Tư tưởng Phật tại tâm của Vua Trần Thái Tông - Thích Chúc Minh - Chùa Bửu Châu - Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam

chuabuuchau.com.vn,chuabuuchau, chua buu chau, chùa bửu châu, chua buu chau cu chi

Tư tưởng Phật tại tâm của Vua Trần Thái Tông - Thích Chúc Minh

TƯ TƯỞNG PHẬT TẠI TÂM CỦA VUA TRẦN THÁI TÔNG
Thích Chúc Minh

Kết quả hình ảnh cho Vua Trần Thái TôngA. DẪN NHẬP
Chúng ta hãy ngược dòng thời gian nhìn lại những trang sử hào hùng của lịch sử dân tộc Đại Việt hay những triều Đại mà Phật giáo nước nhà phát triển mạnh, nhất là thời đại nhà Trần. Trong quá trình phát triển lịch sử Phật giáo Việt Nam, dưới triều Đại nhà Trần đã thể hiện rõ sức sống tự lực, tự cường với tinh thần độc lập của dân tộc, không giùn chân, không khiếp sợ trước uy quyền hay một thế lực ngoại ban nào cả, mà thể hiện rõ tính dân tộc của người Việt. Đồng thời, nó đã đi đúng hướng, đúng đường lối của đạo Phật dung hợp với bản sắc văn hoá dân tộc để tạo nên nét đặc thù cho lịch sử Việt Nam, cho nền triết học phương đông đồng thời cũng như là nền văn học Việt Nam dưới thời Trần. Con đường này phù hợp với quy luật phát triển tâm thức, để phát sinh tuệ giác và trở về với cái tâm thức thanh tịnh vốn có ban đầu, đưa con người đến chổ giác ngộ, giải thoát ngay trong đời hiện tại.

Theo tư tưởng Phật tại lòng của vua Trần Thái Tông tức là nói đến Phật tính trong nhân tính hay đồng nhất tính. Tư tưởng này góp phần xây dựng đạo đức xã hội, mang lại sự bình an và hạnh phúc cho con người. Thực hành theo con đường đạo Phật là con đường chuyển hoá nội tâm theo quy luật trở về đồng nhất thể với tâm Phật tức là lấy từ bi làm bản thể cho hành động tạo tác của thân, khẩu, ý, theo quy luật vận hành của vũ trụ và nhân sinh. Vì thế, người Phật tử đến với đạo Phật không phải bằng niềm tin, mà đến để thấy, để nghe, để sống, để khai mở tâm thức, từ đó có thể nhận ra bản chất thực về sự vận hành của vũ trụ nhân sinh, những lẽ thật, những nguyên lý, những quy luật đang tác động chi phối trong cuộc sống đó là luật nhân quả, luật vô thường và lý duyên sinh.

Đối với đạo Phật muốn thay đổi cuộc sống từ khổ đau, bất hạnh đến an vui hạnh phúc, thì phải chuyển hoá nội tâm của mình theo  luật nhân quả, lý duyên sinh của vũ trụ nhân sinh, có đủ duyên lành để chuyển hoá cuộc sống ngày càng hướng thiện, ngày càng an lạc, hạnh phúc ở đời này và đời sau. Mục đích cứu cánh của đạo Phật là dạy cho chúng sanh con đường khai mở tâm thức, phát triển trí tuệ trực giác, hướng đến giác ngộ giải thoát, ngộ nhập tri kiến.

Tư tưởng triết lý Phật giáo chúng ta thì con người sinh ra không chỉ nằm trong chiếc nôi và chấm dứt thọ mạng trên cõi đời này trong cái nhà mồ, nhưng quan niệm Phật giáo là con người có một mạng sống miên viễn lâu dài, một quan niệm không gian vô cùng và thời gian vô tận. Vì thế mà lòng sống đạo của chúng ta cũng đi theo quan niệm thường đó, không bị giới hạn trong khuôn khổ chấp trung, không bị thời gian chi phối mà luôn luôn thay đổi.

Ngày xưa vua Lê Thánh Tông đã đọc bài kệ:
“Kim Phật bất độ lô
Mộc Phật bất độ hoả
Thổ Phật bất độ thuỷ
Chơn Phật tại kỳ trung”.
                 
Dịch nghĩa: Phật vàng không qua khỏi lò
                                         Phật gỗ không qua khỏi lửa
                                         Phật đất không qua khỏi nước
                                         Phật thật ở trong đó.
                                                              (Ngài Triệu Châu)
Đầu óc vua nặng triễu tư tưởng Nho Giáo, cho nên vua bỏ mất câu sau “chơn Phật tại kỳ trung” mà vua chỉ đọc ba câu đầu rồi cho rằng: “Phật không tự cứu lấy mình thì còn cứu ai”, chính ý kiến của vua Lê Thánh Tông ngày trước không hiểu đúng theo tinh thần Phật pháp còn lãng vãng đâu đó lúc này, lúc khác, sau này cũng có những người đem ý kiến đó ra để che bai Phật không cứu được mình thì cứu lấy ai, cho nên chúng ta muốn đánh giá một bài kệ hay một tác phẩm nào đó, chúng ta nên đọc kỹ, nghiền ngẫm thật kỹ rồi đưa ra lời nhận xét cũng chưa muộn.  Bởi vì phật pháp bất ly thế gian pháp, không ngoài sự tướng thế gian, không ngoài công việc thế gian mà có Phật pháp. Phật pháp ở trong đó với những tinh thần sáng suốt giác ngộ của những người hiểu biết Phật pháp. Chúng ta tuy sinh thời không duyên gặp Phật nhưng cũng biết lấy hình tướng của ngài để tôn thờ, khi nhìn thấy hình ảnh đức Phật, người ta có thể sinh khởi Phật tính trong lòng mình và cũng để làm duyên cho mọi người khai mở Phật tính trong tâm thức họ, mang lại sự an lạc cho bản thân, cho gia đình, cho xã hội. Chính tinh thần từ bi đó của đạo Phật là tinh thần cởi mở, tinh thần hoà hợp, tinh thần bao dung cho nên đã nối kết được tinh thần yêu nước chống giặc ngoại xâm như là một chất keo nối kết quá khứ với hiện tại, gắn liền dân tộc từ xưa cho đến nay. Trong chất keo để gắn bó tạo nên sự đoàn kết của nhân dân ta để tạo thành một sức mạnh giữ gìn nền độc lập cho dân tộc.

Luận văn tốt nghiệp với đề tài “TƯ TƯỞNG PHẬT TẠI TÂM CỦA VUA TRẦN THÁI TÔNG”, trong cấp độ cử nhân Phật học là một đề tài nghiên cứu mang tính sử học, lại vừa mang tính nhân văn, chính đề tài này đã đặt ra cho người nghiên cứu là phải làm sáng tỏ quan điểm đó.

                Nội dung người viết nhằm nhắm vào các vấn đề sau:

+ Sơ lược về thân thế và sự nghiệp.
+ Quan điểm Phật tại lòng.

                                + Tư tưởng nhập thế của vua Trần Thái Tông.
                                + Tư tưởng về ý muốn và tấm lòng.

Bằng những hiểu biết có chừng mực, người viết cố gắng làm việc nhiệt tình với đề tài mình chọn, đòi hỏi tác giả cần phải có một kiến thức tương đối uyên bác, nhưng người viết vẫn không ngại khi chọn đề tài này cho luận văn tốt nghiệp. Vì đây là dịp để người viết được trình bày những sở học của mình trước một kho tàng lịch sử tư tưởng và văn hoá đồ sộ, sau bốn năm tiếp thu từ những lời giảng dạy của chư tôn giáo sư dưới giảng đường Học Viện.

Đây là một đề tài rất khó khăn cho người viết, vì thế không thể tránh khởi những sai sót trong quá trình biên khảo, kính mong chư vị thiện tri thức ân cần chỉ bảo.

Sau cùng, tác giả xin kính dâng lòng tri ân chân thành lên Hội Đồng Điều Hành Học Viện Phật Giáo Việt Nam Tại Thành Phố Hồ Chí Minh, Giáo Sư Hướng Dẫn, Thầy Bổn Sư, quý Ôn, quý Thầy, Song Thân Phụ Mẫu, cùng tất cả thiện hữu tri thức đã tác thành, cũng như đã động viên khích lệ giúp đở cho người thực hiện luận văn này được hoàn thành.

 Xin nhận nơi đây lòng tri ân biết ơn!

B. NỘI DUNG

CHƯƠNG I: SƠ LƯỢC VỀ THÂN THẾ VÀ SỰ NGHIỆP

1. Thân Thế.
Vua Trần Thái Tông là một người đã khai sáng ra một triều đại oanh liệt của dân tộc, một nhà lãnh đạo chính trị và quân sự tài ba của đất nước dưới triều đại nhà Trần. Điều này, trãi qua mấy trăm năm lịch sử đã khẳng định. Mặt khác, vua Trần Thái Tông còn là một nhà văn, nhà thơ, có những đón góp to lớn cho lịch sử tư tưởng và Văn Học Việt Nam nói chung, cho Phật giáo nói riêng. Ông là một trong những tác giả đầu tiên của Văn Học Việt Nam trong triều đại nhà Trần và nhiều tác phẩm được bảo tồn cho đến ngày nay. Đó cũng là một tài sản vô giá cho những ai quan tâm nghiên cứu lịch sử dân tộc thời đại nhà Trần.

Vua Trần Thái Tông họ Trần, tên Cảnh, tên cũ là Bồ, là chi đầu chính của triều Lý, nhận Chiêu Hoàng nhường ngôi, tại vị 33 năm, thoái vị 19 năm, thọ 60 tuổi, mất ở cung Vạn Tho, chôn tại Chiêu Lăng. Vua khoan nhân độ lượng, có lượng đế vương, nên có thể mở nghiệp truyền sau, dặt giường giăng mối cho chế độ nhà Trần vĩ đại, song điều hành việc nước đều do một tay Trần Thủ Độ quyết định, chốn buồn thê có nhiều điều hổ thẹn.

Xưa đời trước của vua là người Mân (có chổ nói là người Quế Lâm) có người tên Kinh đến ở Hương Tức Mặc, Thiên Trường, sinh ra Hấp, Hấp sinh ra Lý, Lý sinh ra Thừa, mẹ là họ Lê, sinh vào ngày 16 tháng 6 năm Mậu Dần, Kiến Gia thứ 8 (1218). Vua mũi cao, mặt rồng giống như Hán Cao Tổ. Lúc lên 8 tuổi, làm chi hầu chính chi ứng cục triều Lý, có chú họ là Trần Thủ Độ làm tiền chỉ huy sứ, vua nhân thế được vào hầu trong cung. Chiêu Hoàng thấy vua thì thích. Ngày 12 Mậu Dần tháng 12 mùa Đông năm Ất Dậu, nhận Chiêu Hoàng nhường vị, lên ngôi Hoàng Đế, cải nguyên là Kiến Hưng.

2. Sự Nghiệp.
Trần Thái Tông lên ngôi Hoàng Đế ngoài ý muốn của mình và dưới sự sắp xếp của Trần Thủ Độ buộc vua phải cưới Chiêu Hoàng làm vợ. Từ đó Triều đình do nhà Trần  lãnh đạo, đứng đầu là Trần Thủ Độ vì vua còn rất trẻ mới tám tuổi mà đã được Lý Chiêu Hoàng cũng tám tuổi truyền ngôi. Cho nên, việc nước trong mười năm  đầu do bố là Trần Thừa cùng với chú là Trần Thủ Độ lãnh đạo và đưa ra quyết định cho tới năm Đinh Dậu Thiên Ứng Chính Bình thứ VI (1237) một sự kiện xẩy ra tạo cơ hội cho vua Trần Thái Tông thể hiện tư cách lãnh đạo của mình, qua việc tự quyết định mọi công viêc triều chính. Đó là sự kiện đầu mùa xuân năm ấy vua bị buộc phải lấy Công Chúa Thuận Thiên làm vợ. Đây là một cuộc hôn nhân chính trị nhằm chính thống hoá sự chuyển giao quyền hành từ nhà Lý sang nhà Trần. Bởi vì yêu cầu  cấp thiết của đơì sống chính trị thời ấy đòi hỏi vua Trần Thaí Tông phải có con với một người đàn bà thuộc dòng tộc họ Lý, nhằm đảm bảo tính thống nhất của triều đại nhà Trần mới thành lập. Nói cách khác, dù được truyền ngôi nhưng chưa có con  thì việc truyền ngôi ấy vẫn chưa đảm bảo đủ tính chính thống cho triều đại mới. Vì vậy, sau hơn mười năm sống với nhau và hai người  điều  đã vượt qua tuổi vị thành niên mà vẫn chưa có con, thì đây là một điều đe doạ tính chính thống hoá một triều đại mới vừa sang tay nhà Trần, cũng như chưa yên lòng khi toạ vị trên ngai vàng. Cho nên, ta thấy Thái Sư Trần Thủ Độ đã đưa ra một biện pháp hết sức quyết liệt. Đó là đem Công Chúa Thuận Thiên đang mang thai ba tháng và buộc Trần Thái Tông phải lấy làm vợ. Tại sao lại có yêu cầu  về sự chính thống hoá này? Đó là do tình hình quốc tế đang biến động thời bấy giờ, đòi hỏi chính quyền Đại Việt phải có những  sách lược để đối phó với tình hình biến động ấy đồng thời cũng để yên lòng dân và để đoàn kết toàn dân chuẩn bị cho cuộc  kháng chiến chống quân Mông Cổ.

Vua đã kế thừa tưởng Phật Giáo đưa vào thành nghệ thuật lãnh đạo chính trị  là phải biết lấy ý muốn của thiên hạ làm ý muốn của mình, lấy tấm lòng của thiên hạ làm tấm lòng của mình. Thì đó cũng là lần đầu tiên tư tưởng của Phật  Giáo  đã được vận dụng vào chính trị để hình thành một học thuyết lãnh đạo. Thực vậy, người lãnh đạo phải biết thủ tiêu ý muốn cá nhân của bản thân mới có thể lấy ý muốn  của mọi người làm ý muốn của mình. Vua Trần Thái Tông ý thức rất rõ ý muốn đó phải là ý muốn gì và tấm lòng đó phải là tấm lòng gì? ”Năm Tân Hợi Thiên Ứng Chính Bình thứ XX(1251) tháng 2 mùa xuân cải nguyên là Nguyên Phong thứ I, vua tự thân viết bài minh cho  các Hoàng Thái Tử để dạy họ về trung hiếu, hoà tốn, ôn lương, cung kiệm” .

