chuabuuchau.com.vn,chuabuuchau, chua buu chau, chùa bửu châu, chua buu chau cu chi

Tư tưởng Phật tại tâm của Vua Trần Thái Tông

Kết quả hình ảnh cho Vua Trần Thái Tông

A. DẪN NHẬP

Chúng ta hãy ngược dòng thời gian nhìn lại những trang sử hào hùng của lịch sử dân tộc Đại Việt hay những triều Đại mà Phật giáo nước nhà phát triển mạnh, nhất là thời đại nhà Trần. Trong quá trình phát triển lịch sử Phật giáo Việt Nam, dưới triều Đại nhà Trần đã thể hiện rõ sức sống tự lực, tự cường với tinh thần độc lập của dân tộc, không giùn chân, không khiếp sợ trước uy quyền hay một thế lực ngoại ban nào cả, mà thể hiện rõ tính dân tộc của người Việt. Đồng thời, nó đã đi đúng hướng, đúng đường lối của đạo Phật dung hợp với bản sắc văn hoá dân tộc để tạo nên nét đặc thù cho lịch sử Việt Nam, cho nền triết học phương đông đồng thời cũng như là nền văn học Việt Nam dưới thời Trần. Con đường này phù hợp với quy luật phát triển tâm thức, để phát sinh tuệ giác và trở về với cái tâm thức thanh tịnh vốn có ban đầu, đưa con người đến chổ giác ngộ, giải thoát ngay trong đời hiện tại.

Theo tư tưởng Phật tại lòng của vua Trần Thái Tông tức là nói đến Phật tính trong nhân tính hay đồng nhất tính. Tư tưởng này góp phần xây dựng đạo đức xã hội, mang lại sự bình an và hạnh phúc cho con người. Thực hành theo con đường đạo Phật là con đường chuyển hoá nội tâm theo quy luật trở về đồng nhất thể với tâm Phật tức là lấy từ bi làm bản thể cho hành động tạo tác của thân, khẩu, ý, theo quy luật vận hành của vũ trụ và nhân sinh. Vì thế, người Phật tử đến với đạo Phật không phải bằng niềm tin, mà đến để thấy, để nghe, để sống, để khai mở tâm thức, từ đó có thể nhận ra bản chất thực về sự vận hành của vũ trụ nhân sinh, những lẽ thật, những nguyên lý, những quy luật đang tác động chi phối trong cuộc sống đó là luật nhân quả, luật vô thường và lý duyên sinh.

Đối với đạo Phật muốn thay đổi cuộc sống từ khổ đau, bất hạnh đến an vui hạnh phúc, thì phải chuyển hoá nội tâm của mình theo  luật nhân quả, lý duyên sinh của vũ trụ nhân sinh, có đủ duyên lành để chuyển hoá cuộc sống ngày càng hướng thiện, ngày càng an lạc, hạnh phúc ở đời này và đời sau. Mục đích cứu cánh của đạo Phật là dạy cho chúng sanh con đường khai mở tâm thức, phát triển trí tuệ trực giác, hướng đến giác ngộ giải thoát, ngộ nhập tri kiến.

Tư tưởng triết lý Phật giáo chúng ta thì con người sinh ra không chỉ nằm trong chiếc nôi và chấm dứt thọ mạng trên cõi đời này trong cái nhà mồ, nhưng quan niệm Phật giáo là con người có một mạng sống miên viễn lâu dài, một quan niệm không gian vô cùng và thời gian vô tận. Vì thế mà lòng sống đạo của chúng ta cũng đi theo quan niệm thường đó, không bị giới hạn trong khuôn khổ chấp trung, không bị thời gian chi phối mà luôn luôn thay đổi.

Ngày xưa vua Lê Thánh Tông đã đọc bài kệ:

“Kim Phật bất độ lô
Mộc Phật bất độ hoả
Thổ Phật bất độ thuỷ
Chơn Phật tại kỳ trung”.

Dịch nghĩa:

Phật vàng không qua khỏi lò
Phật gỗ không qua khỏi lửa
Phật đất không qua khỏi nước
Phật thật ở trong đó.

