưởng quan trọng của Trung Quốc hơn 2000 năm lịch sử. Người đặt cơ sở đầu tiên là Khổng tử thời Xuân thu. Về sau Mạnh tử thời Chiến quốc và Đổng Trọng Thư thời Tây Hán cũng như các nhà nho đời Tống phát triển học thuyết này hoàn chỉnh hơn.[18,125]. Trong hệ thống tư tưởng của họ chủ yếu là thi, lễ, nhạc, dịch, xuân thu. Đối với Khổng Tử, ông ta ít quan tâm đến nguồn gốc của vũ trụ. Ông cho rằng trời chỉ là giới tự nhiên bốn mùa thay đổi, trăm vật sinh trưởng, nhưng bên cạnh đó ông cũng tin rằng trời là một lực lượng có thể chi phối số phận và hoạt động của con người. Do đó con người phải theo mệnh trời, Ông nói: “Người quân tử có ba điều sợ: sợ mệnh trời, sợ người có đức lớn, sợ lời nói của thánh nhân. Kẻ tiểu nhân không biết mệnh trời nên không sợ. Khinh thường người có đức lớn, khinh rẻ lời nói của thánh nhân”. “Mắc tội với Trời không thể cầu xin ở đâu được”. Khổng Tử rất coi trọng việc cúng tế, tang ma. Ông nói: “Tế thần coi như có thần”. Khi xét về đạo đức con người Khổng Tử coi trọng các mặt như nhân, lễ, nghĩa, trí, tín, trong đó nhân là quan trọng. Tuy nhiên, theo Khổng Tử, lễ không phải là nội dung hoàn toàn độc lập mà là một biểu tượng đạo đức luôn gắn liền với nhân. Mối quan hệ của nhân và lễ được biểu hiện như sau: Nhân là gốc, là nội dung, lễ là biểu hiện của nhân. Khổng Tử nói: “Người không có lòng nhân thì thực hành lễ sao được. Lễ không có nghĩa là lụa ngọc, cúng phẩm mà phải thể hiện sự cung kính hết mực”. Ở điểm khác Khổng Tử nói: “Cung kính mà không biết lễ thì mệt nhọc, cẩn thận mà không biết lễ thì nhút nhát, dũng cảm mà không lễ thì làm loạn, thẳng thắn mà không biết lễ thì làm Phật ý người khác”. (Thái Bá). Các môn đệ của Khổng Tử thường quan niệm rằng: Chữ lễ của Khổng gia chính là việc hiến tế tổ tiên. Họ chỉ ra rằng các nghi lễ ấy giúp cho việc chuyển hóa và cách tân đời sống. Các nghi thức là thuộc về phép tắc của trời đất. Thực hiện các nghi thức là phụng sự trời đất, là liên thông giao tiếp với các tổ tiên và làm cho xã hội hòa hợp. Trong một gia đình nho giáo, theo lệ thường có một bàn thờ bài vị tổ tiên cùng hình ảnh vị thần quan trọng của họ. Họ thường dâng cúng thức ăn, vàng mã, với hành xử cung kính như cúi lạy, phủ phục và cầu khẩn trong những dịp lễ. Giấy tiền vàng mã được dâng ở bàn thờ, bạc cho tổ tiên, vàng cho thần linh. Khấu lạy là hành vi chủ yếu bày tỏ sự cung kính. Số lần khấu lạy tùy theo vị đang được dâng cúng. “Bốn lần trước linh vị của tổ tiên, trước thần bếp chỉ hai lần, lại tới hàng trăm lần trước Ngọc Hoàng thượng Đế”.[6,179] Tóm lại Khổng Tử là người coi trọng mệnh trời (úy thiên mệnh), đồng thời ông kính trọng quỷ thần nhưng chỉ kính từ xa (kính quỷ thần nhi viễn chi) vì ông cho đó là một thế giới khó có thể hiểu và suy xét. Về con người ông cho rằng tri thiên mệnh là điều kiện thiết yếu để trở thành hoàn thiện. Con người hoàn toàn bị chi phối bởi thiên mệnh.

1.3- Đối tượng lễ bái trong Đạo Phật.

Đối với một Phật tử, khi nói đến đối tượng tôn kính của họ không gì khác là Tam Bảo, tức là Phật Pháp Tăng. Tuy nhiên, để có lợi ích trong sự tôn kính đó đòi hỏi người Phật tử phải có quan niệm về tam bảo như thế nào và thể hiện ra sao cho có nhân bản cũng như tăng trưởng được thiện pháp. Ở đây chỉ nói một cách khái quát mang tính gợi ý hơn là đào sâu và nghiên cứu. Do đó chỉ phác họa một vài nét như sau:

1.3.1- Tôn kính về Phật bảo:

Ngài được xem như là một đấng giáo chủ, một nhà cách mạng xã hội… Ngoài thập hiệu của Ngài (Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điệu Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật, Thế Tôn), còn có một định nghĩa ngắn gọn như sau: “Cho đến khi nào, này các Tỷ kheo, đối với sáu nội xứ (6 căn) ta đã như thật liểu tri vị ngọt là vị ngọt, nguy hại là nguy hại, xuất ly là xuất ly thì khi ấy đối với thế giới gồm có thiên giới, ma giới, phạm thiên giới, đối với quần chúng gồm sa môn, bà la môn, chư thiên và loài người ta xác chứng vô thượng chánh đẳng giác”[8,21] Với ý nghĩa đó Ngài là người đã được an ổn trước các khổ ách, đã nhận chân sự thật khổ đau hay tác hại của thế giới cảm quan và ý thức cũng như con đường thoát ly khỏi thế giới ấy.

