chuabuuchau.com.vn,chuabuuchau, chua buu chau, chùa bửu châu, chua buu chau cu chi

Xuất gia đi tu

Hình ảnh có liên quan

Tôi là một giảng viên trường Luật, năm nay đã hơn 35 tuổi đời nhưng chưa lập gia đình. Thời gian qua cảm nhận giáo lý Đức Phật sâu sắc, có sức chuyển hóa cuộc đời mình nhanh chóng nên muốn dấn thân theo giáo lý giác ngộ này một cách trọn vẹn. Ngoại duyên may mắn không có nhiều vướng bận, chỉ còn lo ngại việc xuất gia trễ nãi như vậy có phải gặp nhiều khó khăn lắm không? Tôi muốn chuẩn bị tư tưởng trước khi xuất gia như thế nào cho khỏi bỡ ngỡ.

TRẢ LỜI: Xuất gia là một con đường lớn vì nó là chặng đường dài với tất cả mọi nỗ lực không ngừng nghỉ để chiến thắng chính mình, mang lại hạnh phúc cho tự thân và người khác. Một chặng đường dài với rất nhiều thử thách mà đòi hỏi người đi phải có một lý tưởng khá vững chãi thì mới có thể tiến tới đích được. Nếu bạn đã xác định được giá trị lợi ích của việc xuất gia và bạn đã quyết định dấn thân vào con đường đó thì còn chần chờ gì nữa, hãy thong thả bước vào cuộc. Vâng, đó là một cuộc hành trình ra đi và phải chiến thắng mà không thể thất bại hay dừng lại. Nếu dừng lại giữa đường mà có bạn đồng hành yểm trợ thì may mắn cho bạn, bằng không bạn sẽ dễ dàng mất định hướng rồi sa lầy khi năng lượng Bồ đề tâm không còn nữa. Còn nếu thất bại thì coi như bạn phải chấp nhận trọn kiếp này vay món nợ trường cửu đối với đàn na thí chủ và phải đợi kiếp sau mới có thể hoàn trả nổi. Lỡ thất bại mà có sức quay lại thì ít ra bạn đã không làm tử thi hoen ố biển Phật pháp, còn hy vọng tích lũy chút phước hữu lậu trong đời sống tại gia; nhưng nếu đã thất bại đối với sự nghiệp trí tuệ, hư hạnh thanh tịnh mà vẫn đắp đổi ngày tháng trong chốn thiền môn, nhận lãnh cơm áo của đàn na tín thí, hòa lẫn vào tập thể Tăng thanh tịnh để "mượn danh đạo tạo danh đời” thì tội báo sâu dày quả thật không lường hết được.

Chúng tôi không có ý làm bạn thối tâm. Đó là kinh nghiệm cần cảnh báo trước cho bạn. Ngày xưa, lúc từ biệt đi xuất gia mẹ tôi đã dặn dò kỹ: “Đã quyết định đi tu thì nhất định phải đi cho trọn, chứ còn mang thân về đây hoàn tục thì mẹ sẽ không bao giờ chấp nhận, việc đó xấu hổ hơn con gái có chửa hoang". Lời nhắc nhở đó là nguồn trợ lực lớn cho tâm Bồ đề thêm kiên cố để vượt qua cuộc hành trình đầy phong ba bão táp của tôi sau này. Bạn cũng nên tâm niệm như vậy để mình cảm thấy con đường đã chọn thật rõ ràng, không có gì là mơ hồ cả. Nó là con đường đem đến sự giải thoát và giác ngộ thực sự nhưng cũng đầy dẫy chông gai ghềnh thác. Bạn lý tưởng vấn đề xuất gia qua kinh sách là một việc khác, còn cạo tóc vào chùa là một việc khác. Bạn đừng quá thần tượng bất kỳ một vị thầy nào hay ngôi chùa nào bởi vì họ luôn không hoàn hảo. Họ chưa phải là thánh nhân hay bậc giác ngộ nhưng ít ra họ là những người tu tập lâu dài, có sức chuyển hóa và trị liệu cao, có nhiều kinh nghiệm để dẫn dắt bạn đi không sai lạc đường tiến tới mục đích giải thoát. Bạn phải chấp nhận ở họ vài khuyết điểm vì đó là thứ phiền não lâu đời mà họ chưa đủ sức công phá. Bạn phải hằng nghĩ rằng dù mình có thật nhiều kiến thức ngoài đời lẫn trong đạo nhưng khi xuất gia cầu học hạnh giải thoát thì mình phải là một học trò, một đệ tử, một người vừa mới sinh ra trong biển Phật pháp nên không được dị ứng với những động tác thô kệch thiếu thánh thiện của những người chung quanh, phải giữ tinh thần khiêm hạ và cầu học với vị thầy xuất gia cho mình. Vị thầy đó gọi là thầy bổn sư, thầy đầu tiên nâng đỡ mình từ chốn phàm tục bước vào lộ trình giải thoát, cho nên bạn phải “nâng khăn sửa túi” theo sát vị thầy này để tiến thân.