Tuy đây là một bài minh viết nhằm cho các Hoàng Tử, nhưng rõ ràng tấm lòng mà vua Trần Thái Tông muốn cho tất cả mọi người dân Đại Việt phải có. Đó là tấm lòng trung hiếu, hoà tốn, ôn lương và cung kiệm, và ý muốn của thiên hạ là ý muốn có một cuộc sống ấm no và an toàn. Vì thế, trừ mười năm đầu khi tuổi còn trẻ, còn 22 năm sau tức từ 1236 xẩy ra sự kiện trốn lên núi Yên Tử cho đến khi nhường ngôi cho con vào năm 1258, thì nhắm vào mục tiêu vừa nói.

Để thực hiện mục tiêu với một cuộc sống an toàn và ấm no cho người dân, vua Trần Thái Tông cùng triều đình đã tiến hành ba chính sách lớn.

Chính sách lớn thứ nhứt: Là chính sách kiện toàn bộ máy nhà nước nhằm làm tiền đề cho sự phát triển kinh tế và ổn định xã hội. Thực hiện chính sách này, vua Trần Thái Tông tiếp tục kế thừa và phát huy sách lược dân sự hoá và trí thức hoá bộ máy nhà nước, mà từ thời vua Lý Thánh Tông đã được đưa vào, thông qua một số biện pháp. Biện pháp một là mở một loạt các khoa thi vào những năm 1227,1232, 1236, 1239, 1247, 1256. Với mục đích đào tạo nhân tài để tuyển chọn những người tài giởi có tấm lòng yêu nước, yêu dân như con mình để ra phục vụ cho guồng máy hành chánh, cũng như để phục vụ cho đất nước thời bây giờ, rất cần những anh tài xuất chúng, nhằm ổn định lại đội ngũ trí thức trong triều, thiết lập lại trật tự triều đình phân chia nhiệm vụ chuẩn bị cho cuộc kháng chiến với quân Mông cổ, mà được dự báo trước là rất khốc liệt và gian nan. Đồng thời, với việc mở khoa thi để trí thức hoá dội ngũ viên chức nhà nước, thì biện pháp thứ hai là ổn định đời sống nhân dân bằng luật pháp. Ngay khi mới lên cầm quyền, triều đình nhà Trần đã thấy được yêu cầu cần phải đưa hoạt động nhà nước đi vào quy cũ bằng một hệ thống luật pháp. Vua Trần Thái Tông đã kế thừa công tác đưa hoạt động nhà nước theo hướng pháp trị bằng một loạt các sắc lệnh.

Chính sách lớn thứ hai: Là thúc đẩy nền kinh tế cơ bản của đất nước phát triển, mà vào thời ấy là nông nghiệp chủ yếu, bằng một loạt các công trình xây dựng với đỉnh cao là đắp đê Đỉnh Nhĩ. Đây là kế thừa và phát huy chính sách bảo vệ phương tiện sản xuất của thời Lý nhưng đẩy mạnh dưới thời Trần.

Chính sách lớn thứ ba: Là cương quyết bảo vệ chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ của Đại Việt. Từ nhũng năm đầu cầm quyền vua Trần Thái Tông đã quan tâm đến vấn đề biên giới phía Bắc và phía Nam của tổ quốc. Cùng với việc ổn định biên cương phía Bắc và Nam, vua Trần Thái Tông còn ráo riết tổ chức và tăng cường sức mạnh quân đội nhằm để chuẩn bị đối phó với tình hình chính trị quốc tế thời bây giờ diễn ra hết sức phức tạp vua Trần Thái Tông đã tiến hành một loạt các biện pháp quân sự nhằm không ngừng nâng cao khả năng chiến đấu chống quân Nguyên Mông.

Năm 1257 dười sự lãnh đạo của vua Trần Thái Tông đã đánh đuổi quân Nguyên Mông ra khởi đất nước đem lại sự bình yên cho nhân dân và xã tắc. cùng với sự giúp sức của Thái Sư Trần Thủ Độ và tướng Lê Phụ Trần đã thành công đánh bậc quân thù về bên kia biên giới, nền độc lập của tổ quốc đã được giữ vững. Hoà bình đã được tái lập trên đất nước và kéo dài gần 30 năm, tạo điều kiện cho Đại Việt phát triển và tăng cường tiềm lực chiến đấu của mình. Đến tháng ba năm Mậu Ngọ(1258) Vua Trần Thái Tông đã truyền ngôi lại cho con mình là Trần Thánh Tông và lên làm Thái Thượng Hoàng.

Vua Trần Thái Tông cũng còn là nhà văn hoá, nhà thơ xuất sắc lẫy lừng trong lãnh vực hoạt động sáng tác, là người đã mở đầu một giai đoạn văn học mới của lịch sử văn học đời Trần. Những tác phẩm đó đã chuyển tải một nội dung tư tưởng với một vẻ đẹp riêng của nó, mà rất có giá trị cho những ai thích nghiên cứu về Phật giáo đời Trần. Vua Trần Thái Tông đã sáng tác nhiều tác phẩm như:
1. Văn Tập 1 quyển.
2. Thiền Tông Chỉ Nam Ca.
3. Kim Cương Tam Muội Kinh Chú Giải.
4. Bình Đẳng Lễ Sám Văn.
5. Lục Thời Sám Hối Khoa Nghi.
6. Khoá Hư Lục 10 quyển.
    
CHƯƠNG II:  QUAN ĐIỂM PHẬT TẠI  LÒNG.
Từ một quan điểm “Tâm tịch nhi tri, vị chi chân phật” nghĩa là lắng lòng mà hiểu, đó là chân Phật hay “Phật vô nam bắc”. Trần Thái Tông cũng đã chỉ ngay vào cái thực tại siêu nhiên ấy làm đối tượng không phải chỉ cho suy tưởng mà chính là đối tượng để sống thực hiện cả trong tư tưởng lẫn ngoài hành động. Cái thực tại ấy chính là Phật tính, tuy nó không lệ thuộc vào điều kiện thời gian và không gian, siêu việt lên trên, mà mặt khác nó cũng đồng thời tiềm tàng linh động trong thiên hình vạn trạng của vũ trụ sự vật, biến hoá không ngừng. Vì bản thể chung của nhân loại, theo Trần Thái Tông ở đây là “Phật tính “ bình đẳng cho mỗi người có thể tự tu sửa để tìm cầu. Hơn nữa, Thiền Tông cũng bắt nguồn từ bản nhiên thanh tịnh của mỗi người, mà đã là con người thì bất cứ ở thời nào hay ở đâu cũng đều có tính bản nhiên thanh tịnh ấy. Do đó ở đâu có con ngưới thì ở đó có nguồn gốc của Thiền, của giác ngộ, tức là Phật. Quan điểm Phật ở lòng được xác định rất rạch ròi, rồi nó sẽ chi phối toàn bộ lịch sử tư tưởng Việt Nam và Phật giáo Việt Nam về sau. Tiêu biểu là lời xác định của vua Trần Nhân Tông trong cư trần lạc đạo phú:
“Bụt ở cổng nhà
chẳng phải tìm xa
nhân khuấy bổn nên ta tìm Bụt
đến cốc hay chỉn Bụt là ta” .
Và bài thơ Hoa Mộc Cận của Nguyễn Trãi:
“Ánh nước hoa in một đoá hồng
vợn nhơ chẳng bén, Bụt là lòng
chiều mai nở chiều hôm rụng
sự lạ cho hay tuyệt sắc không” .
Chính vì Đức Phật ở tại tâm của mỗi con người, nên việc tìm Phật là tìm tại tấm lòng của chính mình, tìm lại cái tâm của mình, chẳng nên cầu tìm bên ngoài. Mỗi con người, từng ngày, từng giờ, từng phút, từng giây đang thể hiện tính Phật dưới một dạng nào đó, mà ta không biết thôi. Nói theo “Kinh Kim Cương Tam Muội “ mà vua Trần Thái Tông có dịp chú giải thì ta phải liễu tri “tâm tính chúng sanh không khác nhau về chân tính”. Cho nên, đi tìm Phật ở một nơi nào đó sẽ không bao giờ tìm thấy được. Ngược lại  tìm  Phật nên tìm ngay trong đời hiện tại của mình, tức hướng vào nội tại tâm thức mà tìm Phật không đâu khác. Chính cái tâm siêu nhiên thực tại này sẽ cho ta thấy được  Phật tính hiển lộ.

1. Ý Hướng Cầu Chân.
Xu hướng hướng nội để tìm cầu chân lý tối hậu, có thể nói là rất sáng tỏ trong đời sống Phật Giáo đời Trần, nó mở đầu bằng một câu nói của Quốc Sư Phù Vân khuyên vua Trần Thái Tông. Khi lánh lên núi Yên Tử để cầu Phật: ”Trong núi vốn không có Phật, Phật ở ngay trong lòng, lắng lòng mà hiểu, đó chính là chân Phật . Nay nếu bệ hạ giác ngộ tâm đó thì lập tức thành Phật, không nhọc tìm kiếm bên ngoài” .

Để có thể hiểu rõ hơn nhân cơ hội gì? trong hoàn cảnh nào? nhà vua kể lại sự tìm cầu chân lý của mình. Theo như Toàn Tập Trần Thái Tông, Lê Mạnh Thát có ghi: ”Vả trẫm lúc tuổi nhỏ mới biết, nghe thoáng thấy thiền dạy bảo thì ý lắng hết lo, trong sạch chút ít, bèn để tâm vào nội giáo, tham cứu đạo thiền, hạ mình tìm thầy, thành khẩn mộ đạo. Tuy lòng hướng vào đã sanh, nhưng cơ cảm xúc chưa tới. Vừa 16 tuổi, thái hậu đã chán cõi trần, trẫm nằm rơm gối đất, huyết lệ nát lòng, ngoài nỗi buồn đau, rãnh đâu việc khác”

Thế rồi mới mấy năm sau, Thái Tổ Hoàng Đế tiếp bỏ ngôi trời, niềm nhớ mẹ chưa nguôi, tình thương cha càng nặng, ngổn ngang đau xót, khó nỗi khuây lòng. Nghĩ tới mẹ cha nuôi con vỗ về ôm ấp không thiếu cách gì, con dù thịt nát xương tan cũng không đủ báo đền trong muôn một, huống chi đấng hoàng khải tổ ta xây dựng cơ nghiệp rất mực gian lao, trị nước giúp đời lại càng khó nhọc. Người đem ngôi báo trao lại cho ta từ lúc ấu thơ, khiến ta đêm ngày lo sợ, không chút thảnh thơi.

Ta tự bảo mình trên đã không có cha mẹ để nương tựa, dưới lại e chẳng xứng với lòng dân trông đợi, biết làm thế nào? suy đi tìm lại, không gì hơn lui về chốn núi rừng cầu học đạo Phật, để hiểu rõ nghĩa lớn của việc tử sinh, cùng đáp ân đức khó nhọc của cha mẹ, thế chẳng tốt hơn sao? vậy là chí trẫm đã quyết “ .

Chính ở đoạn văn này mà chúng ta có thể thấy được cái nguyên lai của động cơ thúc đẩy trong tâm hồn vua Trần Thái Tông về ý hướng cầu tìm chân lý ở Phật Giáo. Thái Tông bảo từ thủa nhỏ đã được nghe các Thiền sư giảng dạy mà lòng tự thấy rung động, sớm có ý thức hướng về nội giáo tức là tâm linh học của Thiền Tông. Nhưng Thái Tông thú nhận rằng trong ngay buổi niên thiếu ấy trong lòng thanh tĩnh tinh thần mộ đạo, nên chỉ mới có được một ý hướng mong manh chứ chưa  từng đạt được cái động cơ cảm xúc với Đạo.

Cũng có thể là động cơ khiến cho tâm hồn Thái Tông dao động đã đến với hai cái tang cha mẹ liên tiếp từ lúc 16 tuổi, lại thêm chịu mệnh vua cha đứng đầu trăm họ, gánh vác một trách nhiệm lớn lao là một cơ nghiệp nhà Trần vừa khai sáng. Trước tình thế ấy Thái Tông cảm thấy cô liêu, trong lòng vừa đau đớn vừa lo sợ phân vân. Ở trên đã không còn cha mẹ để có thể nương tựa, đối với ở dưới e không còn đáp ứng nguyện vọng thiết thực của nhân dân, biết làm sao! Như thế, Trần Thái Tông cảm thấy cô đơn, thân thế mong manh sự nghiệp trên đời này điều không có tính cách bền vững, cho nên khi vào trong núi gặp nhà sư Phù Vân vốn bạn  cũ hỏi han duyên cớ bỏ đi  thì nhà vua đáp lại ngay: “Trẫm đương trẻ thơ, mẹ cha vội mất, trơ vơ đứng trên dân chúng, không chổ tựa nương, lại nghĩ sự nghiệp  đế vương thủa trước, hưng phế bất thường, cho nên tìm đến núi này chỉ muốn cầu làm Phật, chớ không cầu gì khác” .

Do đó mà Thái Tông một lúc phủi áo đứng lên ra đi bỏ lại đằng sau tất cả quyền cao thế trọng, phú quý giàu sang, vợ đẹp như vứt bỏ chiếc giày rách. Quyết chí đi tìm cầu chân lý chẳng quản gian nan khốn khổ, lặn núi trèo non để báo đáp ân đức của cha mẹ. “Suy đi tìm lại không gì hơn  lui về chốn núi rừng, tìm sang bên Phật Giáo cầu học đạo Phật, để hiểu rõ nghĩa lớn của việc sinh tử cùng đền đáp ân đức khó nhọc của cha mẹ”.

Sự thực  làm cho Thái Tông lâm vào tâm trạng khủng hoảng đến như thế còn phụ thuộc vào  một việc thâm trầm thiết thực hơn là lòng báo hiếu với sự nghiệâp thịnh suy bất thường. Sử chép :”Đinh dậu thứ 6( 1237) tháng giêng, mùa xuân. Lập vợ của anh Hoài Vương Liễu là Công Chúa Thuận Thiên họ Lý làm Hoàng Hậu Thuận Thiên giáng Chiêu Thánh làm Công Chúa. Bây giờ Chiêu Thánh không có con, mà Thuận  Thiên đã có thai Quốc Khang 3 tháng. Trần Thủ Độ cùng Công Chúa Thiên Cực mật mưu với vua là mạo nhận để nhờ về sau  nên có lệnh ấy. Liễu do thế họp quân ở sông lớn làm loạn. Vua trong lòng không yên, đêm ra khỏi thành, đến núi Yên Tử ở với Quốc Sư Phù Vân. Ngày hôm sau Thủ Độ đem bầy tôi đến đón xa giá về kinh, vua cha lại vội từ trần thành ra Trẫm sớm mất người nương  tựa không dám để nhơ nhuốc đến xã tắc” .