Lại nữa, kinh Tương ưng nêu định nghĩa: “Như Lai, này các Tỷ kheo, là bậc A-la-hán chánh đẳng giác, do yểm ly sắc (thanh, hương, vị) ly tham, đoạn diệt được gọi là bậc giải thoát không chấp thủ” [7,122]. Ở một số bản kinh Ngài được gọi là bậc A-la-hán, nhưng là bậc A-la-hán chánh đẳng giác, bậc đạo sư của loài trời loài người.

Ở Bắc tạng Đức Phật được hiểu như là thực tướng, thực tánh, thực nghĩa của các pháp. Thực tướng ấy thì vô ngã tướng, rời hết thảy các tướng (ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả) rời hết tướng bị chấp thủ hay rời khỏi mọi chấp thủ. Kinh kim cương định nghĩa “Vô sở tùng lai diệc vô sở khứ”, “Như lai tức nhất thiết pháp như nghĩa”, “Nhất thiết pháp giai thị Phật pháp”. Dù ởũ Nam hay Bắc tạng, Phật là đồng nghĩa với giác ngộ, rờụi khỏi ái, thủ, vô minh, hiện thân của sự giải thoát khổ đau.[16,45]

Người Phật tử tôn kính Ngài tức là biểu lộ lòng khao khát được giác ngộ giải thoát như ngài, một con người đã giải thoát không nhờ vào gì khác ngoài nỗ lực và trí tuệ của bản thân.

1.3.2- Tôn kính đối với pháp bảo:

Pháp bảo hay lời Phật dạy là một chân lý tối thượng đối với người cần cầu giải thoát. Các bản kinh Pali thường nhấn mạnh về lời dạy của Phật: “Này các Tỷ kheo, đây là pháp của ta đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, vượt ra ngoài lý luận, dẫn người thực hành đến đoạn tận khổ đau, để người trí tự mình chứng nghiệm”. Người Phật tử bày tỏ sự tôn kính pháp bảo tức là biểu lộ lòng mong muốn đi theo con đường giải thoát ấy. [21,134]

1.3.3- Hình ảnh Tăng già:

Theo Phật học khái luận của TT Thích Chơn Thiện thì: Tăng hay Tăng già là dịch âm từ chữ Sangha của pàli, sanstrit có nghĩa là một nhóm người, một hội chúng sinh hoạt trong cùng một mục đích, một quy luật chung. Về sau, khi đoàn thể đệ tử của Thế Tôn ra đời, danh từ Tăng già thường dùng để chỉ hội chúng xuất gia của Thế Tôn, gồm Tỷ kheo, Tỷ kheo ni, Thức xoa ma na, Sa di, Sa di ni. Có khi chỉ gọi bốn chúng xuất gia. Do đó Tăng hay Tăng già còn được gọi là Tăng bảo, ngôi báu thứ ba trong ba ngôi báu Phật, Pháp, Tăng. [21,359]

Dù định nghĩa như thế nào thì hình ảnh Tăng già mãi mãi vẫn là viên ngọc quý giữa cuộc đời. Tăng già là người trực tiếp đem ánh sáng Phật pháp vào đời, là đại biểu duy nhất gìn giữ và xiển dương giáo pháp Đức Như Lai. “Những bậc đạt rõ ràng các thánh đế mà bậc trí tuệ thậm thâm đã giao truyền”[11]. Tăng già là nơi nương tựa an ổn cho thế gian. Một vị Tăng giữ giới, một vị Tăng thanh tịnh là ruộng phước cho nhân thiên. Chính vì vậy, Phật nêu lên ý nghiệp ban đầu cho người cư sĩ là kính trọng tin tưởng Tăng già. Thái độ này đủ để đưa họ về thiên giới. Chỉ đơn giản, tâm kính trọng phát khởi thì tâm ngã mạn biến mất, điều đó nói lên sự lợi lạc của lòng tôn kính. Vì tâm ngã mạn là độc tố khiến con người trở thành thấp hèn, người Phật tử xây dựng nếp sống cao thượng bắt đầu bằng thái độ khiêm hạ trong cuộc sống. Tâm khiêm hạ đó có được là nhờ vào sự kính trọng của minh đối với bậc đáng kính trọng. Không thể có tâm khiêm hạ khi lòng kính trọng vắng bóng. Khi tâm khiêm hạ đặt đúng nơi, đúng đối tượng thì một công đức lớn đã thành tựu. Trong Kinh tăng chi II, Đức Phật nói đến năm lợi lạc do thân cận với một vị xuất gia như sau:

“Khi nào, này các Tỷ kheo, các người xuất gia giữ giới đi đến với gia đình cư sĩ, tại đây do năm trường hợp người cư sĩ được nhiều công đức. Thế nào là năm?
Khi nào, này các Tỷ kheo, các người xuất gia giữ giới đi đến với nhà cư sĩ, khi trông thấy những vị xuất gia giữ giới này tâm họ được tịnh tín. Này các Tỷ kheo, như vậy trong lúc ấy gia đình kia đã đặt chân trên con đường đến cõi trời.
Khi nào, này các Tỷ kheo, các người xuất gia giữ giới đi đến với gia đình cư sĩ, khi trông thấy những vị xuất gia giữ giới này, họ đứng dậy đảnh lễ và mời ngồi. Này các Tỷ kheo, như vậy trong lúc ấy gia đình kia đặt chân lên con đường đưa đến sự cao sang.
Khi nào, này các Tỷ kheo, các người xuất gia giữ giới đi đến với gia đình cư sĩ, khi trông thấy những vị xuất gia giữ giới này, họ từ bỏ cấu uế của xan tham. Này các Tỷ kheo, như vậy trong lúc ấy gia đình kia đã đặt chân trên con đường đưa đến đại uy lực.
Khi nào, này các Tỷ kheo, các người xuất gia giữ giới đi đến với gia đình cư sĩ, khi trông thấy những vị xuất gia giữ giới này, họ tùy theo khả năng, tùy theo năng lực liền san sẻ vật bố thí. Này các Tỷ kheo, như vậy trong lúc ấy gia đình kia đã đặt chân trên con đường đưa đến tài sản lớn.
Khi nào, này các Tỷ kheo, các người xuất gia giữ giới đi đến với gia đình cư sĩ, khi trông thấy những vị xuất gia giữ giới này, họ thưa hỏi những câu hỏi, lắng nghe chánh pháp. Này các Tỷ kheo, như vậy trong lúc ấy gia đình kia đã đặt chân trên con đường đưa đến đại trí tuệ.
Khi nào, này các Tỷ kheo, các người xuất gia giữ giới đi đến với gia đình cư sĩ, tại đây do năm trường hợp, học được nhiều công đức”.
[1,246]