               (Ngài Triệu Châu)

Đầu óc vua nặng triễu tư tưởng Nho Giáo, cho nên vua bỏ mất câu sau “chơn Phật tại kỳ trung” mà vua chỉ đọc ba câu đầu rồi cho rằng: “Phật không tự cứu lấy mình thì còn cứu ai”, chính ý kiến của vua Lê Thánh Tông ngày trước không hiểu đúng theo tinh thần Phật pháp còn lãng vãng đâu đó lúc này, lúc khác, sau này cũng có những người đem ý kiến đó ra để che bai Phật không cứu được mình thì cứu lấy ai, cho nên chúng ta muốn đánh giá một bài kệ hay một tác phẩm nào đó, chúng ta nên đọc kỹ, nghiền ngẫm thật kỹ rồi đưa ra lời nhận xét cũng chưa muộn.  Bởi vì phật pháp bất ly thế gian pháp, không ngoài sự tướng thế gian, không ngoài công việc thế gian mà có Phật pháp. Phật pháp ở trong đó với những tinh thần sáng suốt giác ngộ của những người hiểu biết Phật pháp. Chúng ta tuy sinh thời không duyên gặp Phật nhưng cũng biết lấy hình tướng của ngài để tôn thờ, khi nhìn thấy hình ảnh đức Phật, người ta có thể sinh khởi Phật tính trong lòng mình và cũng để làm duyên cho mọi người khai mở Phật tính trong tâm thức họ, mang lại sự an lạc cho bản thân, cho gia đình, cho xã hội. Chính tinh thần từ bi đó của đạo Phật là tinh thần cởi mở, tinh thần hoà hợp, tinh thần bao dung cho nên đã nối kết được tinh thần yêu nước chống giặc ngoại xâm như là một chất keo nối kết quá khứ với hiện tại, gắn liền dân tộc từ xưa cho đến nay. Trong chất keo để gắn bó tạo nên sự đoàn kết của nhân dân ta để tạo thành một sức mạnh giữ gìn nền độc lập cho dân tộc.

Luận văn tốt nghiệp với đề tài “TƯ TƯỞNG PHẬT TẠI TÂM CỦA VUA TRẦN THÁI TÔNG”, trong cấp độ cử nhân Phật học là một đề tài nghiên cứu mang tính sử học, lại vừa mang tính nhân văn, chính đề tài này đã đặt ra cho người nghiên cứu là phải làm sáng tỏ quan điểm đó.

Nội dung người viết nhằm nhắm vào các vấn đề sau:

+ Sơ lược về thân thế và sự nghiệp.
+ Quan điểm Phật tại lòng.
+ Tư tưởng nhập thế của vua Trần Thái Tông.
+ Tư tưởng về ý muốn và tấm lòng.

Bằng những hiểu biết có chừng mực, người viết cố gắng làm việc nhiệt tình với đề tài mình chọn, đòi hỏi tác giả cần phải có một kiến thức tương đối uyên bác, nhưng người viết vẫn không ngại khi chọn đề tài này cho luận văn tốt nghiệp. Vì đây là dịp để người viết được trình bày những sở học của mình trước một kho tàng lịch sử tư tưởng và văn hoá đồ sộ, sau bốn năm tiếp thu từ những lời giảng dạy của chư tôn giáo sư dưới giảng đường Học Viện.

Đây là một đề tài rất khó khăn cho người viết, vì thế không thể tránh khởi những sai sót trong quá trình biên khảo, kính mong chư vị thiện tri thức ân cần chỉ bảo.

Sau cùng, tác giả xin kính dâng lòng tri ân chân thành lên Hội Đồng Điều Hành Học Viện Phật Giáo Việt Nam Tại Thành Phố Hồ Chí Minh, Giáo Sư Hướng Dẫn, Thầy Bổn Sư, quý Ôn, quý Thầy, Song Thân Phụ Mẫu, cùng tất cả thiện hữu tri thức đã tác thành, cũng như đã động viên khích lệ giúp đở cho người thực hiện luận văn này được hoàn thành.

 Xin nhận nơi đây lòng tri ân biết ơn!