Tâm trạng của vua Trần Thái Tông trước khi quyết chí vào núi tìm Phật bởi do một chuổi sự việc xẩy ra với Thái Tông như trên. Cho nên, Thái Tông thực thấy trơ vơ một mình trên miệng vực thẳm, cô liêu trên đỉnh núi cao, cảm thấy lo sợ, mất tin tưởng vào lẽ sống mất tự tin ở nơi mình, vì thế mà muốn tìm cái gì để nương tựa, một cơ sở tinh thần để đứng, một tín ngưỡng  để sống vậy. Đó là sức mạnh nội tại để thúc đẩy Thái Tông quyết chí đi tu tìm đường giải thoát, không còn màng đến địa vị quyền cao chức rộng của ngai vàng nữa mà vứt bỏ ngôi vua như vứt bỏ chiếc giày rách vậy. Hơn nữa, do bị kích thích  bởi đau khổ tự chính bản thân, cũng quyết chí đứng dậy, can đảm xông pha không quản ngại, nhà vua bỏ  Kinh Đôâ vào núi Yên Tử thật cảm động không khỏi liên tưởng đến sự tích Thích Ca bỏ cung điện  ra đi tìm Đạo.

Tâm hồn nặng trĩu bởi  nhiều mối hoài nghi. Cho nên, từ trong nội tại của tâm thức luôn luôn sanh khởi lên cái “sanh tử sự đại” ám ảnh, thúc đẩy Thái Tông muốn tìm cầu cái gì tồn tại trường cửu đằng sau cái thế giới bất thường hư hư thực thực để nương tựa. Gặp nhà Sư Pháp Vân, Thái Tông liền nói : ”Chỉ cầu làm Phật  không làm gì khác”. Tức là đi tìm cái thực thể tồn tại vĩnh cửu, đồng nhất với cá nhân và vũ trụ, mà đang tiềm tàng trong thế giới hiện hữu bất thường. Đấy là Phật tính tiềm tàng trong nhân tính, là thực thể siêu việt, vượt ngoài suy nghĩ tầm thường, mà mọi người tìm cầu ông Phật bằng hình tướng bên ngoài.
"Nếu lấy sắc mà thấy ta
Lấy âm thanh mà cầu ta
Người ấy hành đạo tà
Không thể thấy Như Lai"
Để giải quyết được vấn đề sống chết bằng quan điểm, coi sống chết như nhau chỉ bằng con đường duy nhất là giác ngộ tự thân, đạt được trí tuệ siêu viêỉt, nhận thức được bản chất của vũ trụ là vô thường, không có tự tính, thì nguồn gốc của sự sống chết chỉ là việc nhỏ nhoi không đáng để lo ngại.

2. Giác Ngộ Phật Tánh.
Sau khi vua lánh lên núi Yên Tử để tìm cầu Phật”Tu cầu làm Phật, chẳng toan sự nào”. Nay tôi vào núi sâu này, chỉ mong tu làm Phật không tính chuyện gì khác. Như thế chúng ta có thể thấy được bề sâu của tâm trạng khủng hoảng, mất niềm tin ở nơi luân thường đạo lý. Thái Tông đã quyết chí tìm phương cách giải quyết một cách triệt để bằng một đòi hỏi sâu rộng, có tuyệt đối không? Nếu Phật là tuyệt đối, có thể cho ta thấy được không? Có lẽ Thái Tông cũng đã ở cái tâm trạng đòi hỏi một niềm tin vững chắc như bao nhiêu người. Để giải quyết nỗi lòng phân vân đau khổ, không đường tiến thoái. Quốc Sư Phù Vân đã trả lời cho Thái Tông “Trong núi vốn không có Phật tính chỉ tồn tại ở trong tâm người ta, tâm yên lặng mà thấu biết thì gọi tâm là Phật chân thực. Nay nhà vua nếu giác ngộ được cái tâm ấy thì liền thành Phật ngay, khỏi khổ sở tìm ở bên ngoài tâm mình” .

Câu trả lời thật dứt khoát và đanh thép của một bậc đắc đạo vô tư, có khả năng cảm thông với lòng người khác, nên đã có thể tự đặt mình vào cảnh ngộ của người khác không chủ quan cố kéo về mình. Nếu thành thực cầu tìm chân lý để giải quyết mối tương tranh trong tâm hồn, gây nên bởi cuộc sinh tồn thực tế, thì chân lý ấy phải là chân lý sống động cụ thể không khái niệm trừu tượng. Chân lý ấy nếu có phải phổ biến đại đồng, ứng dụng thiết thực cho tất cả cảnh ngộ, cho nhà vua đứng lãnh đạo nhân dân, cũng như cho nhà sư sống ngoài xã hôị trong thiên  nhiên.

 Nhà vua không cần xuất thế vì xuất thế còn đâu nhân dân cũng như nhà Thiền Sư không cần nhập thế vì cái gì đã chân thật cho vũ trụ thì cũng chân thật cho nhân sinh, vì toàn thể phải bao trùm được bộ phận cục bộ vậy. Nhà Sư Không Lộ thời nhà Lý cũng đã nói một bài thơ về nguyên lý vạn vật đồng nhất:
“Tác hữu sa trần hữu vi không nhất tướng không hữu không như thuỷ nguyệt  vật trước thị không không.”
Nếu bảo rằng thế giới này thật có, thì hạt cát cũng thật có. Nếu chủ trương thế giới này không thì một hình tướng cũng là không có. Có hay không khác nào như trăng trên trời với ánh trăng ở các làn nước, cả hai đàng cùng có, cùng không, cho nên chớ có chấp cái không có ấy là không.

Đấy là quan niệm ”có là có quan hệ với” hay  là tương đối với tâm thức ra mà có hay không có. Bởi vậy, mà trước khi tìm Phật coi như thực tại tuyệt đối, bản thể vũ trụ ở đâu xa bên ngoài thì hãy tìm ngay ở tại bản tâm nhỏ bé của mình, cũng như Mạnh Tử chủ trương: ”Nguyên lý tạo vật có đủ ở ta, trở về bản thân mà thực hiện, không nguồn lạc thú nào bằng”. Đấy là ý nghĩa Phật tức tâm nghĩa là Phật là nguồn của cái biết, là cái ý thức bản thể của ý thức sự vật hay là ý thức tác dụng cho nên bảo ”tâm tịch nhi tri” tâm thể yên lặng trong sáng mà biết, đấy là cái toàn diện của tâm bao hàm cả tính, ý và trí. Cái tâm ấy là Bát Nhã, là cái thể Đồng nhất của vũ trụ vậy. Một khi thấy được, giác ngộ được tâm ấy thì thấy được chân tướng của vũ trụ, thấy được nguyên lý của Chân, Thiện, Mỹ, không còn phân vân đau khổ nữa, mà vững chắc đứng lên trên cả quan điểm thông thường của người đời, về chân, giả, thiệân, ác, mỹ, ố tương đối. Cái ấy không có trong hay ngoài, không bị điều kiện thời gian không gian chi phối, là bản thể siêu nhiên, cho nên không phải đi tìm đâu cả, bất cứ ở đâu cũng tìm thấy được ”vô khổ ngoại cầu” không phải khổ sở đi tìm ở ngoài tâm mình, vì tuyệt đối còn là đối tượng cho một ý thức tìm hiểu nào thì không còn là tuyệt đối nữa. Đã gọi là tuyệt đối thì không lệ thuộc vào thời gian và không gian, làm sao có thể ở trong hay ở ngoài được.

Qua lời giải đáp ấy của Quốc Sư Phù Vân, chúng ta thấy nhà xuất thế gian này là bậc đại đạt đạo lý thiền tông, không còn chấp vào hình thức xuất hay nhập, vô vi hay hữu vi, mà cốt ở tinh thần thực hiện mà thôi. Bởi vậy, Quốc Sư đã đặt mình vào địa vị của nhà vua để chỉ bảo con đường thực hiện ở vai trò và hoàn cảnh của vị nhân chủ để nhập thế hữu vi: “ phàm làm bậc nhân quân thì phải lấy ý muốn của thiên hạ làm ý muốn của mình, lấy tấm lòng của thiên hạ làm tấm lòng của mình. Nay thiên hạ muốn đón bệ hạ về thì bệ hạ không về sao được! Duy có việc nghiên cứu nội điển xin bệ hạ đừng chút xao lãng mà thôi.”

 Đó là sự dung hoà giữa con đường xuất thế lẫn nhập thế, bởi thế mà Quốc Sư Phù Vân mới dặn dò nhà vua không nên quên việc cứu xét nội điển trong khi hành động theo ý muốn của thiên hạ, lấy tâm thiên hạ làm tâm mình tức là quên mình cho tha nhân.

Qua những lời dạy trên của Quốc Sư Phù Vân mà Thái Tông đã ngộ được Phật tính mà lâu nay Ông đã đi tìm cầu. “Trong núi vốn không có Phật, Phật chỉ ở trong tâm”.

3. Trở Về Cung Và Tu Tại Gia.

a. Trở về cung.
Sau khi đã nghe hai chủ trương, một của quốc sư bảo “Phật ở tại tâm”, một của Thái sư chủ trương “Lấy thân dẫn đường cho thiên hạ” và được thấy người trong nước không có ý bỏ mình, Thái Tông mới quyết theo con đường dung hoà hay là vừa nhập thế vừa xuất thế, vừa hành vừa tri của quốc sư khuyên nhủ. Quốc sư đưa ra chủ trương ấy bất quá lúc bây giờ là để chiều theo ý muốn của triều đình do Thái sư đại diện với một số cố lão, cương quyết mời nhà vua trở về Kinh Đô, còn như Thái Tông vị tất đã thực lòng tin hẳn thuyết ấy là phải. Bất quá Thái Tông tạm lấy giả thuyết để thực hiện đấy thôi. Giá trị chân hay giả nó còn chờ ở công trình thực nghiệm của tác giả vậy.

Thái Tông đã nghe lời của quốc sư Phù Vân về việc lấy ý muốn của thiên hạ làm ý muốn của mình, lấy tấm lòng thiên hạ làm tấm lòng của mình nên nhà vua đã gạt bỏ những suy tính cá nhân, chấp nhận việc trở lại Kinh Đô Thăng Long để thực hiện trọng trách lãnh đạo quốc gia. Rõ ràng Trần Thái Tông đã xác định rõ, đã lấy quyền lợi của cộng đồng dân tộc làm quyền lợi của mình, thống nhất quyền lợi của mình với quyền lợi của dân tộc thành nhất thể. Muốn vậy, nhà vua phải đặt quyền lợi cá nhân ra bên ngoài sự xem xét, để nhắm vào quyền lợi chung, ý muốn chung, khi nhận định và giải quyết vấn đề. Đất nước ta vào thời đại ấy đòi hỏi vua Trần Thái Tông phải đặt những suy tính cá nhân ra bên ngoài những tính toán của dân tộc, mà quyền lợi dân tộc lúc đó đòi hỏi phải bảo vệ cho được nền độc lập của tổ quốc và toàn vẹn lãnh thổ đất nước.

Cho nên, Trần Thái Tông đã chọn lấy con đường nhập thế, trở về lại Thăng Long gắng gượng lên ngôi, trong khoảng mười năm đầu ngồi trên ngai vàng, ngoài công việc triều chính ra, khi có thời gian rãnh rỗi ra, Thái Tông liền hội họp các bậc thiền sư thạc đức hỏi đạo thiền. Vì tấm lòng hướng nội cầu đạo nên cho đến cả các kinh sách của giáo lý chính, không đạo nào không nghiên cứu. Thường ngày, đọc Kinh Kim Cương đến câu “Ưng vô sở trụ sinh nhi kỳ tâm”,  do có lòng thành cầu đạo mà thâm nhập tư tưởng Kinh Kim Cương, sinh ra cái tâm không chấp vào cái gì, cho đến khi tâm thức nhuần nhuyễn bởi tư tưởng ấy, bỗng nhiên tâm bừng sáng và đem chỗ sở ngộ của mình viết ra thành sách cho hậu thế lấy đó làm bài học.

b. Tu tại gia.
Sau khi về Thăng Long lãnh đạo đất nước, vua Trần Thái Tông vẫn tiếp tục nghiên cứu Phật giáo trong những lúc rãnh rỗi công việc chính sự, mà kết quả là sự ra đời của “Thiền Tông Chỉ Nam Ca”. Chính sau khi viết tác phẩm này, nhà vua đã gặp thiền sư Thiên Phong từ Trung Quốc sang và vị thiền sư này đã trở thành người thầy của nhà vua. ”Vua thiên tư khôi vĩ, học thức cao minh, càng dốc lòng vào Phật giáo” .

Do quyết chí học thiền, những lúc muôn việc rãnh rỗi, bèn nhóm họp các bậc kỳ tài để tham vấn, vua thường đọc kinh kim cương đến ”Ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm” mới bỏ quyển  kinh nghĩ ngợi ngâm nga thì bổng nhiên đại ngộ đem điều mình giác ngộ viết thành Thiền Tông Chỉ Nam Ca. Sau lại gặp thiền sư Thiên Phong càng rõ thêm tông chỉ, ở cạnh cung vua mở chùa Tư Phúc làm nơi đốt hương tu hành. Lại đối với thiền giáo thì cho mời bậc cao toạ trụ trì để tiện thăm thỉnh, Ngài trai tăng hơn năm trăm vị, độ làm đệ tử hơn ba mươi người.

Quốc sư Phù Vân biết rất rõ Trần Thái Tông không chỉ là vua mà còn là nhà Phật học nữa. Nhà vua không chỉ lo việc trị nước yên dân mà còn là nhà Phật học chuyên sâu về nội điển, tích cực hoằng pháp độ  sanh. Điều này chúng ta biết rất rõ vua Trần Thái Tông đã để lại một số tác phẩm như: “Khoá Hư Lục”, “Thiền Tông Chỉ Nam”… Trình độ Phật học của vua khá cao, cho nên khi xem bản thảo cuốn Thiền Tông Chỉ Nam Quốc sư nhận định “Tấm lòng chư Phật ở cả trong này sao không in thành sách để chỉ dạy cho đời sau”. Một đánh giá như vậy từ một Quốc sư đạo học cao thâm, cũng cho ta thấy trình độ phật học của vua Trần Thái Tông không phải tầm thường.