Tục ngữ có câu “Trọng thầy mới được làm thầy”, điều này muốn nói lên luật nhân quả. Nếu đối xử với người khác bằng tâm khinh miệt thì sẽ trở thành kẻ hèn kém. Nếu khởi ác tâm thì sẽ trở thành chúng sanh xu hướng về địa ngục ngạ quỷ. Nếu nuôi dưỡng thiện tâm thì trở thành chúng sanh sinh về cõi trời. Ở đây chúng ta phải hiểu rằng bên trong chiều sâu tâm linh tác động nhân quả rất sâu sắc, những cảnh giới an lạc hay đau buồn luôn hiện hành từ tâm.

Nói tóm lại, nếu chúng ta hiểu đúng giá trị và ý nghĩa của Tam Bảo, mỗi khi chúng ta cung kính, lễ bái, tất cả việc làm ấy đều nhắm đến giải thoát và hoàn thiện nhân tính. Để thấy được ý nghĩa đó chúng ta thường xem một vài lời dạy của Thế tôn qua bản kinh Thiện sanh.

1.3.4- Đức Phật dạy qua kinh Thiện sanh.

Khi đức Thế Tôn đi khất thực ở thành La Duyệt Kỳ, ngài trông thấy con trai của một trưởng giả tên Thiện Sanh đi đến khu vườn công cộng hướng đến các phương Đông, Tây, Nam, Bắc, Trên, Dưới lễ lạy khắp cả. Ngài hỏi lý do việc làm ấy và chàng thanh niên Thiện Sanh cho biết ông làm đúng theo di chúc của người cha. Phật Bảo Thiện Sanh: “Này con trai trưởng giả! Quả có cái tên các phương đó chứ không phải không, nhưng trong pháp của bậc hiền thánh chẳng phải lễ sáu phương như thế là cung kính đâu”. Thiện Sanh thưa: “Cúi xin Đức Thế Tôn thương dạy cho con cách lễ sáu phương theo pháp của hiền thánh”. Thế Tôn dạy…” ngươi nên biết ý nghĩa sáu phương. Sáu phương là gì?

1. Phương Đông là cha mẹ
2. Phương Nam là sư trưởng
3. Phương Tây là thê thiếp
4. Phương Bắc là bạn bè thân thích
5. Phương trên là các bậc trưởng thượng, Sa môn, Bà la môn.
6. Phương dưới là tôi tớ”

Đức Thế tôn muốn chỉ dạy cho Thiện Sanh sự cung kính một cách thiết thực và ý nghĩa.

Đảnh lễ phương đông: Ở đây Đức Phật dạy phương Đông là Cha Mẹ. Điều đó không gì khác là sự hiếu thuận và phụng dưỡng cha mẹ. Đạo Phật thường nói “Cha mẹ tại tiền như Phật tại thế”. Đối với Ấn Độ giáo, quan niệm cha mẹ như thượng đế, là đấng tối cao nhất của nhân sinh. Đức Thế Tôn dạy phương pháp đảnh lễ đó bằng những việc làm thiết thực nhất, có ý nghĩa và lợi lạc ngay hiện tại. “Những ai đền ơn cha mẹ bằng cách nuôi dưỡng dâng cúng với của cải vật chất tiền bạc thì không bao giờ đủ để đáp đền ơn cha mẹ. Nhưng này các Tỷ kheo, ai đối với cha mẹ không có lòng tin Tam Bảo thì khuyến khích cho có lòng tin Tam Bảo, đối với cha mẹ sống tà giới, thì khuyến khích vào chánh giới, đối với cha mẹ sinh khởi tham, thì khuyến khích bố thí, đối với cha mẹ tà kiến thì khuyến khích vào chánh kiến, cho đến như vậy này các Tỷ kheo, là làm đủ và đáp ơn đủ cho cha mẹ”[2,75] Những yếu tố sau đây được Đức Thế Tôn dạy trong kinh Thiện sanh:

Con cái phải có năm bổn phận đối với cha mẹ:

Cung phụng không để thiếu thốn
Muốn làm gì thưa cha mẹ biết
Không trái điều cha mẹ làm
Không trái điều cha mẹ dạy
Không cản chánh nghiệp cha mẹ làm

Đảnh lễ phương Nam là đảnh lễ sư trưởng:

Đức Phật chỉ dạy phương pháp thiết lập mối quan hệ hiếu đạo giữa thầy và trò. Bởi lẽ, sinh ta là cha mẹ, tác thành cho ta nên người, có lợi ích, có địa vị trong xã hội không nơi đâu khác là học đường, là bậc sư trưởng. Chính nơi đó tạo cho ta nghề nghiệp vững vàng để mưu sinh, dạy cho ta nhân cách làm người. Điều đó được thể hiện qua những yếu tố sau:

Hầu hạ cung cấp điều cần
Kính lễ cúng dường
Tôn trọng quý mến
Thầy có dạy bảo điều gì, không trái nghịch
Thầy có dạy bảo điều gì, nhớ kỹ không quên.