B. NỘI DUNG

CHƯƠNG I: SƠ LƯỢC VỀ THÂN THẾ VÀ SỰ NGHIỆP

1. Thân Thế.

Vua Trần Thái Tông là một người đã khai sáng ra một triều đại oanh liệt của dân tộc, một nhà lãnh đạo chính trị và quân sự tài ba của đất nước dưới triều đại nhà Trần. Điều này, trãi qua mấy trăm năm lịch sử đã khẳng định. Mặt khác, vua Trần Thái Tông còn là một nhà văn, nhà thơ, có những đón góp to lớn cho lịch sử tư tưởng và Văn Học Việt Nam nói chung, cho Phật giáo nói riêng. Ông là một trong những tác giả đầu tiên của Văn Học Việt Nam trong triều đại nhà Trần và nhiều tác phẩm được bảo tồn cho đến ngày nay. Đó cũng là một tài sản vô giá cho những ai quan tâm nghiên cứu lịch sử dân tộc thời đại nhà Trần.

Vua Trần Thái Tông họ Trần, tên Cảnh, tên cũ là Bồ, là chi đầu chính của triều Lý, nhận Chiêu Hoàng nhường ngôi, tại vị 33 năm, thoái vị 19 năm, thọ 60 tuổi, mất ở cung Vạn Tho, chôn tại Chiêu Lăng. Vua khoan nhân độ lượng, có lượng đế vương, nên có thể mở nghiệp truyền sau, dặt giường giăng mối cho chế độ nhà Trần vĩ đại, song điều hành việc nước đều do một tay Trần Thủ Độ quyết định, chốn buồn thê có nhiều điều hổ thẹn.

Xưa đời trước của vua là người Mân (có chổ nói là người Quế Lâm) có người tên Kinh đến ở Hương Tức Mặc, Thiên Trường, sinh ra Hấp, Hấp sinh ra Lý, Lý sinh ra Thừa, mẹ là họ Lê, sinh vào ngày 16 tháng 6 năm Mậu Dần, Kiến Gia thứ 8 (1218). Vua mũi cao, mặt rồng giống như Hán Cao Tổ. Lúc lên 8 tuổi, làm chi hầu chính chi ứng cục triều Lý, có chú họ là Trần Thủ Độ làm tiền chỉ huy sứ, vua nhân thế được vào hầu trong cung. Chiêu Hoàng thấy vua thì thích. Ngày 12 Mậu Dần tháng 12 mùa Đông năm Ất Dậu, nhận Chiêu Hoàng nhường vị, lên ngôi Hoàng Đế, cải nguyên là Kiến Hưng.

2. Sự Nghiệp.

Trần Thái Tông lên ngôi Hoàng Đế ngoài ý muốn của mình và dưới sự sắp xếp của Trần Thủ Độ buộc vua phải cưới Chiêu Hoàng làm vợ. Từ đó Triều đình do nhà Trần  lãnh đạo, đứng đầu là Trần Thủ Độ vì vua còn rất trẻ mới tám tuổi mà đã được Lý Chiêu Hoàng cũng tám tuổi truyền ngôi. Cho nên, việc nước trong mười năm  đầu do bố là Trần Thừa cùng với chú là Trần Thủ Độ lãnh đạo và đưa ra quyết định cho tới năm Đinh Dậu Thiên Ứng Chính Bình thứ VI (1237) một sự kiện xẩy ra tạo cơ hội cho vua Trần Thái Tông thể hiện tư cách lãnh đạo của mình, qua việc tự quyết định mọi công viêc triều chính. Đó là sự kiện đầu mùa xuân năm ấy vua bị buộc phải lấy Công Chúa Thuận Thiên làm vợ. Đây là một cuộc hôn nhân chính trị nhằm chính thống hoá sự chuyển giao quyền hành từ nhà Lý sang nhà Trần. Bởi vì yêu cầu  cấp thiết của đơì sống chính trị thời ấy đòi hỏi vua Trần Thaí Tông phải có con với một người đàn bà thuộc dòng tộc họ Lý, nhằm đảm bảo tính thống nhất của triều đại nhà Trần mới thành lập. Nói cách khác, dù được truyền ngôi nhưng chưa có con  thì việc truyền ngôi ấy vẫn chưa đảm bảo đủ tính chính thống cho triều đại mới. Vì vậy, sau hơn mười năm sống với nhau và hai người  điều  đã vượt qua tuổi vị thành niên mà vẫn chưa có con, thì đây là một điều đe doạ tính chính thống hoá một triều đại mới vừa sang tay nhà Trần, cũng như chưa yên lòng khi toạ vị trên ngai vàng. Cho nên, ta thấy Thái Sư Trần Thủ Độ đã đưa ra một biện pháp hết sức quyết liệt. Đó là đem Công Chúa Thuận Thiên đang mang thai ba tháng và buộc Trần Thái Tông phải lấy làm vợ. Tại sao lại có yêu cầu  về sự chính thống hoá này? Đó là do tình hình quốc tế đang biến động thời bấy giờ, đòi hỏi chính quyền Đại Việt phải có những  sách lược để đối phó với tình hình biến động ấy đồng thời cũng để yên lòng dân và để đoàn kết toàn dân chuẩn bị cho cuộc  kháng chiến chống quân Mông Cổ.