Như vua Trần Thái Tông nói rõ trong bài tựa”Thiền Tông Chỉ Nam”sau khi từ Yên Tử trở về miễn cưỡng lên ngôi. Trong khoảng thời gian hơn chục năm, mỗi khi được rỗi việc, trẫm lại hội họp các vị tuổi cao đức cả để tham vấn đạo Thiền, cũng như kinh điển đại thừa thì không kinh nào không đọc. Trẫm thường đọc Kinh Kim Cương đến câu”Ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm”vừa gấp sách lại vừa ngâm nga bổng nhiên tỉnh ngộ, liền đem những điều giác ngộ làm bài ca này.

Thiền sư Chân Nguyên trong cuốn Thiền Tông Bản Hạnh khẳng định Trần Thái Tông đã ngộ đạo với những lời lẽ rất rõ.

Câu 290:
Hoát nhiên đại ngộ mới thâm vào lòng
Liễu đạt tám chữ làm tông
Vạn pháp diệu dụng tự tánh hiển dương
Bản lai thanh tịnh chân thường
Như minh phổ chiếu đường đường tịch quan.

Câu 300:
Thiên hạ Nam Bắc Đông Tây
Thấy vua đắc đạo trong lòng vui thay.

Một ông vua không xuất gia nhưng ngộ đạo, ngồi trên ngai vàng mà lại tuyên bố xem ngai vàng như là chiếc giày rách bỏ lúc nào cũng được, một vị vua như thế là sản phẩm độc đáo của nhà Trần, của Phật Giáo Việt Nam.

4. Qua Việc Tham Vấn Phật Học Với Các Thiền Sư
Do tấm lòng mộ đạo của nhà vua từ khi còn nhỏ, cho nên Thái Tông không lơ là trong việc tham cứu kinh điển, cũng như tham vấn đạo thiền với các thiền sư. Ngoài Thiền Sư Thiên Phong là người thầy của vua Trần Thái Tông ra, còn có một thiền sư khác là Đức Thành cũng trở thành môn đồ của nhà vua. Thánh Đăng Ngữ Lục tờ 9a5-10b4 có ghi Đức Thành là một thiền sư của nước Tống, đồng thời ghi lại cuộc đối đáp giữa thiền sư này với vua Trần Thái Tông, từ đó ta có thể biết về phong cách, và tư tưởng thiền của hai vị thiền sư:

"Có tăng nước tông là Đức Thành đến chầu.
Hỏi: Thế Tôn chưa rời đâu suất đã xuống vương cung, 
       chưa rời thai mẹ, độ người đã xong, thì thế nào?
Đáp: Ngàn sông có nước ngàn sông nguyệt, 
        Muôn dặm không mây muôn dặm trời.

Hỏi: Chưa rời chưa ra, được khai thị,
       Đã rời đã ra việc thế nào?
Đáp: Mây sinh đỉnh núi bềnh bồng trắng, 
       Nước đến tiêu dương một dáng xanh.

Hỏi: Mưa đến sắc non tối, 
       Mây đi động sáng bừng .
Đáp: Trừ đúng nhà ta con đích đó, 
        Ai người dám nhắn đi đường đây.

Hỏi: Xưa nay không khác lối, 
       Người đến cùng chung đường.
       Bệ hạ sắp bảo đắc đạo,
       Chỉ một mình Thế Tôn sao?
Đáp: Mưa xuân không cao thấp
        Cành hoa tự ngắn dài.

Hỏi: Người người tự vốn người người đủ
       Mỗi mỗi xưa nay mỗi mỗi tròn
       Vì sao Thế Tôn lại vào núi tu đạo?
Đáp: Gươm bởi bất bình rời hộp báu
       Thuốc vì chữa bệnh khỏi bình vàng

Hỏi: Như thân phận học nhân đây
       Mây ra khỏi núi vốn không tâm.
       Thành vái lạy,không nói lời nào.
Đáp: Chớ bảo không tâm ấy là đạo
        Không tâm còn cách một trung quan.

Hỏi: Đối tâm đã không, thì gọi cái gì là trùng quan?.
Đáp: Nước chảy xuống non không có ý
        Mây ra khỏi núi vốn không tâm.
Thành vái lạy”.

Qua cuộc đối đáp giữa thiền sư Đức Thành và Thái Tông ta thấy thiền học của vua Trần Thái Tông thuộc dạng thiền công án, sử dụng những ẩn ngữ và ẩn dụ gợi mở nghi tình của người đối thoại, nhằm tạo điều kiện cho họ nắm bắt sự thật, mà từ chuyên môn của thiền gọi là Ngộ. “Hoát nhiên đại ngộ” đã phản ảnh phong cách của phái thiền Lâm Tế, có thể nói lần đầu tiên phái thiền Lâm Tế được nhắc đến trong lịch sử Phật giáo nước ta, phong cách thiền công án dần dần chiếm ưu thế, mà tiêu biểu là Tuệ Trung Thượng Sỹ và Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông sau này. Hơn nữa, thông qua cuộc đối thoại ấy, ta thấy vị thiền sư Trung Quốc (Đức Thành) đóng vai trò là một  môn đệ đang trình bày những nghi tình của mình, nhằm nhờ vua Thái Tông khai thị. Thiền học Phật giáo Việt Nam với vua Trần Thái Tông như thế đã đạt được một bước phát triển mạnh, đồng thời ảnh hưởng sâu rộng về sau này cho thiền học Việt Nam.

CHƯƠNG III: TƯ TƯỞNG NHẬP THẾ CỦA VUA  TRẦN THÁI TÔNG.

1. Thể Hiện Tinh Thần Nhập Thế.
Đức Phật dạy: ”Phụng sự chúng sanh tức là cúng dường chư Phật” y theo tinh thần ấy Viên Chứng quốc sư đã nhắn nhủ Thái Tông: ” Phàm làm vua phải lấy ý kiến của nhân dân làm ý muốn của mình” và “Phật ở tại tâm”, một chủ trương của Thái sư “lấy thân dẫn đường cho thiên hạ”, thấy người trong nước không có ý bỏ mình, vâng lời dạy, Thái Tông mới quyết theo con đường dung hoà hay vừa nhập thế, vừa xuất thế, vừa hành, vừa tri của Quốc sư khuyên nhủ, Thái Tông đem  Đạo vào đời,  tích cực phục vụ nhân dân cùng lúc với việc tham thiền học Đạo. Bởi ông biết rất rõ đạo không thể xa người, đạo phải được sống, được thể nghiệm ngay trong lòng cuộc đời, người Phật tử phải lấy chúng sanh làm đối tượng phụng sự, vì quán triệt lẽ đó mà Thái Tông  sẵn sàng quên mình để lo cho nước, cho dân.  Khi đất nước cần các Ngài có thể cầm gươm lên ngựa, đi trước ba quân xong pha giữa làn tên đạn, để cứu dân thoát khỏi ách ngoại xâm. Trong khi làm phận sự nhập thế không quên cứu xét tâm linh học, tâm  hợp nhất cả trí lẫn hành. Về hành động thì nhà vua  coi tính mệnh nhẹ như lông hồng, xong pha trận mạt trước mũi tên, làn đạn hết sức nguy hiểm. Sử chép: ”Vua thân hành đi tuần biên giới vào địa giới, nhà Tống, đi qua châu Khiêm và Liêm, tự xưng là trai  lang, bỏ thuyền ở đất Tống, chỉ dùng thuyền Kim Phượng và Nhật Quang mà đi, người Châu ấy không biết đó là vua, đến lúc biết, liền chặn xích sắt ở dòng sông để chặn đường thuỷ, vua liền trở về,  liền nhổ vài chục cọc sắt đem về” . Lại một cử chỉ khác càng tỏ rõ nhân cách Thái Tông trên con đường xử thế tiếp vận không phải không có hiệu quả vào sự giác ngộ của tác giả Thiền Tông Chỉ Nam. Trần Liễu sau khi tức giận bị cướp mất vợ, liền chiêu quân nổi loạn, sau thấy sức không địch nổi Thủ Độ bèn nhân lúc Thái Tông ngự thuyền đi chơi, Trần Liễu lẻn đến xin hàng, hai anh em ôm nhau khóc. Về sau Trần Dụ Tông có thơ khen cử chỉ ấy của Thái Tông, so với Đường Thánh Tông bên Tàu hiệu là Trinh Quán giết anh là Kiên Thành làm phản:
“Đường Việt khai cơ lưỡng Thái Tông,
Đường xưng Trinh Quán, ngã Nguyên Phong
Kiến Thành chu tử, An Sinh tại,
Miếu hiệu tuy đồng, đức bất đồng”.
Phật giáo đời Trần quả thật xứng đáng vai trò của một hệ tư tưởng chủ đạo tích cực và năng động, đáp ứng những nhu cầu thực tế bức xúc của lịch sử, phù hợp với truyền thống yêu nước, tạo nên một Triều Đại dân chủ nhất lịch sử của nước ta.

2. Chuyển Hoá Nội Tâm.
Thế giới chúng ta đang sống luôn xẩy ra những xung đột liên miên bất tận, nguyên nhân là do con người có nhận thức về sự vật một cách phiến diện và cục bộ. Cho nên, nhân loại vĩnh viễn không bao giờ thoát ra khỏi sự xung đột của mình với thiên nhiên, với tha nhân, với chính mình. Như vậy, giải pháp cuối cùng cho những vấn đề xung đột là phải có cái nhìn tổng hợp, viên dung và toàn diện. Trở về với bản thể thanh tịnh tự nhiên vốn có của tâm thức tức là Phật tính. Cái nhìn này vốn là tư tưởng đặc trưng của đông phương, nhất phật giáo, đức Phật từng tuyên bố: ”Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh”, ”Ta là Phật đã thành chúng sanh là Phật sẽ thành”. Như vậy, tất cả chúng sanh đều có Phật tính. Hơn nữa, Phật giáo còn cho rằng tất cả những cành cây ngọn cỏ, các loaiỉ vô tình hay hữu tình chúng sanh trong vũ trụ này cũng  đều có Phật tính. Bằng cái nhìn phóng khoáng viên dung tất cả là một, một là tất cả như vậy. Đạo Phật đã phá tan mọi bức tường ngăn cách, vén lên bức màng đen tối đã bao trùm lên  tâm thức của chúng ta, mà bản thể Phật tính tự nhiên trong con người không nhìn thấy ánh sáng trong thế giới đầy khổ đau, giữa con người với con người, giữa con người với thế giới ngoại tại, vượt lên trên cái thấy biết phân biệt thiện ác, tốt, xấu. Thái Tông  có cái nhìn rất thoáng:
"Trong hang quỉ vẫn là lâu đài Di Lặc,
Dưới hắc sơn chẳng khác cảnh giới Phổ Hiền”.
 Còn Tuệ Trung quán triệt lý sắc không và mê ngộ một cách viên dung không phân biệt:
 “Khi mê thấy không sắc,
 Lúc ngộ hết sắc không ”.
sắc không và mê ngộ, xưa nay cùng đồng nhất thể. Ngài Huyền Quang thì bảo:
“Người ở trên lầu, hoa dưới sân. 
Vô ưu ngồi ngắm khói trầm xông.
Hồn nhiên người với hoa vô biệt,
Một đoá hoa vàng chợt nỡ tung”. 
Ngài đã cảm nhận được từng hơi thở của từng đoá hoa. Hoa với ông  như quyện vào nhau không còn phân biệt, sự liên hệ mật thiết giữa con người với thiên nhiên không còn phân biệt. Còn cụ Nguyễn Du diễn tả tinh tế:
"Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu,
 Người  buồn cảnh có vui đâu bao giờ".
 Đó là nhìn vào sự vật một cách chân xác, khách quan như cái gương phản chiếu mọi hiện tượng Phật giáo đời Trần có cái nhìn thoáng và bao quát như thế, nên ít có sự xung đột giữa con người với thiên nhiên, giữa con người với con người, đặc biệt nhìn sâu thẫm nơi tận nguồn nguyên uỷ của nội tâm không còn xẩy ra sự xung đột, không còn chấp vào cái xuất thế hay nhập thế của tri thức chấp trung, thiên kiến nhị nguyên kia, không phân biệt chân vọng, đồng thời chuyển hoá được nhân dân hiểu được triết lý cốt yếu của đạo Phật, đạo Phật là đạo từ bi, lúc nào cũng bao dung, thông cảm, không đối kháng với bất cứ ai, mà luôn luôn chủ trương hoà bình, dung hoà tất cả; chân với vọng, bạn với thù, thánh và phàm đều như nhau. Nhờ vậy đã tập hợp được một lực lượng tinh thần khá lớn,  góp phần vào thắng lợi vẻ vang của dân tộc.

Hiểu rõ hơn về cảnh giới giác ngộ là cảnh giới của một tâm thức bừng sáng. Bách Trượng Tổ Sư nói: “Đất lòng nếu rỗng không, thì mặt trời tự nhiên tự chiếu sáng, như mây vén mặt trời hiện”. Tâm tức Phật chẳng có gì phải bàn, phải tu thêm nữa. Một cái tâm thanh tịnh thì xả ly hết mọi vọng niệm, đây cũng chính là cảnh giới Tứ Thiền như kinh tạng Pali thường diễn đạt. Đây cũng là cửa Phật, cảnh giới của vô tướng, vô ngã siêu việt thể vượt lên trên tri thức nhận biết tầm thường, như như bất động của một tâm thức vắng lặng ngay giữa trần thế, đó chính là Phật sống. Thế nên sự chuyển hoá tâm thức trong mỗi con người ai cũng có thể trực nhận và chứng đắc. Tâm Phật và tâm chúng sanh chẳng dị đồng. Chân lý thực tại chẳng ở đâu xa, không thể truy tìm từ bên ngoài mà ngay trong tâm thức của mỗi cá nhân hiện hữu. Trần Thái Tông từng thọ giáo y chỉ của Quốc Sư Phù Vân “Trong núi vốn không có Phật, Phật chỉ có trong tâm”. Trần Nhân Tông thì phát biểu trong Cư Trần Lạc Đạo Phú:
“…Vậy mới hay
Bụt ở cong nhà
Chẳng phải tìm xa
Nhân khuấy bổn nên ta tìm Bụt.
Đến cốc hay chỉn Bụt là ta”.
             