Kẻ làm đệ tử cần phải thờ kính sư trưởng với năm điều ấy.

Đảnh lễ phương Tây là đối xử tốt với thê thiếp:

Đây là mối quan hệ giữa vợ và chồng. Mỗi gia đình là một xã hội thu nhỏ, mỗi cá nhân là một tế bào của xã hội, mối quan hệ này nếu tốt đẹp thì xã hội sẽ tốt đẹp. Đạo Phật có đặc thù khác với các tôn giáo khác là xây dựng tình thương bằng hành động thiết thực và từ tâm. Hạnh phúc vợ chồng không thể có ở sự miễn cưỡng, bắt ép. Nó phải được xây dựng qua những nghĩa cử sau:

Chồng đối với vợ:

Lấy lễ đối đãi nhau
Oai nghiêm không nghiệt
Cho ăn mặc phải thời
Cho trang sức phải thời
Phó thác việc nhà


Đáp lại người vợ dùng năm cách để đối đãi với chồng:

Dậy trước
Ngồi sau
Nói lời hòa nhã
Kính nhường tùy thuận
Đón trước ý chồng

Đó là những yếu tố tôn trọng lẫn nhau giữa vợ chồng, tuyệt đối cần thiết cho hạnh phúc lứa đôi và hạnh phúc gia đình nói chung. Thay vì chỉ là một lời nói suông hay thực thi theo một phong tục tập quán mơ hồ như Thiện sanh, nếu con người sống thực tế như lời Đức Phật dạy thì cuộc sống sẽ hòa ái, an ổn, thanh bình,  không còn lo sợ.

Đảnh lễ phương Bắc là đối xử tốt với bạn bè, thân thích:

Dù sống ở đâu con người cũng phải theo quy luật cộng sinh mới tồn tại, cả loài vật cũng vậy. Theo nghĩa này, Đức Phật dạy về mối quan hệ với bạn bè cũng như người thân trong gia đình, họ hàng làng nước của chúng ta. Mối quan hệ này có giá trị rất lớn cho sự tồn tại và thăng tiến của mỗi cá nhân. Nhờ có mối quan hệ bạn bè mà cuộc sống trở nên có ý nghĩa và thi vị. Tục ngữ có câu “Giàu nhờ bạn, sang nhờ vợ”. Cuộc sống có tốt đẹp hay không một phần nhờ vào sự thực hiện tốt các mối quan hệ giữa con người và con người. Đối với bạn bè, thân thích, Đức Phật khuyên như sau:

Chu cấp
Nói lời hiền hòa
Giúp đạt mục đích
Đồng lợi
Không khi dối


Ngược lại bạn bè thân thích cũng có năm điều đối lại:

Che chở cho mình khỏi buông lung
Che chở cho mình khỏi hao tài vì buông lung
Che chở khỏi sự sợ hãi
Khuyên răn nhau lúc ở chỗ vắng người
Thường ngợi khen nhau

Đảnh lễ phương dưới là đối xử tốt với tôi tớ:

Đây là mối quan hệ giữa người chủ với người giúp việc, tôi tớ, giữa người lãnh đạo với công nhân của mình. Nhất là trong xã hội hiện đại hóa, nhiều công ty doanh nghiệp đang phát triển. Gia đình nào cũng có người giúp việc.

Thiết nghĩ đây là một phương pháp bảo tồn mối quan hệ trên tốt đẹp lợi lạc nhất. Trong lịch sử, từ ngàn xưa cho đến nay, các cuộc thay ngôi đổi vị, bất đồng chính kiến, mâu thuẩn xung đột là do mối quan hệ này không được đảm bảo. Chủ và tớ, chủ doanh nghiệp với công nhân, người thi hành luật pháp với nhân dân, nếu xẩy ra xung đột thì tổ chức sẽ sụp đổ hay tồn tại một cách èo uột. Do đó, muốn giữ vững tổ chức đòi hỏi phải thiết lập mối quan hệ đó trên phương diện đạo đức. Về phương diện này, Đức Phật dạy như sau:

Năm điều sai bảo của chủ đối với tớ:

Tùy khả năng mà sai sử
Phải thời cho ăn uống
Phải thời thưởng công lao
Thuốc thang khi bệnh
Cho có thời giờ nghỉ ngơi


Bên cạnh đó người làm cũng có năm điều thiết yếu để cung kính đối đãi phụng sự chủ của mình:

Dậy sớm
Làm việc chu đáo
Không gian cắp
Làm việc có lớp lang
Bảo tồn danh giá chủ.

Đức Phật dạy rằng “Này Thiện Sanh, nếu chủ đối với tớ được như vậy thì phương ấy an ổn không điều chi lo sợ”.

Đảnh lễ phương trên là đảnh lễ các bậc trưởng thượng, sa môn, bà la môn:

Đây là yếu tố để giữ vững mối quan hệ tốt đẹp giữa tu sĩ với cư sĩ.