Vua đã kế thừa tưởng Phật Giáo đưa vào thành nghệ thuật lãnh đạo chính trị  là phải biết lấy ý muốn của thiên hạ làm ý muốn của mình, lấy tấm lòng của thiên hạ làm tấm lòng của mình. Thì đó cũng là lần đầu tiên tư tưởng của Phật  Giáo  đã được vận dụng vào chính trị để hình thành một học thuyết lãnh đạo. Thực vậy, người lãnh đạo phải biết thủ tiêu ý muốn cá nhân của bản thân mới có thể lấy ý muốn  của mọi người làm ý muốn của mình. Vua Trần Thái Tông ý thức rất rõ ý muốn đó phải là ý muốn gì và tấm lòng đó phải là tấm lòng gì? ”Năm Tân Hợi Thiên Ứng Chính Bình thứ XX (1251) tháng 2 mùa xuân cải nguyên là Nguyên Phong thứ I, vua tự thân viết bài minh cho  các Hoàng Thái Tử để dạy họ về trung hiếu, hoà tốn, ôn lương, cung kiệm” .

Tuy đây là một bài minh viết nhằm cho các Hoàng Tử, nhưng rõ ràng tấm lòng mà vua Trần Thái Tông muốn cho tất cả mọi người dân Đại Việt phải có. Đó là tấm lòng trung hiếu, hoà tốn, ôn lương và cung kiệm, và ý muốn của thiên hạ là ý muốn có một cuộc sống ấm no và an toàn. Vì thế, trừ mười năm đầu khi tuổi còn trẻ, còn 22 năm sau tức từ 1236 xẩy ra sự kiện trốn lên núi Yên Tử cho đến khi nhường ngôi cho con vào năm 1258, thì nhắm vào mục tiêu vừa nói.

Để thực hiện mục tiêu với một cuộc sống an toàn và ấm no cho người dân, vua Trần Thái Tông cùng triều đình đã tiến hành ba chính sách lớn.

Chính sách lớn thứ nhứt: Là chính sách kiện toàn bộ máy nhà nước nhằm làm tiền đề cho sự phát triển kinh tế và ổn định xã hội. Thực hiện chính sách này, vua Trần Thái Tông tiếp tục kế thừa và phát huy sách lược dân sự hoá và trí thức hoá bộ máy nhà nước, mà từ thời vua Lý Thánh Tông đã được đưa vào, thông qua một số biện pháp. Biện pháp một là mở một loạt các khoa thi vào những năm 1227,1232, 1236, 1239, 1247, 1256. Với mục đích đào tạo nhân tài để tuyển chọn những người tài giởi có tấm lòng yêu nước, yêu dân như con mình để ra phục vụ cho guồng máy hành chánh, cũng như để phục vụ cho đất nước thời bây giờ, rất cần những anh tài xuất chúng, nhằm ổn định lại đội ngũ trí thức trong triều, thiết lập lại trật tự triều đình phân chia nhiệm vụ chuẩn bị cho cuộc kháng chiến với quân Mông cổ, mà được dự báo trước là rất khốc liệt và gian nan. Đồng thời, với việc mở khoa thi để trí thức hoá dội ngũ viên chức nhà nước, thì biện pháp thứ hai là ổn định đời sống nhân dân bằng luật pháp. Ngay khi mới lên cầm quyền, triều đình nhà Trần đã thấy được yêu cầu cần phải đưa hoạt động nhà nước đi vào quy cũ bằng một hệ thống luật pháp. Vua Trần Thái Tông đã kế thừa công tác đưa hoạt động nhà nước theo hướng pháp trị bằng một loạt các sắc lệnh.