          (Cư Trần Lạc Đạo)

3. Giáo Dục Nhân Dân.
Trần Thái Tông đã mang cảnh giới giác ngộ của mình để hướng dẫn cho nhân dân, đưa họ trở về với bản thể tri thức thanh tịnh vốn có sẵn trong nội tâm của con người, phản tỉnh nội tâm tìm lại ánh sáng Phật tính mà xưa nay đã bị những cấu uế, trần tục, mê vọng tạo thành bức màng vô minh phủ kín không thấy được chân tướng tuyệt đối của Phật tính nơi tâm thức. Nay Thái Tông vì thương dân như con đẻ mà đem cái sở đắc của bản tâm mình, mà khai thị cho nhân dân biết quay trở lại nội hướng vào tâm thức chính mình, tìm ở nơi căn nguyên thâm sâu tột đỉnh của tâm thức, bằng ý thức giác ngộ, cái ý thức này phải siêu việt thể lên trên tất cả,  không còn có cái nhìn cố chấp vào đối tượng khách thể và chủ thể, mà phải bao dung toàn thể đồng nhất tính. Tấm lòng của vua và tấm lòng của nhân dân đồng một thể không khác “Lòng trẫm yêu dân như con trẫm vậy. Hiềm vì trăm họ ngu dại làm càn cho nên phải tội, trẫm lấy làm thương lắm, vậy từ nay về sau, tội gì cũng giảm bớt đi…”. Vua đã hướng dẫn cho người dân phải biết sống gắn kết lại với nhau, không tách rời những người xung quanh, phải biết tham gia vào mọi sinh hoạt của xã hội, chính trị, kinh tế, quân sự, văn hoá…Đây vừa là một kết tinh của quan niệm sống đạo, mà người Phật tử trước thời Trường Nguyên và Thường Chiếu đã thực hiện, để tạo tiền đề cho tư trào Phật giáo mới, mà đỉnh cao là sự ra đời của dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử của vua Trần Nhân Tông với chủ trương Cư Trần Lạc Đạo thông qua quan niệm Phật tại lòng của Quốc Sư Phù Vân và vua Trần Thái Tông.

Trần Thái Tông đã hướng dẫn cho người Phật tử thể hiện quan niệm sống đạo trong đời sống của mình. Tuy nhiên, sống đạo như thế đòi hỏi mỗi cá nhân phải biết lấy ít nhiều ý muốn của người khác làm ý muốn của mình, lấy tấm lòng của người khác làm tấm lòng của mình, đây rõ ràng là bước đầu của quá trình tu dưỡng bản thân của mỗi người qua việc xoá dần chủ nghĩa bản ngã vị kỷ để đi đến tư tưởng vô ngã về mặt đạo đức.

Ý muốn cá nhân của mỗi người tất nhiên không bao giờ chỉ bao gồm những ý muốn tốt, mà còn cả những ý muốn xấu. Tấm lòng của mỗi cá nhân cũng thế. Ngay tại bản thân của mỗi cá nhân đã có một sự đấu tranh quyết liệt giữa hai dạng ý muốn này, mà vua Trần Thái Tông đã miêu tả rất kặn kẻ qua các tác phẩm của mình như: “Giới Sát Văn”, “Giới Đạo Văn”…và đặc biệt trong “Lục Thời Khoa Nghi Sám Hối”. Vua đã chỉ ra chân lý tối hậu tuyệt đối, chẳng nhọc phải tìm xa, chỉ cần tìm hiểu nơi tự thân, thì sẽ thấy được tính giác ngộ đó mà thành Phật. Tính giác ngộ đó thuật ngữ Thiền Tông gọi là Phật tính, thấy được tính thì tự khắc thành Phật. “Há biết đề giác tính ai ai nên tròn, chẳng biết Bát-Nhã căn lành người người đầy đủ” . Nói tóm lại, sự giác ngộ đã có sẵn trong mọi người, trí tuệ Bát-Nhã cũng có đầy đủ trong mọi người, không cần phải tìm đâu cho xa mà trở về với bản lai diện mục của tâm thức sẽ thấy ngay. Thái Tông muốn tất cả Phật tử tự mình hiểu rõ được cảnh giới Phật tức là cảnh giới nhất nguyên, phi nhị nguyên. Bởi vì, còn là nhị nguyên thời còn bị hạn chế, và không được tự tại, Thái Tông nói: “Tồn tại mà không biết đó là Phật sống vậy”. Tức là chúng sanh vốn có Phật tính, mà không biết và gọi họ là Phật sống.

4. Cư Trần Lạc Đạo.
Tư tưởng Phật Giáo “biện tâm” của Trần Thái Tông, và tư tưởng “Cư Trần Lạc Đạo” của Trần Nhân Tông đã mang lại sức mạnh cho Phật giáo đời Trần thời bây giờ, tư tưởng như là một giột nước cam lồ tắm mát cho mọi người, giúp cho người tu đạo tìm thấy Phật tại tâm không tìm đâu xa. Phật giáo biện tâm và cư trần lạc đạo là Phật giáo của mọi người, nó không hạn chế trong tăng sĩ cũng không hạn chế trong chùa chiền. Ai cũng biện tâm được, không kể là xuất gia hay tại gia, ở giữa trần tục, chứ không cần ở chùa, ở núi vẫn có thể vui với đạo. Tư tưởng đó làm cho đạo Phật mặc dù có giáo lý cao siêu thâm diệu nhưng vẫn có nền tảng quần chúng rất rộng rãi… Đó là sức mạnh của số đông, Sức mạnh nội tại, sức mạnh của những ai giác ngộ được bản tâm mình. Sức mạnh của Phật giáo đời Trần là sức mạnh của nội lực, nội tâm là sức mạnh chân chính, sức mạnh đó thành tựu được nhờ Phật Tử khéo biện tâm, biết trở về với bản thể tâm thức của mình, trở về với trí tuệ Bát-Nhã vốn sáng suốt chiếu khắp của mình. Với trí tuệ sáng suốt đó con người sẽ sống an vui tự do, tự tại, không còn bị ngoại cảnh chi phối, lôi kéo nữa.
“Trong nhà sẵn ngọc thôi tìm kiếm,
Lặng lòng đối cảnh hỏi chi thiền”.

(Cư Trần Lạc Đạo Phú)
Một đạo Phật của mọi người, một đạo Phật hướng nội và biện tâm giúp mọi người trở về với thực tại của mình, không phải đi tu vào chùa, cạo đầu, mặt y ca sa mới giác ngộ được Phật tính, mà Phật giáo đời Trần đã biểu dương tư tưởng cư trần lạc đạo, con người vốn có trí tuệ sáng suốt, sống an nhiên tự do, tự tại. Xem mọi người đều là Phật, đều là những vị Phật sống mà không tự biết. Trong bài luận về niệm Phật ông viết: “Phật thân tức ngã thân thị, vô hữu nhị tướng, tướng tướng vô nhị, tịch nhiên thường tồn, tồn nhi bất tri, thị vi hoạt Phật” . Nghĩa là thân ta tức là thân Phật, không có hai tướng, tướng Phật và tướng ta không phải hai, lặng vậy thường tồn tại, tồn tại mà không biết, đó là Phật sống vậy. Người là Phật, nhưng người lại không tự biết, cho nên Trần Thái Tông gọi người là Phật sống, đặc biệt tư tưởng độc đáo này không phải là riêng có của Trần Thái Tông, cháu ông là Trần Nhân Tông sau này cũng nhắc lại tư tưởng đó một cách nôm na hơn, nhưng không phải là không dứt khoát.
“Bụt ở cong nhà,
chẳng phải tìm xa
Nhân khuấy bổn nên ta tìm Bụt
Chỉn mới hay, chính Bụt là ta”.

(Cư Trần Lạc Đạo)
Tuệ Trung Thượng Sỹ là nhà Phật học lớn đời Trần và là thầy dạy của Trần Nhân Tông cũng nói lại tư tưởng này trong các bài ”phàm thánh bất dị” và ”mê ngộ bất dị”. Người người là Phật, người người trong cuộc sống thực tế, đều cố gắng phấn đấu để xứng đáng với danh hiệu đó. Người người hàng ngày đều chăm lo tu tâm sửa tánh, phát huy một nỗ lực đạo đức lớn lao để xứng đáng với danh hiệu đó, tư tưởng này đưa con người xa lánh những ham muốn danh lợi thế tục tầm thường. Tạo nên một cuộc sống xã hội đẹp đạo, đẹp đời, mọi người ai ai cũng có một cuộc sống vui vẻ an lạc, tự do, tự tại, xa lìa tất cả những khổ đau trần thế.
 
CHƯƠNG IV: TƯ TƯỞNG VỀ Ý MUỐN VÀ TẤM LÒNG
Như trên đã nói: “Phàm làm bậc nhân quân thì lấy ý muốn của thiên hạ làm ý muốn của mình, lấy tấm lòng của thiên hạ làm tấm lòng của mình”. Rõ ràng, có một thay đổi lớn trong nhận thức của dân tộc, bao gồm cả tầng lớp lãnh đạo cũng như quần chúng nhân dân về vai trò của người lãnh đạo, với yêu cầu của người lãnh đạo phải có tài đức và quy định nội tài đức của Pháp Bảo và Viên Thông là phải sửa mình và yêu người, thì việc Phù Vân đòi hỏi người lãnh đạo phải lấy tấm lòng người dân làm tấm lòng của mình, lấy ý muốn người dân làm ý muốn của mình để phản ánh một nội dung hoàn toàn mới của quan niệm lãnh đạo. Lãnh đạo không chỉ có tài và đức, bởi vì nhiều người cũng có tài có đức nhưng không thể lãnh đạo toàn dân được, bên cạnh yếu tố cơ bản tài và đức, còn đòi hỏi cả một khoa học và nghệ thuật lãnh đạo tức là phải biết áp dụng tôn chỉ của quốc sư Phù Vân về quan điểm trên.

1. Thể Hiện Tinh Thần Vô Chấp.
Tư tưởng lớn nhất của Phật giáo đời Trần là không chấp tướng, không giáo điều, không vướng mắc vào hình thức, khiến cho đạo Phật không hạn chế trong giới tu sĩ, hay trong chùa chiền. Ai cũng học và tu đạo Phật được; ở đâu, làm gì cũng học và tu đạo Phật được, miễn là biết rõ vào tâm mình, tìm hiểu tâm, cải tạo tâm và sử dụng tâm cho tốt, trong “Khoá hư lục”, Thái Tông gọi là biện tâm. “mặc vấn đại ẩn, tiểu ẩn, hữu biệt tại gia xuất gia, bất câu tăng tục, chỉ yếu biện tâm, bổn vô nam nữ hà tu trước tướng?” . Nghĩa là, không kể là sống ẩn trên núi hay là giữa thị thành, không phân biệt tại gia hay xuất gia, tăng hay tục, điều chủ yếu là biện tâm, vốn không có phân biệt nam nữ sao lại còn chấp tướng. Vì không chấp tướng, nên Phật giáo đời Trần mới có được một nhân vật đặc biệt như Tuệ Trung Thượng Sĩ, tuy là một cư sĩ, có vợ con, ăn mặn chứ không ăn chay, nhưng lại được mọi người, tăng cũng như tục tôn kính, học hỏi như là một bậc thầy lớn trong đạo. Thậm chí, Trần Nhân Tông và Pháp Loa là vị Tổ thứ nhất và vị Tổ thứ hai của Phái thiền Trúc Lâm cũng suy tôn Tuệ Trung là thầy học của mình. Với tinh thần không chấp tướng, vua Trần Nhân Tông sau khi xuất gia, đã không quản gian khổ nhọc nhằn, đi khắp nơi trong nước, khuyên nhủ mọi người hãy sống theo năm giới, mười thiện nghiệp là những nguyên lý của đạo đức Phật giáo.

Đạo Phật đời Lý_Trần là đạo Phật của từ bi và trí tuệ, là hai đức hạnh hàng đầu của đạo Phật, tinh thần từ bi thì như đã nói ở trên còn hạnh trí tuệ của đạo Phật đời Lý Trần, có đặc điểm là nó không hướng tới giải quyết các vấn đề thuần tuý lý luận hay là siêu nghiệm, như chúng ta có thể thấy ở một số luận sư Phật giáo Ấn Độ, hướng tới giải quyết những vấn đề rất cụ thể, rất bức xúc, có tầm quan trọng sanh tử đối với đất nước như là cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông là một kẻ thù có sức mạnh vật chất và quân sự gấp hàng trăm lần nước ta. Ví như bọ ngựa đấu với cổ xe, hay trứng chọi với đá.
“Nực cười châu chấu đá xe,
Bảo rằng chấu ngã, ai ngờ xe nghiêng”.