Tăng già, những bậc chân tu, là người kế thừa mạng mạch của Như lai, là người truyền bá chánh pháp của Chư Phật. Đời sống của chư Tăng là đời sống của pháp, mỗi cử chỉ hành động, lời nói của họ đều khế hợp với Phật pháp và mang ý nghĩa phụng sự đạo pháp. Cuộc sống tu sĩ giản dị nhưng thanh cao, là suối nguồn cho dòng chảy Từ Bi. Chính vì vậy kính lễ tu sĩ là kính lễ chánh pháp, hộ trì tu sĩ là hộ trì chánh pháp. Được như vậy là đóng góp vào việc xây dựng an lạc cho cuộc đời và cho tự thân người hộ trì. Phương pháp đó được đức Thế Tôn dạy như sau:

Người cư sĩ đối với tu sĩ:

Thân hành từ ái
Khẩu hành từ ái
Ý hành từ ái
Đúng thời cúng dường
Không đóng cửa khước từ


Ngược lại người cư sĩ được chỉ dạy những điều sau:

Ngăn ngừa chớ để làm ác
Chỉ dạy điều lành
Khuyên dạy với thiện tâm
Cho nghe những điều chưa nghe
Những gì đã được nghe làm cho hiểu rõ
Chỉ vẽ con đường sanh thiên.

Tóm lại, đối tượng thờ lạy của con người rất đa dạng, từ tín ngưỡng vật linh của những bộ tộc nguyên thuỷ đến thuyết đa thần của các dân tộc sơ khai, chủ trương nhất thần và thuyết thiên mệnh của các xã hội văn minh… tất cả đều trở thành đối tượng nương tựa và tuân phục của con người. Phần lớn các tôn giáo trên thế giới đều được xây dựng trên cơ sở lòng tin. Nhìn chung, mỗi hình thức tín ngưỡng hay tôn giáo đều có đối tượng tôn kính riêng, thể hiện lòng khát ngưỡng hoàn thiện của con người. Riêng với Đạo Phật, đối tượng tôn kính là tam bảo; Phật, Pháp, Tăng, biểu trưng tính chân thiện trong cuộc đời mà mỗi con người đều có khả năng hoàn thiện. Người Phật tử thể hiện sự tôn kính tam bảo tức là họ đang quay về với chính mình và phát huy khả năng hoàn thiện ấy trong mỗi sắc thái và hành động.
  
CHƯƠNG 2: HÌNH THỨC LỄ BÁI

Đi đôi với đối tượng tôn kính những hình thức lễ bái được tìm thấy trong các tôn giáo. Tuy nhiên, tùy phong tục tập quán của mỗi quốc độ, mỗi tôn giáo, mỗi địa phương mà có nhưng hình thức lễ bái khác nhau. Chính vì vậy trong xã hội không ít hình thức lễ bái mang tính dị đoan, thiếu trí tuệ và không lợi ích gì cho cuộc sống. Đạo Phật không chủ trương sự cầu khẩn, mặc khải hay dựa vào thế lực khác mà chính mỗi người phải nhận lấy trách nhiệm trước lời nói, ý nghĩ và hành động của mình. Đạo Phật xem hình thức lễ bái chỉ là phương tiện, vận dụng phuơng tiện ấy để đạt đến thanh tịnh và giác ngộ. Hình thức và nội dung, hay phương tiện và mục đích phải tương thích mới đạt đến kết quả cao. Để hiểu được điều đó, người viết trình bày sơ lược một vài hình thức lễ bái được tìm thấy trong một số tôn giáo.

2.1 - Hình thức lễ bái trước thời Đức Phật:

Ở Ấn Độ, như chúng ta biết, có nhiều tôn giáo và tín ngưỡng mà đấng tối cao là đối tượng tôn kính tuyệt đối của các tín đồ. Người Ấn biểu lộ sự tôn kính của mình dưới nhiều hình thức. Về sau, Đạo Phật cũng ít nhiều chịu ảnh hưởng bởi các hình thức này. Một vài hình thức lễ lạy cơ bản trong Đạo Phật giúp chúng ta hình dung được cách lạy của người Ấn Độ. Lúc đức Thế Tôn còn tại thế, các đệ tử khi gặỉp Ngài đều quỳ xuống đặt đỉnh đầu lên hai bàn chân của Ngài. Hai bàn tay trãi ra như đang nâng chân đức Thế Tôn, thể hiện sự chí kính của mình. Người Ấn có các cách lạy tiêu biểu sau:

Tồn cứ lễ: Nghĩa là lễ bái bằng cách một chân quỳ lạy. Thỉnh thoảng ta cũng gặp một vài kinh hay hình ảnh trong tượng cổ mô tả cách lạy này.

Khởi cử lễ: Nghĩa là dùng nghi thức bước một bước lễ một lạy. Sau này ở Trung Quốc thường xử dụng và có tên gọi là “Nhất bộ nhất bái” hay “Tam bộ nhất bái”

Hữu nhiễu tam thất lễ: Nghĩa là lễ một lạy rồi đi nhiễu ba vòng về phía bên hữu của đối tượng cung kính đó.

Tạ lễ: Nghĩa là lễ bái bằng cách ngồi xuống đất cúi đầu lạy, tức là lạy bằng cách ngồi.[9,82]

Trong Phật giáo Tây Tạng, lạy Phật là một pháp mơn tu căn bản. Trước khi nhập thất các vị Lạt Ma lạy một trăm ngàn lạy, trong ba tháng mười ngày. Đây là một sự chuẩn bị cho thời gian hạ thủ cơng phu trên hai phương diện thân và tâm. Cách lạy của người Tây Tạng cũng khác với chúng ta là họ lạy nằm dài hết cả người xuống đất. Cĩ nhiều người dùng tấm ván lót lạy, tấm ván trở nên bĩng nhống, hai chỗ bàn tay chạm lỏm xuống sâu. Ở nước ta, cĩ đạo Cao Đài cũng có nhiều cách lạy đáng chú ý chẳng hạn như lạy nhất kỳ, nhị kỳ, Tam kỳ, lạy đức Chí tơn, lạy đức Phật Mẫu, lạy thần thánh… nhìn chung các hình thức lễ lạy như sau: Đứng thẳng người, mắt hướng vào thiên bàn, tay bắt ấn tý, xá sâu ba xá, chân trái bước tới, chân phải quỳ xuống, chân trái quỳ theo. Đưa ấn tý lên trán niệm Nam mơ Phật, đưa qua bên trái niêm Nam mơ Pháp, đưa bên phải niệm nam mơ Tăng. Cơ bản là như vậy.