Chính sách lớn thứ hai: Là thúc đẩy nền kinh tế cơ bản của đất nước phát triển, mà vào thời ấy là nông nghiệp chủ yếu, bằng một loạt các công trình xây dựng với đỉnh cao là đắp đê Đỉnh Nhĩ. Đây là kế thừa và phát huy chính sách bảo vệ phương tiện sản xuất của thời Lý nhưng đẩy mạnh dưới thời Trần.

Chính sách lớn thứ ba: Là cương quyết bảo vệ chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ của Đại Việt. Từ nhũng năm đầu cầm quyền vua Trần Thái Tông đã quan tâm đến vấn đề biên giới phía Bắc và phía Nam của tổ quốc. Cùng với việc ổn định biên cương phía Bắc và Nam, vua Trần Thái Tông còn ráo riết tổ chức và tăng cường sức mạnh quân đội nhằm để chuẩn bị đối phó với tình hình chính trị quốc tế thời bây giờ diễn ra hết sức phức tạp vua Trần Thái Tông đã tiến hành một loạt các biện pháp quân sự nhằm không ngừng nâng cao khả năng chiến đấu chống quân Nguyên Mông.

Năm 1257 dười sự lãnh đạo của vua Trần Thái Tông đã đánh đuổi quân Nguyên Mông ra khởi đất nước đem lại sự bình yên cho nhân dân và xã tắc. cùng với sự giúp sức của Thái Sư Trần Thủ Độ và tướng Lê Phụ Trần đã thành công đánh bậc quân thù về bên kia biên giới, nền độc lập của tổ quốc đã được giữ vững. Hoà bình đã được tái lập trên đất nước và kéo dài gần 30 năm, tạo điều kiện cho Đại Việt phát triển và tăng cường tiềm lực chiến đấu của mình. Đến tháng ba năm Mậu Ngọ(1258) Vua Trần Thái Tông đã truyền ngôi lại cho con mình là Trần Thánh Tông và lên làm Thái Thượng Hoàng.

Vua Trần Thái Tông cũng còn là nhà văn hoá, nhà thơ xuất sắc lẫy lừng trong lãnh vực hoạt động sáng tác, là người đã mở đầu một giai đoạn văn học mới của lịch sử văn học đời Trần. Những tác phẩm đó đã chuyển tải một nội dung tư tưởng với một vẻ đẹp riêng của nó, mà rất có giá trị cho những ai thích nghiên cứu về Phật giáo đời Trần. Vua Trần Thái Tông đã sáng tác nhiều tác phẩm như:

1. Văn Tập 1 quyển.
2. Thiền Tông Chỉ Nam Ca.
3. Kim Cương Tam Muội Kinh Chú Giải.
4. Bình Đẳng Lễ Sám Văn.
5. Lục Thời Sám Hối Khoa Nghi.
6. Khoá Hư Lục 10 quyển.

CHƯƠNG II:  QUAN ĐIỂM PHẬT TẠI  LÒNG.

Từ một quan điểm “Tâm tịch nhi tri, vị chi chân phật” nghĩa là lắng lòng mà hiểu, đó là chân Phật hay “Phật vô nam bắc”. Trần Thái Tông cũng đã chỉ ngay vào cái thực tại siêu nhiên ấy làm đối tượng không phải chỉ cho suy tưởng mà chính là đối tượng để sống thực hiện cả trong tư tưởng lẫn ngoài hành động. Cái thực tại ấy chính là Phật tính, tuy nó không lệ thuộc vào điều kiện thời gian và không gian, siêu việt lên trên, mà mặt khác nó cũng đồng thời tiềm tàng linh động trong thiên hình vạn trạng của vũ trụ sự vật, biến hoá không ngừng. Vì bản thể chung của nhân loại, theo Trần Thái Tông ở đây là “Phật tính bình đẳng cho mỗi người có thể tự tu sửa để tìm cầu. Hơn nữa, Thiền Tông cũng bắt nguồn từ bản nhiên thanh tịnh của mỗi người, mà đã là con người thì bất cứ ở thời nào hay ở đâu cũng đều có tính bản nhiên thanh tịnh ấy. Do đó ở đâu có con ngưới thì ở đó có nguồn gốc của Thiền, của giác ngộ, tức là Phật. Quan điểm Phật ở lòng được xác định rất rạch ròi, rồi nó sẽ chi phối toàn bộ lịch sử tư tưởng Việt Nam và Phật giáo Việt Nam về sau. Tiêu biểu là lời xác định của vua Trần Nhân Tông trong cư trần lạc đạo phú:

“Bụt ở cổng nhà
chẳng phải tìm xa
nhân khuấy bổn nên ta tìm Bụt
đến cốc hay chỉn Bụt là ta” .

Và bài thơ Hoa Mộc Cận của Nguyễn Trãi:

“Ánh nước hoa in một đoá hồng
vợn nhơ chẳng bén, Bụt là lòng
chiều mai nở chiều hôm rụng
sự lạ cho hay tuyệt sắc không” .

Chính vì Đức Phật ở tại tâm của mỗi con người, nên việc tìm Phật là tìm tại tấm lòng của chính mình, tìm lại cái tâm của mình, chẳng nên cầu tìm bên ngoài. Mỗi con người, từng ngày, từng giờ, từng phút, từng giây đang thể hiện tính Phật dưới một dạng nào đó, mà ta không biết thôi. Nói theo “Kinh Kim Cương Tam Muội mà vua Trần Thái Tông có dịp chú giải thì ta phải liễu tri “tâm tính chúng sanh không khác nhau về chân tính”. Cho nên, đi tìm Phật ở một nơi nào đó sẽ không bao giờ tìm thấy được. Ngược lại  tìm  Phật nên tìm ngay trong đời hiện tại của mình, tức hướng vào nội tại tâm thức mà tìm Phật không đâu khác. Chính cái tâm siêu nhiên thực tại này sẽ cho ta thấy được  Phật tính hiển lộ.

1. Ý Hướng Cầu Chân.

Xu hướng hướng nội để tìm cầu chân lý tối hậu, có thể nói là rất sáng tỏ trong đời sống Phật Giáo đời Trần, nó mở đầu bằng một câu nói của Quốc Sư Phù Vân khuyên vua Trần Thái Tông. Khi lánh lên núi Yên Tử để cầu Phật: ”Trong núi vốn không có Phật, Phật ở ngay trong lòng, lắng lòng mà hiểu, đó chính là chân Phật . Nay nếu bệ hạ giác ngộ tâm đó thì lập tức thành Phật, không nhọc tìm kiếm bên ngoài” .

Để có thể hiểu rõ hơn nhân cơ hội gì? Trong hoàn cảnh nào? Nhà vua kể lại sự tìm cầu chân lý của mình. Theo như Toàn Tập Trần Thái Tông, Lê Mạnh Thát có ghi: “Vả trẫm lúc tuổi nhỏ mới biết, nghe thoáng thấy thiền dạy bảo thì ý lắng hết lo, trong sạch chút ít, bèn để tâm vào nội giáo, tham cứu đạo thiền, hạ mình tìm thầy, thành khẩn mộ đạo. Tuy lòng hướng vào đã sanh, nhưng cơ cảm xúc chưa tới. Vừa 16 tuổi, thái hậu đã chán cõi trần, trẫm nằm rơm gối đất, huyết lệ nát lòng, ngoài nỗi buồn đau, rãnh đâu việc khác”

Thế rồi mới mấy năm sau, Thái Tổ Hoàng Đế tiếp bỏ ngôi trời, niềm nhớ mẹ chưa nguôi, tình thương cha càng nặng, ngổn ngang đau xót, khó nỗi khuây lòng. Nghĩ tới mẹ cha nuôi con vỗ về ôm ấp không thiếu cách gì, con dù thịt nát xương tan cũng không đủ báo đền trong muôn một, huống chi đấng hoàng khải tổ ta xây dựng cơ nghiệp rất mực gian lao, trị nước giúp đời lại càng khó nhọc. Người đem ngôi báo trao lại cho ta từ lúc ấu thơ, khiến