2.  Thay Đổi Thiền Phái.
Việc vua Trần Thái Tông lên ngôi báo khai sáng ra triều đại nhà Trần là đáp ứng nhu cầu cấp thiết của đất nước bây giờ. Một là thâu giang sơn về một mối, thống nhất toàn bộ hệ tư tưởng đất nước thời bây giờ từ trong ý chí nội tại thể hiện qua hành động. Hai là trên dưới đồng lòng, cùng nhau xây dựng phát triển đất nước thịnh vượng và bảo vệ vững chắc các thành quả đạt được với bất cứ thế lực nào cố tình đe doạ. Ngoài việc thực hiện trọn hai mục tiêu đề ra. Trần Thái Tông còn đặc cho mình một nhiệm vụ hết sức trọng đại cần phải được đề cập là ngài chủ trương đặt nền móng thống nhất các thiền phái hiện có như: Tỳ-ni-đa-lưu-chi, Vô Ngôn Thông,Thảo Đường, tiến đến sát nhập và hình thành dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử duy nhất đời Trần, hay nói một cách khác chính xác và cụ thể hơn, người khai sáng ra thiền phái Trúc Lâm Yên Tử là Trần Nhân Tông làm đệ nhất Tổ, nhưng người có công đặt nền móng thiết lập cho thiền phái Trúc Lâm phát triển và truyền thừa từ mô hình tổ chức cho đến nội dung tu tập hành trì, tất cả đều mang tính độc lập và thể hiện một bản sắc dân tộc là vua Trần Thái Tông với sự kiện ra đời dòng thiền này có ý nghĩa rất lớn, nó đáp ứng nhu cầu lịch sử của dân tộc là xây dựng một đất nước Đại Việt độc lập tự chủ, không chỉ được xác định trên lãnh thổ biên giới về địa lý, mà còn độc lập tự chủ trên mọi phương diện lãnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá và ngay cả tôn giáo. Thế nên, dù trong cương vị là hoàng đế, hay là Thái Thượng Hoàng, hay là vị Thiền Sư. Ngài luôn khát khoa thiết lập dòng thiền mới mang tính cách Đại Việt và thật phù hợp với bối cảnh lịch sử dân tộc đã sang trang và tình hình phát triển của đất nước Đại Việt. Đứng về mặt tôn giáo mà nói thì nhà trần phải chọn lựa Thiền Tông làm ý thức hệ tiêu biểu, nhưng cần phải thay đổi nội dung của các thiền phái để đáp ứng các nhu cầu căn bản. Vì thế, Nhà Trần chủ trương lập ra một thiền phái có nội dung tư tưởng độc lập thể hiện đúng tinh thần bản sắc dân tộc hơn, hướng đến các mục tiêu sau:

1. Tự mình phân biệt với các thiền tông Trung Quốc biểu lộ tính độc lập.

2.  Thay đổi một phần nội dung tiêu cực và thân ngoại quốc của các phái thiền tông trong nước.

3. Vượt lên trên sự khác biệt của tất cả các tông phái phật giáo cũng như các tín ngưỡng phi phật giáo để nhằm thống nhất ý thức hệ. Không chịu trách nhiệm về sự khác biệt và đựng độ đã xẩy ra trong lịch sử giữa các thiền tông với nhau cũng như thiền tông với các tín ngưỡng khác. Do đó thu hút các tín ngưỡng.

4. Tự khoác cho mình chiếc áo một tôn giáo mới, tuy rằng thực tế chỉ là một phái, với đầy đủ các yếu tố để phục vụ quần chúng.

Thực tế, tư tưởng lập thiền phái mới được manh nha từ khi phật giáo chủ trương mới, nhập thế, tuỳ tục, tuỳ duyên, nhưng bất biến, để đáp ứng các nhu cầu lịch sử dân tộc đặt ra của một đất nước vừa mới độc lập và đang thực hiện thống nhất trên mọi phương diện. Là ông vua đầu tiên nhà Trần, dưới cái nhìn của một nhà chính trị Trần Thái Tông càng cương quyết thực hiện ý tưởng đó. Khi chấp nhận lời khuyên của quốc sư Phù Vân như một là quan điểm chính tri phục vụ đạo pháp và dân tộc, thì ý tưởng thống nhất các thiền phái thành “Phật giáo nhất thống” là điều tiên quyết đối với sứ mệnh quốc gia và cả đạo pháp.       
    
Dưới ảnh hưởng và uy tín của nhà vua vào thế kỷ 8, ba thiền phái Tỳ-ni-đa-lưu-chi, Vô Ngôn Thông, Thảo Đường đã theo thời gian lịch sử, dần dần sát nhập khiến cho thiền phái Yên Tử thành thiền phái Trúc Lâm duy nhất đời Trần, thống nhất tất cả các thiền phái thời bây giờ. Người khai sáng ra thiền phái Trúc Lâm Yên Tử là Trần Nhân Tông mệnh danh là Trúc Lâm Đại Đầu Đà Điều Ngự Giác Hoàng, nhưng có công đặt nền móng cho thiền phái Trúc Lâm phát triển từ mô hình tổ chức cho đến nội dung tu tập hành trì là Trần Thái Tông.

Ta thấy thiền phái Trúc Lâm sau khi sát nhập lại có bốn đặc điểm nổi bậc nhất mà khi nói đến Phật giáo đời Trần là nói đến thiền phái Trúc Lâm.

Đặc điểm thứ nhất là thiền phái Trúc Lâm không cực đoan như một số ít thiền phái Trung Hoa  chú trọng đến toạ thiền, tham cứu thoại đầu, xem việc học kinh điển như một chướng ngại cho sự giác ngộ, vì sẽ làm tăng kiến giải, thiền Trúc Lâm vừa tu thiền, vừa giảng dạy kinh điển. Đây chính là tinh thần thiền giáo đồng hành cuả thiền Trúc Lâm, tinh thần này đã tạo nên sức sống mãnh liệt cho Phật giáo đời Trần.

Đặc điểm thứ hai là tinh thần nhập thế. Phật giáo đời Trần không còn dành riêng cho người xuất gia mà cư sĩ tại gia cũng tu được, cả tăng lẫn tục ai cũng có thể ngộ đạo, nhiều người sống giữa dòng thế tục vẫn vui với đạo.

Đặc điểm thứ ba là tông chỉ của thiền phái Trúc Lâm, lấy tâm làm “tâm tông”, được biểu hiện qua câu đáp của Tuệ Trung Thượng Sĩ: “Phản quan tự kỷ bổn phận sự, bất tùng tha đắc” nghĩa là soi sáng lại chính mình là phận sự gốc, không từ bên ngoài mà được. Đó cũng là tinh thần câu nói của quốc sư phù vân trả lời Trần Thái Tông, khi nhà vua trốn lên núi Yên Tử để tìm Phật “Trong núi vốn không có Phật, Phật chỉ ở tại tâm…”.

Đặc điểm thứ tư là tinh thần hoà hợp dân tộc. Tinh thần tam giáo đồng nguyên của nhà Tống không tạo sức mạnh cho dân tộc. Thiền phái Trúc Lâm khéo dung hoà Nho Giáo để kiện toàn cơ cấu tổ chức chính quyền  quân chủ, để phát triển văn hoá, đào tạo nhân tài cho đất nước. Tinh thần này thể hiện rõ qua lời khuyên của quốc sư Phù Vân: “phàm làm đấng nhân quân phải lấy ý muốn của thiên hạ làm ý muốn của mình, lấy tâm thiên hạ làm tâm của mình.

Nay thiên hạ muốn đốn bệ hạ trở về, bệ hạ không về sao được. Song phần nghiên cứu nội điển, mong bệ hạ đừng xao lãng”.

3. Phong Cách Thiền Của Vua Trần Thái Tông.
Ta đã thấy, quan điểm của vua Trần Thái Tông về tâm và yêu cầu phải xử lý nó, vì tâm ấy tính bản nhiên vốn thanh tịnh, song cũng có thể vướng vào các khách trần phiền não, bị ngoại cảch chi phối làm mất đi cái tính bản nhiên thanh tịnh vốn có sẵn mà được thay vào đó một cái tâm phân biệt chấp trung, phi thực tại, khó uốn nén, lạc mất tự tính, ngày càng luốn sâu vào bóng tối của trần thế. Xử lý tâm chính là xử lý khách trần phiền não này, để có thể tạo nên cuộc sống an bình cho mỗi con người, từ đó xây dựng nền an bình cho đất nước. Muốn xử lý tâm cho được, người ta cần phải có những cách thức và phương pháp thích hợp. Chính những cách thức và phương  pháp xử lý ấy sẽ hình thành ra phong cách thiền của vua Trần Thái Tông. Đọc lại các tác phẩm còn lưu giữ trong Khoá Hư Lục, ta thấy nhà vua đã sử dụng ba phương thức chính. Đó là phương thức niệm Phật, phương thức lễ sám và phương thức thiền.

a.  Phương Thức Niệm Phật.
Quan điểm của vua Trần Thái Tông coi phiền não như những khách trần, tức những bụi bặm bên ngoài, mà coi người xuông phải trong cuộc sống của mình. Chính chúng đã tạo nên những mặt xấu của tâm thức, mà ta đã đề cập tới ở trên, chúng làm trở ngại cuộc sống an lạc của mỗi người. Trong bài niệm phật luận vua Trần Thái Tông xác định ngay niệm với ý nghĩ nhớ, nghĩ là một thứ bụi bặm bên ngoài, dù bản thân nó do tâm dấy lên và có thể chủ động xử lý chúng: “Tâm khởi điều thiện tức là niệm thiện, niệm thiện khởi thì thiện nghiệp báo lại. Tâm khởi điều ác là niệm ác, niệm ác nảy sinh thì ác nghiệp ứng theo. Như gương hiện ảnh, như bóng theo hình” .

Vua Trần Thái Tông đưa ra ba cách thức khác nhau của phương pháp niệm Phật. Cách thức thứ nhất là dành cho những bậc thượng trí, do có hiểu biết tâm mình chính là Phật và các ý niệm chính là bụi bặm bên ngoài. Những bậc thượng trí có hiểu biết tận thăm thẳm của cọi nguồn căn nguyên của bản thức về Phật tính, không bên ngoài, không hướng ngoại tìm cầu, mà ở ngay tại tâm thức nội tâm phát ra, như thế thì chính họ là những bậc giác ngộ, những vị hoạt Phật đang tồn tại trong cuộc đời trần thế đầy bụi bặm nhiễu nhương này, đúng như vua Trần Thai Tông đã viết: “Bậc thượng trí thì tâm tức Phật, không cần tu thêm, niệm tức là bụi trần, không vướng một mảy may, trần và niệm vốn tịnh, nên nói là như như bất động. Đó là Phật thân. Phật thân tức thân ta ấy vậy, không có hai tướng, tướng và tướng không hai, lặng lẽ tồn tại thường hằng. Tồn tại mà không biết, đó gọi là Phật sống” .

Niệm Phật đối với bậc trung trí tức là bậc có trí tuệ bậc trung trung. Những người này phải huy động ý chí của mình, dùng niệm thiện để đẩy lùi niệm ác, phát huy mặt tốt để đẩy lùi, đè bẹp và thủ tiêu mặt xấu, để cuối cùng cũng đạt được trình độ như người trí tuệ cao hơn: “Bậc trung trí ắt nhờ vào niệm Phật, chú ý tinh cần, niệm niệm không quên thì tâm mình thuần thiện, niệm thiện đã hiện thì niệm ác liền tiêu, niệm ác đã tiêu thì chỉ còn niệm thiện. Dùng niệm mà ý thức về niệm thì niệm niệm đều diệt. Khi niệm đã diệt ắt sẽ về chánh đạo, lúc mệnh hết qua đời sẽ được niềm vui cõi niết bàn. Thường lạc ngã tịnh là đạo của phật” .

Niệm Phật đối với người có mức trí tuệ thấp hơn, đối với những người này niệm Phật là để thoả mãn một số mong ước. Trong khi sống thì mong ước được thấy Phật, đến khi chết thì họ lại mong ước được về nước Phật, thoát khởi cuộc đời bụi bặm nhọc nhằn này. Đây là quan niệm và cách thức niệm Phật đơn giản và dễ hiểu nhất. “Kẻ hạ trí miệng siêng niệm lời Phật, lòng muốn thấy hình tướng Phật, thân nguyện sinh ở nước Phật, ngày đem siêng tu không thoái chí thay đổi, như vậy đến khi mệnh hết qua đời sẽ theo niệm thiện mà được sinh ở nước Phật, sau đó lãnh hội được giáo pháp của chư Phật nêu ra mà chứng được bồ đề cũng vào cõi Phật” .

Qua những cách trình bày trên ta có thể thấy rằng không phải vua Trần Thái Tông muốn dùng cái sở học của mình để đưa ra biện chứng giải thoát, hay những lý luận của người tri thức học rộng hiểu sâu để làm tăng thêm phần danh tiếng cho bản thân mình, mà là lập luận của người ngộ đạo, ngài đã thể hiện rõ tất cả những hàng động và việc làm của các vị Bồ tát nhập thế, tấm lòng của Như Lai, bởi Ngài đã dung hoà được cái Nhân tính cùng với Phật tính tức là Thái Tông đã ngộ được cái Như Lai đã ngộ, tức tâm của Ông đồng với tâm Phật, là cái “Tâm đồng nhất thể”. Ngài là Phật sống đang tồn tại ở cõi đời này. Một đấng nhân Quân đứng trên muôn vạn người dân, ai ai cũng phục tùng, muốn gì được nấy. Vậy mà Ngài xem ngai vàng như là đôi dép rách muốn vứt bỏ lúc nào cũng được, chuyên tâm tu thiền, học đạo. Đó là hành động của người đã ngộ đạo chứ không phải của kẻ vì cầu danh lợi tiếng tăm và quyền uy để bảo vệ sự nghiệp của mình đã gầy dựng nên. Ngài vì thấy nhân dân đau khổ cùng cực, luôn đùa giỡn với những thứ phù phiếm của trần thế, có rồi lại mất, mất rồi lại có, xoay chuyển như một vòng tròn, ngài muốn khai ngộ nhân dân nhập Phật tri kiến mà kể ra ba hạng người niệm Phật với công hiệu khác nhau, để chúng ta tuỳ theo căn cơ của mình mà áp dụng.

b. Phương Thức Lễ Sám.
Tuy nhiên, dù dễ thực hành và phổ biến đến đâu, phương thức niệm Phật cũng có những hạn chế, vì nó có thể hợp với người này nhưng không nhứt thiết hợp với người khác, hoặc cũng có thể có người muốn thực hành cả ba phương thức một lúc để hổ trợ cho nhau. Do đó, vua Trần Thái Tông đã đề ra phương thức thứ hai là phương thức lễ sám. Đó là cách thức tốt nhất mà đức Phật đã từng dạy: “Ta lúc trước, trong bảy năm, ngày đêm sáu thời, sám hối các trọng tội do các nghiệp thân, miệng, ý tạo ra, từ đó về sau, mới được thanh tịnh, trải qua mười kiếp rồi chứng được pháp thân” .