2.2- Hình thức lễ bái trong Nhân gian:

Thờ cúng và lễ bái là một đạo lý truyền thống của các dân tộc trên thế giới. Trong các triều đại quân chủ, thờ cúng lễ bái được xem là nghĩa cử cao đẹp nhất mà con người thể hiện đối với tiền nhân. Bởi vậy trong cơ cấu triều chính có riêng một bộ đặc trách việc thờ cúng lễ bái gọi là bộ lễ. Tuy vậy cách lạy của họ thường rơi vào ba động cơ sau:

1.  “Ngã mạn lễ: Nghĩa là người lạy vì hồn cảnh bắt buộc phải hành lễ nhưng thâm tâm của họ không muốn lạy, do đó họ lạy với cử chỉ ngạo nghễ, thái độ kiêu căng, không phải là lễ độ cung kính. Đầu lạy khơng sát đất, đứng lên cúi xuống cẩu thả cho qua việc. Có thể họ vì sợ mất thể diện với bạn bè hoặc sợ dơ bẩn quần áo quý giá của mình nên buộc lòng phải lễ bái theo kiểu ngã mạn. sợ chê là bất hiếu, bất trung… cũng như quý trọng quần áo và bạn bè hơn ơng bà tổ tiên. Cách lạy đó gọi là ngã mạn lễ.

2. Cầu danh lễ: Nghĩa là người lạy vì cầu danh vọng, quyền tước qua sự chú ý và ngợi khen của cấp trên cũng như lấy lịng quần chúng ủng hộ. Khi cĩ cấp trên hay quần chúng chú ý thì họ lễ lạy còn không thì họ biếng nhác và giải đãi. Như vậy họ lễ lạy vì mọi người chứ không phải cho chính họ.

3. Thân tâm cung kính lễ: Nghĩa là người lễ lạy thể hiện thân tâm cung kính thật sự”.

Nghi thức là một yếu tố quan trọng cho cuộc sống, bởi vậy từ ngàn xưa Trung Hoa đã hình thành nên cuốn kinh lễ. trong Khổng gia xưa nay, người ta rất coi trọng nghi thức và nghi lễ. Họ xem xét kỹ lưỡng việc dùng các lễ nghi và hiểu rằng lễ nghi giúp cho việc chuyển hĩa, cách tân đời sống. Họ cho rằng nghi thức là thuộc về phép tắc của trời đất, thực hiện nghi thức tức là phụng sự trời đất, là liên thơng giao tiếp với các tổ tiên và làm cho xã hội hịa hợp. Đây cũng là mặt tiêu biểu của đời sống gia đình và cộng đồng, một đời sống gắn với nguyên tắc hệ thống thứ bậc và quan hệ xã hội. Lễ bái còn là một đạo nghĩa nhằm tiêu biểu ý chí tơn kính, tưởng niệm đến ân đức sâu dày của tổ tiên ông bà, nhắc nhở mọi người làm trịn bổn phận con cháu tông môn. Dưới đây là một vài hình thức tiêu biểu:

Theo Khổng giáo, hình thức con người đứng thẳng là tiêu biểu cái uy của kẻ sĩ. Hai tay cung thủ nghĩa là hai tay nắm lại nhau tiêu biểu cho cái dũng của thánh nhân. Trước khi lạy hai tay cung thủ đưa lên trán, kế đến đưa sang phải, rồi đưa sang trái là tiêu biểu cho tam tài (trời, đất và người). Khi lạy, hai tay cung thủ chống lên đầu gối chân mặt và quỳ chân trái xuống trước là tiêu biểu cho sự tơn kính mà khơng mất tư thế cái uy dũng của kẻ sĩ. Cúi đầu xuống đất là tiêu biểu cho sự cung kính những bậc mà mình đảnh lễ. Đó là cung cách và ý nghĩa tổng quát mà khổng giáo quan niệm.

2.3 - Hình thức lễ bái trong Đạo Phật:

Lễ bái là một nghĩa cử cao đẹp trong việc đặt niềm tin và quy ngưỡng hướng về Chư Phật, chư Bồ Tát và chư Hiền Thánh Tăng. Quỳ lạy tức biểu lộ đức tánh khiêm tốn và để tỏ lòng tri ân, báo ân mà người Phật tử hằng tạc dạ ghi tâm, ân triêm công đức. Bên cạnh đó, trong Phật giáo sự lễ bái còn tiêu biểu nhiều ý nghĩa khác như chánh quán lễ, phát trí thanh tịnh lễ, thật tướng bình đẳng lễ và biến nhập pháp giới lễ. Trước hết chúng ta chỉ đề cập đến cách lễ bái của hàng Phật tử, còn những cách trên sẽ được trình bày ở chương ý nghĩa.

2.3.1-  Cách lạy của người Phật tử:

Trong Đại Đường Tây vức ký quyển 2 ghi; Ấn Độ có 9 cách lạy được gọi là Tây vức cửu nghi như sau:

Phát ngôn úy vấn lễ: Nghĩa là lễ bái bằng cách mở lời vấn an
Phủ thủ thi kính lễ: Lễ bái bằng cách cúi đầu xuống
Cử thủ cao ấp lễ: Nghĩa là lễ bái bằng cách dơ tay cao vái chào
Hiệp chưởng bình cung lễ: Nghĩa là lễ bái bằng cách chấp tay ngang bằng vái chào đối tượng thi lễ.
Khuất tất lễ: Nghĩa là lễ bái bằng cách quỳ gối.
Trường quy lễ: Nghĩa là lễ bái bằng cách quỳ nằm dài ra.
Thủ tất cứ địa lễ: Nghĩa là lễ bái bằng cách hai tay và hai đầu gối quỳ sát đất.
Ngũ luân cu khuất lễ: Nghĩa là lễ bái bằng cách năm vóc đều cúi xuống.
Ngũ thể đầu địa lễ: Nghĩa là lễ bái bằng cách năm vóc gieo xuống đất.

Chín cách lạy này về sau đã đi vào Phật giáo, thỉnh thoảng vẫn thấy sử dụng ở một số tông phái.

2.3.2- Cách lạy của bậc Đại Thừa Bồ Tát:

Cách lạy này còn gọi là cách lạy của thánh giáo, thuộc về lý. Mục đích là thể nhập pháp giới tánh của chư Phật. Tức là thế giới thuộc về pháp tánh của chư Phật an trụ và thấy thẳng được Phật thân, thấy được pháp thân thanh tịnh của chư Phật.

- Chánh quán lễ: Nghĩa là quán chiếu pháp thân chân chính của chư Phật hiện ra trước mặt. Vận dụng thiền quán chiếu soi Phật thân hiện ra trước mặt để lễ lạy.

- Phát trí thanh tịnh lễ: Với người thực hành thiền định phải tu tập thiền quán cho đến khi trí tuệ thanh tịnh phát sanh từ nơi chân tâm mà không phải trí tuệ thanh tịnh phát sanh từ nơi thức tâm. Khi trí huệ thanh tịnh phát sanh từ chân tâm là Phật trí trong bản tâm thanh tịnh của mình và dùng nó để đảnh lễ pháp thân chư Phật trong mười pháp giới. Pháp thân của chư Phật trong mười pháp giới đều phát sanh từ nơi bản tâm thanh tịnh, trí tuệ thanh tịnh của mình cũng phát sanh từ nơi bản tâm thanh tịnh chung của mười pháp giới. Do đó, người lễ bái một đức Phật là lạy tất cả chư Phật trong mười phương không ngăn ngại.

- Thật tướng bình đẳng lễ: Cách lạy này phải dùng trí tuệ để quán chiếu thật tướng của vạn pháp thể hiện một cách bình đẳng, không sai biệt. Không có nhân, ngã, bỉ và thử. Người lễ bái không thấy có mình lạy và người để cho mình lạy. Dùng trí tuệ quán chiếu thật tướng vạn pháp để nhận thấy rằng: Mình và người, thể và dụng, phàm và thánh thảy đều vắng lặng không hai.

- Biến nhập pháp giới lễ: Tức là vận dụng trí tuệ bát nhã thanh tịnh của mình quán chiếu thân và tâm nơi chính mình biến nhập vào pháp giới tánh của vạn pháp một cách dung thông. Pháp giới tánh không bờ mé, là nơi Chư Phật thường an trụ để hiện thân hóa độ chúng sanh.

Mỗi tôn giáo, tín ngưỡng hay xã hội đều có những hình thái lễ nghi tôn kính khác nhau, thể hiện ước vọng tôn kính của con người đối với những đối tượng mà họ nhận thấy đáng tôn kính, trân trọng và tri ân. Đối với Đạo Phật, lễ bái, nghi lễ được xem là một phương tiện, vừa thể hiện nghĩa cử cao đẹp trong cuộc sống, vừa phản ánh một động thái chánh niệm của người Phật tử trong quá trình tu tập hướng đến giải thoát giác ngộ.

Chương 3: Ý NGHĨA LỄ BÁI

Khổng Tử nói: “Trị dân bằng quyền hành, chỉnh dân bằng hình phạt, dân tránh điều lỗi nhưng không biết hổ thẹn. Trị dân bằng đức hạnh, chỉnh dân bằng lễ, dân biết khổ hạn mà sửa mình”. Cuộc sống nếu không có nguyên tắc đạo đức thì tất cả sẽ bị rối loạn và hủy diệt. Nguyên tắc đạo đức không những giúp cho xã hội thanh bình mà còn bảo đảm sự phát triển và tồn tại lâu dài hơn. Nguyên tắc ấy bắt nguồn từ ý niệm tôn kính và nó bao trùm tất cả các mối quan hệ khác. Khổng Tử đã đặt chữ lễ vào trung tâm của hệ thống đạo đức mà ông đề xướng, nó còn có giá trị xứng hợp trong phạm vi các quan hệ xã hội. Truyền thống nho giáo cho rằng cả trời đất cũng nhờ lễ mà tồn tại, cũng là khuôn mẫu cho các quan hệ xã hội. Theo nguyên tắc này người ta luôn luôn cư xử một cách kính trọng đối với người khác. Mỗi con người đều có liên hệ với tất cả những người khác trong xã hội, do đó vai trò và bổn phận của cá nhân rất quan trọng. Khổng Tử nói: “Vua phải ra Vua, bề tôi ra bề tôi, cha ra cha con ra con”[15,126]. Khổng giáo không viện đến luật của Thượng Đế mà tìm thấy ở những hành vi đạo đức và nghi lễ trong đời sống xã hội. Đây là những công cụ đầy quyền năng cho sự tự chuyển hóa mình và môi trường xung quanh. Cả nghi lễ và phép tắc về lễ, thực ra đều được rứt ra từ những mô hình phổ biến trong toàn bộ thực tại. Tuân Tử nói rằng: “Thông qua lễ mà trời và đất hòa hợp, mặt trăng và mặt trời tỏa sáng, bốn mùa tuần tự và tinh tú giữ đường đi của chúng, các dòng sông trôi chảy và vạn vật nảy nở, lòng yêu lòng hận bốc lên, lòng vui lòng giận kềm chế. Lễ khiến cho kẻ dưới phục tùng và kẻ trên có danh tiếng… chẳng phải lễ là chỗ tột cùng của văn hóa đó sao?” hoặc “Lễ nghĩa liêm sĩ là bốn cái giường để duy trì giữ vững quốc gia. Bốn giường vó ấy nếu không căng được lên, nghĩa là người trong nước vô lễ, vô nghĩa, vô liêm sỉ thì quốc gia sụp đổ và diệt vong” [13,309]