Vua Trần Thái Tông đã đưa ra phương thức lễ sám theo sáu thời bao gồm buổi sáng, buổi trưa, buổi chiều, buổi tổi, nữa đêm, và khuya. Việc chia lễ sám làm sáu thời như thế là nhằm phục vụ cho việc sám hối sáu căn của con người, tức mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, và ý “Phàm những nghiệp chướng tích tụ đều do sáu căn tạo thành”. Trong cuộc sống của mình, con người bị chi phối bởi nhiều hoàn cảnh tạo ra cuộc sống hiện sinh. Nên dễ quên chính bản thân mình, tức quên mất nguyên lai Phật tính nội tại, đánh mất chính mình trong cuộc chạy đua với buồn vui giận ghét và nhiều cảm xúc cũng như tính toán lẫn lộn khác trong thế giới ảo hoá này. Trong cuộc chạy đua phù du ảo tưởng ấy, sáu bộ phận có tác động to lớn đến sự thành bại của cuộc đua. Đó là sáu giác quan, hay là sáu căn tức mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý. Con người nhờ sáu giác quan này mà có thể tồn tại, cảm nhận và đối phó với chính mình và thế giới khách quan. Nhưng cũng chính từ sáu giác quan đó, con người có thể đánh mất chính mình, để đưa tới kết quả mà bài “Phổ Thuyết Sắc Thân” dẫn trên đã nói: “Mắt bị sắc lôi lên núi kiếm, tai theo tiếng gọi đến rừng đao, đầu mũi ngủi khói tanh hôi trong lưỡi ngậm hồn sắc nóng. Thân khiếp sợ đồng sôi tưới tắm, ý chua cay vạc lửa nấu nung. Trần gian dù trăm tuổi trăm năm, địa ngục mới một ngày một tối.”

Như vậy, vua Trần Thái Tông hướng dẫn và khuyên mọi người ngày đêm sáu thời nên chuyên tâm lễ sám để tiêu trừ nghiệp chướng do sáu căn tiếp xúc với sáu trần trong cuộc sống lo toan hàng ngày, mục đích của cuộc sống ấy chỉ để tạo nên những thứ vật chất ảo hoá không thật, cứ như thế khác nào là con ma dẫn dụ ta mãi mãi say đắm trong hưởng thụ dục lạc của trần thế nhân sinh, đi vào cõi luân hồi u ám không thấy được ánh sáng của tri thức giải thoát, quên đường lạc lối, rơi vào bóng tối hố thẳm, chơi vơi không có chổ bám víu, nếu không biết dừng lại, phản tỉnh lại nơi chính nội tâm của mình, hướng thượng tự biết ăn năn sám hối để tiêu trừ bớt nghiệp chướng do tham sân si tác thành.

c.  Phương Thức Thiền
Nếu lễ sám tạo cho người ta sự tỉnh giác thường trực đối với những sinh hoạt hằng ngày của chính mình thì phương thức sẽ giúp đẩy những tỉnh giác đó lên cực điểm, tạo nên một cuộc bùng nổ ý thức làm cho ta nhận ra bộ mặt xưa nay của chính bản thân mình. Đó là sự giác ngộ. Song, thiền có nhiều cách, từ những cách đơn giản nhất như đếm hơi thở, cho đến những cách phức tạp nhất như suy niệm về công án.

Cho nên, vua Trần Thái Tông đã dành một lượng lớn các tác phẩm mà vua Trần Thái Tông đã viết để bàn về thiền dưới nhiều khía cạnh khác nhau của nó, từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp. Từ đó, ta có thể thấy nhà vua đã có một quan tâm đặc biệt đối với vấn đề thiền. Vua Trần Thái Tông đã viết: ”Người học đạo chỉ cốt cầu thấy tính. Tuy thụ hết mọi tịnh giới mà không ngồi thiền thì định lực không sinh. Định lực không sinh thì vọng niệm không diệt, thế mà lại muốn thấy tính, chẳng cũng khó sao!”

Đối với vua Trần Thái Tông Giới, Định, Tuệ là ba mặt của một thể thống nhất, là đời sống đạo, chúng gắn bó với nhau để tạo nên một đời sống ấy một cách chặt chẽ không thể tách rời được. Điều này cũng dễ hiểu thôi. Người ta không thể thiền định được nếu tự bản thân không chấp hành một số kỷ luật đã quy định, ngược lại người ta chấp hành kỷ luật là nhằm phục vụ cho việc thành tựu một số công việc nào đó mà họ đang và sẽ thực thi. Từ sự thành tựu của công việc đó, người ta sẽ có những nhận thức mới. Nói như Giới Định Tuệ Luận: “Giới trừ bỏ bẩn ác độc, Định trừ bỏ bẩn trói buộc, Tuệ trừ bỏ bẩn sai khiến”. Nhiệm vụ của chúng ta là xây dựng một con đường thuần tuý mang bản chất của từ bi và giải thoát. Giới là đoạn thiện đầu, định là đoạn thiện giữa, tuệ là đoạn thiện cuối của con đường ấy.

Về giới, vua Trần Thái Tông xác định có vai trò rất quan trọng trong đời sống Phật giáo. “Tịnh giới tiếng phạn là ba la đề mộc xoa, ba đời các đức Phật sở dĩ thành Phật đều không thể vượt qua tịnh giới ấy được”. Giới quan trọng đối với đời sống tu tập cho cả tăng lẫn tục, nhưng nếu hành giả không thiền định thì dù giữ giới cũng không thể giác ngộ được. Vì luôn bị sai quấy bởi những phiền não do sáu căn tiếp xúc với sáu trần trong sinh hoạt hàng ngày, phát sinh ra ma chướng tâm, không thể an định trong tâm thức được, thì làm gì có giải thoát và đời sống an lạc hạnh phúc.

Vậy là giới được xem như một tiền đề để thực hành thiền định và thiền định là nhằm mục tiêu phát tuệ, như Tuệ Giáo Giám Luận đã viết: “Rằng, tuệ sinh ra từ định lực, nếu tâm định thì gương tuệ sinh, nếu tâm loạn thì gương tuệ mất, cũng như chiếc gương đồng, trước hết phải lâu chùi, sau mới sáng trong chiếu soi. Nếu không lâu chùi thì rêu đóng bụi mờ. Đã bụi mờ sáng sinh sao được? Cho nên, biết rằng tuệ xuất hiện từ định, định nẩy sinh từ tuệ, định tuệ nương nhau không bỏ sót một bên nào” .

Phát tuệ tức là thấy được bản chất của sự vật, trong đó có cả bản thân con người, hay triết học gọi là thấy được bản thể Phật tính. Khi thấy được Phật tính tức là đã giác ngộ, tức thành Phật. Nhưng thiền định thế nào để thấy được Phật tính? đó mới là điều đáng quan tâm, trong Phổ Khuyết Phát Bồ Đề Tâm Văn vua Trần Thái Tông nhắc tới phương pháp “Hồi quang phản chiếu” phương pháp này xuất phát từ quan niệm hồi thần của Kim Cương Tam Muội Kinh. “Hồi thần” là một khái niệm cơ bản của thiền tức trở lại với bản chất giác ngộ của mình, bản chất giác ngộ này mọi người đều có, nhưng mãi rong ruổi theo những phiền não bên ngoài, nên quên mất chính bản thân, quên mất bản lai diện mục. Vì thế, yêu cầu là phải hồi quang phản chiếu, tức đem ánh sáng trở về và soi rọi lại chính bản thân mình. Tư tưởng hồi quang phản chiếu này về sau Chân Nguyên đã diễn tả lại trong Thiền Tông Bản Hạnh.
“Chân Phật nào có Niết Bàn nghiễm chứng không tịch phục hoàn bản nguyên” .
Tóm lại, dù bằng phương thức niệm Phật, lễ sám hay thiền định vua Trần Thái Tông cũng muốn trình bày cho chúng ta những cách thức thực hiện theo phong cách thiền mà nhà vua quy định và những gì ta đã nói ở trên cho thấy rõ một phần nào phong cách ấy. Nó phản ảnh không chỉ đời sống đạo của người Phật giáo Đại Việt vào thời đại ấy, mà còn phản ánh cả đời sống học thuật của dân tộc ta. Đó là làm sao cho ý muốn, cho tấm lòng của những người dân Đại Việt thời ấy có những nét tươi sáng và dễ chịu hơn.

4. Viết Lục Thời Khoa Nghi Sám Hối.
Vua khuyến cáo mọi người cần phải giữ sáu căn thanh tịnh khi tiếp xúc sáu trần. Qua phương pháp thực hành sám hối. Sám hối là hình thức phản tỉnh để tịnh hoá tâm thức ra khỏi vùng tâm thức bị rối loạn vì chúng có thể chất chứa các hạt giống tham sân si nên không an trú trong định và không phát sinh tuệ giác được, với tấm lòng từ bi luôn quan tâm đến đời sống của người dân như vậy. Cho nên, Trần Thái Tông mới biên soạn khoa nghi sám hối để tự làm lợi cho mình và để làm lợi cho người ta, mục đích là trở về cái tự tánh vốn thanh tịnh tronh sáng không bị cấu nhiễm bởi các trần. Ngài viết: “sau đó lại nghĩ rằng: phàm những nghiệp chướng tích tụ đều do sáu căn tạo thành , cho nên thích ca văn Phật khi chưa thành đạo trước tiên phải vào tuyết sơn tu hành khổ hạnh trong sáu năm, cũng vì sáu căn đó. Vậy trẫm phỏng theo ý ấy, chia sáu căn thành sáu thì, mỗi thì sám hối một căn. Trẫm tự tay viết ra lời sám gọi là Lục Thời Lễ Phật Sám Hối Khoa Nghi”.

Chính vì sáu căn ấy có thể đưa đến những hậu quả tai hại cho con người, việc lễ sám đã được vua Trần Thái Tông biên soạn theo cách của ngài nhằm khắc phục những hậu quả tai hại ấy, tức khắc phục  những ý muốn xấu và tâm hồn xấu, theo tư tưởng là phải lấy ý muốn của thiên hạ làm ý muốn của mình, lấy tấm lòng thiên hạ làm tấm lòng của mình. Lễ sám được chia ra sáu thời trong một ngày, mỗi thời cách nhau bốn tiếng. Việc chia sáu thời này nhằm thuận tiện cho sự sám hối sáu giác quan. Đó là thời sáng dành cho mắt, thời trưa dành cho tai, thời chiều dành cho mũi, thời đêm dành cho lưỡi, thời nữa đêm dành cho thân và thời khuya dành cho ý.

Trình tự tiến hành một buổi lễ sám được vua quy định như sau: mười một bước cho buổi lễ đâàu, còn hai buổi lễ tiếp theo thì bước đọc theo kệ răn thúc mọi người thường bị tỉnh lược, còn lại như vậy mười bước thời lễ sám dành cho buổi sáng, như thế gồm:
1.     Đọc kệ răn thúc mọi người.
2.     Lễ đọc văn dâng hương buổi sáng.
3.     Đọc kệ dâng hương.
4.     Đọc kệ dâng hoa.
5.     Đọc lời tâu bạch.
6.     Đọc văn sám hối tội căn do mắt.
7.     Dốc lòng khuyến thỉnh.
8.     Dốc lòng tuỳ hỷ.
9.     Dốc lòng hồi hướng.
10.   Dốc lòng phát nguyện.
11.   Đọc kệ vô thường buổi sáng.

Còn đến lễ sám trưa, ta chỉ thấy những bước sau:
1.     Lễ đọc văn dâng hương buổi trưa.
2.     Kệ dâng hương.
3.     Kệ dâng hoa
4.     Lời tâm bạch
5.     Lời sám hối tội căn do tai
6.     Dốc lòng khuyến thỉnh
7.     Dốc lòng tuỳ hỷ
8.     Dốc lòng hồi hướng
9.     Dốc lòng phát nguyện
10.   Đọc kệ vô thường buổi trưa

Đến thời lễ sám chiều cũng tương tự.
1.     Lễ đọc văn dâng hương buổi chiều
2.     Kệ dâng hương
3.     Kệ dâng hoa
4.     Lời tâu bạch
5.     Lời sám hối tội căn do mũi
6.     Dốc lòng phát nguyện
7.     Đọc kệ vô thường buổi chiều.

Riêng về các buổi lễ ban đêm, tức đêm, nữa đêm và khuya, thì ngay buổi lễ sám đêm, trước bước đọc văn dâng hương, ta có hai bước khác đó là:
1.     Kệ khuyến chúng vào lúc hoàng hôn
2.     Kệ tám khổ
3.     Văn dâng hương đêm
4.     Lời tâu bạch
5.     Lời sám hối tội căn do lưỡi
6.     Dốc lòng phát nguyện
7.     Đọc kệ vô thường đêm

Các lễ sám nữa đêm, khuya cũng có những bước tương tự, chỉ trừ hai bước đầu.

Ý nghĩa của việc thực hiện lễ sám như thế rất rõ ràng. Nó tạo cho hành giả một tâm thức tỉnh giác thường trực trước những khách trần phiền não, mà con người luôn ở trong trạng thái tâm tỉnh thức, phải kiên quyết đè bẹp và loại bỏ chúng. Lời văn sám hối sáu căn do vua Trần Thái Tông viết cho các buôăi lễ ấy cũng bi hùng và thống thiết không kém những gì nhà vua viết về sắc thân, bốn mùa và các giới răn. Chúng nhằm tạo cho người đọc và người nghe những xúc cảm sâu sắc về những lỗi lầm mà mình có thể vướng phải do sáu giác quan gây ra. Hãy đọc lại thử lời văn sám hối tội căn do mắt thì ta  có thể thấy ngay. “Dốc lòng sám hôái, bọn chúng con từ vô thỉ vô lượng kiếp nay, quên mất bản tâm, không biết chính đạo, xa lìa đường khổ, bởi sáu giác quan. Nếu không sám hối trước, khó kịp hôái sau.

Nghiệp căn mắt là: ác nhân xem kỹ, nghiệp thiện có khinh, nhận lẫn hoa không, quêân xem trăng thất, ghét yêu đua dấy, đẹp xấu tranh dành. Mắt quáng sinh lầm, mờ đường chính biến xanh qua trắng lại, tía đúng vòng sai. Nhìn lệch mọi thứ, khác chi gã mù. Gặp người đẹp sắc, liếc trộm nhìn xiên, mù mất đời sau, bản lai diện mục, thấy của người khác, nhìn ngó đăm đăm, gặp kẻ nghèo hèn, mắt che chẳng đoái. Người dưng chết đói mười mắt ráo khô, thân quyến qua đời, đầm đìa lệ máu. Khi thấy tam bảo, lúc tới chùa chiền, gần Phật gần kinh, mắt không thèm ngó. Phòng tăng điện Phật, gặp gở gái trai, cuối mắt đầu mày, ham mê sắc dục.Không kiêng hộ pháp, chẳng sợ long thần, trố mắt ham vui đầu chưa từng cúi.

Những tội như thế, vô lượng vô biên, tự căn mắt sinh, phải sa địa ngục. Trải hà sa kiếp, mới lại thụ sinh. Dẫu có thị sinh lại chiụ mù chột. Nếu không sám hối, khó được tiêu trừ. Nay trước Phật đài thảy đều sám hối” .