Đối với người học Phật, vấn đề lạy Phật là một phương tiện hết sức thù thắng, giúp cho hành giả tăng trưởng thiện pháp và thể nhập Phật tánh. Lại nữa, pháp môn này nếu được xây dựng trên niềm tin, thì có thể phát sinh tất cả công đức mà người học Phật đang mong cầu.

                   “Tín vi đạo nguyên công đức mẫu
                   Trưởng dưỡng nhất thiết chư thiện căn
                   Thoát ly sanh tử, xuất mê lưu
                   Trực vãng niết bàn vô thượng đạo”

           
        (Tín là nguồn đạo, là mẹ công đức
                   Nuôi dưỡng căn lành làm cho lớn mạnh
                   Giải thoát sanh tử, ra khỏi dòng mê
                   Đến thẳng niết bàn, chứng vô thượng tuệ)


Việc lễ Phật với lòng chí thành chí tín khiến cho hành giả phát triển hạnh lành và loại bỏ tà niệm. Lạy Phật ở đây không phải van xin tha tội hay cầu một sự cứu rỗi nào đó, mà lạy Phật sẽ thu nhận được những thiện pháp như sau:

3.1- Sự tôn kính trong lễ bái:

Mỗi con người sống trong xã hội phải có sự tương duyên. Trong sự tương duyên đó con người được tồn tại và phát triển. Do đó, cuộc sống hay sự tồn tại của mỗi người đã mang ý nghĩa hàm ơn. Nếu thiếu sự tôn kính thì đạo đức không còn và muôn vật không tồn tại. Nhưng nếu con người chỉ biết bảo vệ bản ngã, tự cao, cứ cho ta là trung tâm của vũ trụ, không biết thừa nhận bản chất duyên sinh của hiện hữu thì không thể tiếp nhận sự tiến bộ về đạo đức tâm linh và dễ rơi vào các hành động bản năng. Nếu một người biết tôn kính điều tốt thì ngay từ ý niệm ban đầu họ đã phát sinh thiện pháp và nhất định sẽ đạt được điều đó. Chẳng hạn như khi lạy Phật, chư vị bồ tát, các bậc tôn túc thì nghĩ rằng mình không bì kịp các ngài, động lòng trắc ẩn, cảm thấy hổ thẹn, bấy giờ tâm lý ngã mạn biến mất. Thấy được mình quá ư nhỏ bé, thấp hèn thì lòng khiêm hạ phát sanh, đó chính là công đức. Bên cạnh đó, sự cung kính vì nhớ ân trọng nghĩa thì linh khí kẻ mất người còn giao cảm nhau, hổ tương và chuyển hóa cho nhau. Như vậy người tôn kính đó sẽ dễ thành tựu được những gì như đấng họ tôn kính đã thành tựu. Vì không nắm bắt được ý nghĩa của sự tôn kính và lễ lạy, không ít Phật tử thường hiểu chư Phật, Bồ tát, thánh hiền như một vị thần linh có quyền ban phước giáng họa và do đó họ tỏ lòng tôn kính chỉ vì mục đích cầu xin. Chúng ta phải hiểu chư Phật là bậc giải thoát, bậc toàn trí chứ không phải toàn năng. Cảm cái ân của ngài vì lòng từ bi muốn cho nhân loại nhận chân thực tại để thoát ly ràng buộc khổ đau mà ta kính lễ ngài. Bởi vậy sự tôn kính, sự lễ lạy phải hợp với lý vô thường, luật nhân quả nghiệp báo, chứ không thần thánh hóa hay mê tin dị đoan; có vậy mới có cơ hội sửa mình và noi gương ngài.

Đối với Phật Pháp, tôn kính hay lạy pháp chính là tỏ lòng biết ơn và thành kính trước những lời dạy của Phật, vì đó là kim chỉ nam giúp chúng ta thoát khỏi khổ đau. Trong cuộc sống nếu thực thi lễ lạy theo tinh thần đó thì sẽ thoát ly được sanh tử và nhất định đạt được trạng thái niết bàn ngay trong đời hiện tại.

Lạy và tôn kính Tăng vì đó là hình ảnh lý tưởng, là hàng ngũ tình nguyện thay Phật dẫn dắt chúng sanh trên đường đạo. Hơn nữa Tăng là mẫu người lý tưởng của xã hội, sống xả ly, ly dục, bất vị kỷ để bảo tồn chân hạnh phúc và ánh đạo cho đời. Chính vì hiểu như vậy nên chúng ta kính lễ và tôn vinh. Đạo Phật chủ trương tự giác và cũng có nghĩa là giác tha. Một văn hào Tây phương