Đức Phật dạy: “Thần thông bất năng thắng định nghiệp”, tức là thần thông không thắng được định nghiệp, nó chỉ làm tăng thêm bản ngã, có thêm chút danh, nên đối với bậc giác ngộ thì giá trị của nó chỉ là một trò đùa, trò chơi thôi. Con đường chuyển hoá tâm mình tu theo đạo Phật, tuy cũng phát triển tâm thức, tâm năng, nhưng điều đó có thể tịnh hoá được thân tâm, bào mòn bản ngã để diệt trừ tham ái, phiền não, để đi đến vô ngã giải thoát, Niết Bàn. Khi nội tâm an định, bất biến, như như bất động thì hành giả sẽ hưởng được những giây phút khinh an tuyệt vời, từ đó trí tuệ giải thoát phát sinh, hành giả thấy được bản chất của sự sống, bản chất của sự vật, thấy được qui luật vận hành của vũ trụ nhân sinh, thấy rõ nghiệp dẫn chúng đi trong luân hồi hay cụ thể hơn là bản thức được khai sáng, đã mang ánh sáng của trí tuệ trở về cõi vô minh mờ mịt để phá tan bóng tối mê mờ mà xưa nay chúng  đã bị che khuất . Do đó, cuộc sống không còn lầm chấp, không còn đắm nhiễm dục lạc của thế gian nữa, luôn hướng đến vô ngã, niết bàn giải thoát. Công danh cái thế, chẳng qua là một giấc mộng dài mà thôi, phú quý kinh người, khó tránh vô thường, tranh nhân chấp ngã, rốt cuộc là không, khoe giỏi khoe hay rốt cùng chẳng thực. Tứ đại rã rời thôi già trẻ, núi khe mòn mỏi hết anh hùng. Tóc xanh chưa mấy mà mầu bạc đã pha, kẻ mừng mới đi mà người điếu đã tới. Trẻ con chưa biết gì về cuộc sống nên chỉ biết ăn no rồi vui chơi, người đời thì chỉ biết kiếp sống hiện tại, nên suốt ngày lo mưu sinh, công danh sự nghiệp, tranh dành danh lợi, lo hưởng thụ ngũ dục… đến khi khổ thì không biết tại sao? và khi chết thì không biết đi về đâu? Đối với bậc hiền trí thì thấy rõ mình đã luân hồi từ vô lượng kiếp đến nay, nên khi mất thân này lại có thân khác và thân khác tốt hay xấu, cứ trôi mãi trong cảnh luân hồi như thế là do nghiệp hiện đời mà thấy được thân tướng hữu thể. Từ đó, các ngài sống để chuyển hoá, giải trừ nghiệp lực, phá tan phiền não chi phối đời sống phạm hạnh, đồng thời gieo nhân lành cho đời sau và luôn sống với tâm an lạc, giác ngộ giải thoát. Người đời vì không rõ nghiệp lực, không biết  nhân quả, nên vô trách nhiệm với lời nói, không để ý đến hành vi xấu ác của mình, đến khi chịu quả khổ thì than trời, trách Phật bất  công.
”Đã mang lấy nghiệp vào thân,
 Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa.
 Thiện căn ở tại lòng ta,
 Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”.
                                        
    (Truyện Kiều, Nguyễn Du)  
             
Các vua đời Trần sau khi đã ngộ đạo, sống đời giải thoát, sáu căn không vướng mắc với sáu trần, xem ngai vàng như đôi dép rách, đem chỗ sở ngộ của mình giáo hoá dân chúng, dạy dân chúng cách tu sửa ngay nơi sáu căn, sám hối những lỗi lầm do sáu căn tác thành, đó là cách giáo huấn của chư hiền thánh thấy được cội nguồn tận gốc đau khổ, nên diệt trừ tận gốc rễ phiền não hướng đến bản thức thanh tịnh. Ngài luôn khuyên mọi người tu hành thập thiện, để mọi người hiểu rõ nguyên do có cuộc sống hiện đời và biết cách chuyển hoá nó, để cuộc sống ngày càng hướng thiện, an lạc hạnh phúc. Đây cũng là một phương cách cải tạo xây dựng xã hội, để đem đến sự an cư lạc nghiệp cho nhân dân.

C. KẾT LUẬN
Tư tưởng Phật tại lòng của vua Trần Thái Tông ít nhiều gì đã giúp cho chúng ta giải đáp một số vấn đề nan giải mà từ xưa cho đến nay vẫn còn nằm trong bóng tối, chưa có một tri thức nào đưa ra một câu trả lời thoả đáng cho tri thức loài người. Sau thế kỷ XIII Trần Thái Tông đã chấp nhận quan điểm của quốc sư Phù Vân về trách nhiệm của một vị quân chủ đứng trên trăm họ là phải biết thủ tiêu lợi ích cá nhân của mình mà lo cho thiên hạ, cho dân tộc làm một nhà nhập thế không cần phải xuất thế, và Thái Tông đã chấp nhận trở về gắng gượng lên ngôi trong những lúc rãnh rỗi công việc triều chính, vua bằng nhóm họp các bậc kỳ đức để hỏi đạo thiền, vốn vua rất có tâm với đạo Phật nên sau một thời gian chuyên tâm vào kinh sách, vua thường đọc kinh kim cương đến câu “ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm” để sách xuống ngâm nga thì bổng nhiên tâm thức bừng sáng, và đem điều mình ngộ được viết thành sách Thiền Tông Chi Nam để lại cho đời, để mọi người trông thấy biết quay trở lại phản tỉnh nội tâm của mình, tìm thấy cái bản lai giác ngộ vốn có sẵn trrong tâm thức của mỗi người, tâm yên lặng mà biết, không cần nhọc thân tìm kiếm bên ngoài, bởi xưa nay do vô minh che lấp tâm thức nên không biết Phật tính vốn sẵn có trong tâm. Như vậy tư tưởng triết lý “Khoá Hư Lục” của Trần Thái Tông đã giải đáp thoả mãn các vấn đề mà người ta thường đặt câu hỏi để tra vấn tìm câu giải đáp cho tri thức loài người. Trần Thái  Tông đã mở ra cánh cửa bí mật đó bằng tâm thức giác ngộ của mình, Ngài đã phơi bày ra ngoài ánh sáng những điều mà chưa một triết gia nào làm được, đó là vấn đề thực tại của vũ trụ này nhất nguyên hay là đa nguyên? Ngài không trả lời nhất nguyên hay đa nguyên, mà với sự giác ngộ được bản tính hay Phật tính đồng với tâm Phật không còn cái tâm phân biệt duy nhất hay đa thù, nhất nguyên hay nhị nguyên nữa, mà bảo mọi người nên trở lại cái tâm vốn thanh tịnh và trong sáng nhìn mọi vật không sai khác hình tướng, không ngoài sự tướng mà có sự vật, mà dung hoà tất cả là một, một là tất cả. Nói chung, khi tâm chưa ngộ thì từ cái thực tại không hình sắc nổi lên cái ý thức mê lầm danh sắc cùng bẩn chất với cái thực tại có thật, như sóng với biển, như hình với bóng, cái ý thức mê vọng danh lý khái niệm mới sinh ra nhiều sự vật khác nhau. Ngược lại, thì nhìn mọi vật đều là thực tại như như bất động.

Hai là chân lý và giá trị là tuyệt đối hay là tương đối? Nếu là tuyệt đối có thể cho thấy được không? Ngài đã dùng tam giáo (Lão, Nho, Phật) để giải thích vấn đề này. Mặt dù ở bình diện sự tướng thì nhìn ba tôn giáo này trên hình thức danh lý thì có khác nhau nhưng Thái Tông vẫn tin vào bản tính minh tâm , và biến chuyển cái biết tri thức vào cái biết thuần tuý, vượt lên trên tương đối khách quan và chủ quan, chân lý và giá trị đều bắt nguồn từ thực tại, đồng nhất với cái tâm vô niệm, vô sở trụ, là cứu cánh giải thoát.

Ba là hạnh phúc của con người tìm kiếm ở đâu? Trong tâm hồn hay ngoài cuộc sống xã hội? Thái Tông đã tìm thấy hạnh phúc cho mình và cho nhân loại ở cái tâm khai phóng bằng hành động quên mình cho dân tộc, bằng cái tâm giác ngộ của mình, bằng cái tâm bình đẳng, bằng cái tâm phá chấp từ đời sống xã hội qua đời sống tâm linh, từ nhập thế cho đến xuất thế, từ tại gia cho đến xuất gia, từ hữu vi cho đến vô vi. Chớ không chỉ ra phải tìm kiếm ở đâu, chính nơi cái tâm của mọi người.

Bốn là chân lý thực tại phải khám phá như thế nào? Theo quan niệm của Thái Tông thì cái biết tối cao là giác ngộ cái tâm vọng niệm, tâm yên lặng mà biết là cái tướng vô thể chất, vì Phật tính là thực tại tối cao vừa nội tại, vừa siêu  nhiên. Cái bản lai tính giác ấy thì sẵn có tại nơi chúng sanh, kẻ trí hay ngu đều có khả năng giác ngộ cả. Bất kỳ bằng phương thức nào, miễn là đạt được chân lý thực tại tối cao, không phải bằng trực giác hay bằng tri thức danh lý khái niệm. Thái Tông đã hành động thực hiện nối liền đời sống nhập thế lẫn xuất thế, hoà nhập giữa xã hội với thiên nhiên, giữa nhân sinh với nghệ thuật, cởi mở tất cả từ hệ lụy đến giải thoát tự tại, từ cõi sống chết cho đến ý thức không còn sống chết.

Năm là thực tại biến đổi thiên hình vạn trạng thì có gì là tồn tại không? Trần Thái Tông đã giải đáp bằng bất nhị pháp môn, tất cả đồng nhất thể tâm linh huyền bí, vượt lên trên ý thức ý niệm, cho nên trào lưu hiện tượng biến động chỉ là tác dụng của bản thể tồn tại, bản thể như như bất động ở tại bên trong hiện tượng biến động bao hàm cả biến và bất biến, vừa nội tại, vừa siêu nhiên.
TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.     Đào Phương Bình, Đổ Văn Hỷ, Băng Thanh dịch-Thơ Văn Lý Trần tập 2, Nxb-KHXH Hà Nội 1988.
2.     Nguyễn Lang-Việt Nam Phật Giáo Sử Luận, Nxb-Văn Học, Hà Nội 2000.
3.     HT.Thích Thanh Kiểm dịch-Khoá Hư Lục Thành Hội Phật Giáo Tp.HCM ấn hành 1997.
4.     HT.Thích Đức Nghiệp, Đạo Phật Việt Nam, Thành Hội Phật Giáo Tp.HCM 1995.
5.     HT.Thích Thanh Từ, Khoá Hư Lục Giảng Giải, Nxb Tp.HCM 1996.
6.     HT.Thích Thanh Từ, Thánh Đăng Lục Giảng Giải, Nxb Tp.HCM 1999.
7.     HT.Thích Thanh Từ, Thiền Tông Bản Hạnh Giảng Gải, Nxb Tp.HCM 1998.
8.     Lê Mạnh Thát, Toàn Tập Trần Thái Tông Nxb, Tp.HCM 2004.
9.     Lê Mạnh Thát, Toàn Tập Trần Nhân Tông, Nxb Tp.HCM  2000.
10.   Lê Mạnh Thát, LSPGVN Tập 3, Nxb Tp.HCM 2002.
11.   Nguyễn Đăng Thục, Khoá Hư Lục, Nxb Khuông Việt 1972.
12.   Nguyễn Đăng Thục, Thiền Học Trần Thái Tông, Nxb VHTT 1996.
13.   Nguyễn Đăng Thục, Thiền Học Việt Nam, Nxb Th 1966.
14.   HT.Thích Minh Tuệ, Lược Sử Phật Giáo Việt Nam, Thpg Tp.HCM ấn hành 1993.
15.   Nhiều tác giả, Thiền Học Đời Trần, Nxb Hà Nội 2002.
16.   Nhiều Tác Giả, Thiền Học Đời Trần, Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam, 1992.
17.   Nhiều tác giả, Trần Nhân Tông Vị Vua Phật Việt Nam, THPG Tp.HCM ấn hành 2004.
18.   Ngô Tất Tố, Văn Học Đời Lý, Nxb Khai Trí Sài Gòn 1960.
19.   HT.Thích Thiện Siêu, Phật ở Trong Lòng, Nxb Tôn Giáo 2003.
20.   Ngô Sĩ Liên, Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, Nxb KHXH, Hà Nội 1985.
21.   Viện Sử Học, Nguyễn Trãi Toàn Tập, Nxb KHXH, Hà Nội 1969.
22.   HT.Tuyên Hoá, Kinh Kim Cương, tài liệu giảng dạy HVPGVN tại Tp.HCM Khoá V.
23.   Viện Sử Học, Thơ Văn Lý Trần Tập 2, Nxb KHXH Hà Nội 1989.
24.   Lê Mạnh Thát, Chân Nguyên Thiền Sư Toàn Tập, tủ thư Vạn Hạnh 1979.
25.   Khoá Hư Lục dịch giả Thiều Chửu.
26.   Đào Duy Anh, Lịch Sử Việt Nam, Nxb Văn Hóa Thông Tin 2002.
27.   Nguyễn Khắc Thuần, Lịch Sử Cổ Trung Đại Việt Nam, Nxb VHTT 2002.
28.   Nguyễn Khắc Thuần, Đại Cương Lịch Sử Cổ Trung Đại Việt Nam, tủ sách Đại học KHXH&NV 1997.
29.   Nguyễn Khắc Thuần, Đại Cương Lịch Sử Cổ Trung Đại Việt Nam. Đại Học Tổng Hợp Tp.HCM 1992.
30.   HT.Thích Mật Thể, Việt Nam Phật Giáo Sử Lược, Tân Việt Xuất Bản, Hà Nội1942.
31.   Trần Trọng Kim, Việt Nam Lược Sử, Nxb Tp.HCM 2002.

Nguồn: dentutraitim.com

Các tin khác
Trang

Giảng sư

Nghe nhiều

Kết nối

Lịch

THỐNG KÊ

Đang truy cập 184
Hôm nay 2881
Hôm qua 4526
Trong tuần 7407
Trong tháng 83548
Tổng truy cập 2380452
hosting gia re , web gia re tron goi , thiet ke web tron goi tai ho chi minh, binh duong, vung tau, ha noi, ca nuoc , thiet ke web tron goi gia re