Xuất gia ở tuổi bạn cũng chưa có gì trễ nãi lắm, bởi vẫn có nhiều vị trung niên đã có vợ con vẫn xuất gia và thành công rực rỡ trong công cuộc tìm đến chân lý giác ngộ. Xuất gia lúc ấu niên có lợi thế là tâm hồn còn trong trắng, chưa hoen nhiễm mùi tục lụy, chưa có nhiều ràng buộc tình cảm. Song cũng khó khẳng định người như thế sẽ đi hết con đường vì giai đoạn thành niên, tức “giao thời” rất khó kềm chế dục vọng, cứ ngoái cổ ra nhìn thế tục đầy màu sắc với lòng thắc mắc bâng quơ. Hoặc khi tiếp cận với ngũ dục lạc thì họ dễ sinh tâm tham đắm bởi trước đây chưa từng có ý niệm nhàm chán xa lìa thật sự. Ngược lại, người từng trải thì cương quyết hơn trong vấn đề này, danh lợi tài sắc có thể đã quá mệt mỏi đối với họ. Họ đủ kinh nghiệm để kiểm thúc mình khi phải đối diện với ma lực quyến rũ. Song ở những người đó lại rất vất vả khi bước vào thiền định. Tâm thức họ huân nhiễm thế tình nhiều quá, trong tàng thức đầy dẫy những hạt giống phân biệt hơn thua, yêu ghét, tốt xấu... Phải tốn rất nhiều công sức và phải luôn luôn tinh tiến công phu mới gạn lọc hết những cặn bã nằm trong ký ức, sau đó mới có thể chứa những pháp thiện hay pháp môn tu. Một trở ngại nữa, như bạn là người từng có danh vị trong xã hội, bạn từng là một giảng viên trong trường đại học, bạn từng là người được mọi người kính nể và chưa từng có ai khiển trách bao giờ, những ưu thế đó có thể gây bất lợi cho bạn khi vào đạo. Bạn có thể trở thành một người đứng sau những chú sa di nhỏ xíu, phải học hỏi với những sư huynh đáng tuổi em cháu mình, phải cúi đầu xá chào hay đảnh lễ dưới chân vị thầy trẻ ngang mình hoặc có kiến thức thế gian kém hơn mình rất nhiều. Bỏ hết những gì bạn đã gầy dựng suốt thời gian qua để bắt đầu với con đường giải thoát là một vấn đề hết sức khó đấy. Vì sao? Đức Phật đã từng cảnh báo người thông minh tài trí, ý thức phân biệt quá nhạy bén, vẫn chưa phân định giữa kiến thức khoa học vào giáo lý siêu diệu của Phật Đà thì sẽ gặp trở ngại khi muốn đào luyện tâm linh xa hơn; nhất là đối với tư tưởng Đại thừa họ dễ dàng lấy chỗ hiểu biết của mình để phủ nhận hay nghi ngờ.
 
Ban Tư Vấn TC. Giác Ngộ

Xem Thêm:
Bài Giảng của Hoà Thượng Tịnh Không:
 
Người phát tâm xuất gia nói chung cũng đã giác ngộ chút ít rồi. Giác ngộ việc gì? Giác ngộ việc sanh tử luân hồi rất đáng sợ, lập chí muốn liễu sanh tử xuất tam giới ngay trong đời này, đây là như người xưa nói: ‘Thiệt vì sanh tử mà xuất gia’. Một người có giác ngộ như thế sẽ có thái độ chẳng giống như người thường, khi đối xử với người, với sự, với vật, họ sẽ chẳng tranh danh đoạt lợi, sẽ chẳng ganh ghét chống đối. Tại sao vậy? Họ biết đó là nghiệp nhân luân hồi. Hết lòng muốn liễu sanh tử, xuất tam giới chẳng phải là làm không được, nếu ‘chắc thật niệm Phật’ thì sẽ làm được, chúng ta phản tỉnh tự hỏi mình có ‘chắc thật’ hay không?

Chân chánh xuất gia phải nói đến nguyện vọng hoằng pháp lợi sanh, việc này sẽ bị chướng ngại hay chăng? Chướng ngại rất nhiều. Huynh đệ đại chúng ở chung trong một đạo tràng, nếu bạn là người muốn xuất sắc hơn kẻ khác, người ta sẽ đố kỵ, gây chướng ngại để dìm bạn xuống. Mức độ nghiêm trọng của sự đố kỵ, chướng ngại này đã bắt đầu từ thời đức Phật Thích Ca, nhóm sáu tỳ kheo kết bè kết đảng [1] (Lục Quần Tỳ Kheo) là thí dụ cho sự đố kỵ chướng ngại này. Trong ‘Lục Tổ Đàn Kinh’ [có nói] Lục Tổ Huệ Năng đại sư phải trà trộn trong nhóm thợ săn hết mười lăm năm, tại sao vậy? Vì để tránh sự đố kỵ chướng ngại của những kẻ khác. Họ chẳng thể thành tựu nên cũng không muốn ngài được thành tựu.

Tại sao người xuất gia còn những tâm niệm như vậy? Đây là con cháu của Ma Ba Tuần. Lúc Phật còn tại thế không phải trong kinh đã ghi lại rõ ràng hay sao: ‘Trong thời Mạt pháp, Ma Vương Ba Tuần kêu ma con, ma cháu đều xuất gia, đắp ca sa lên mình để phá hoại Phật pháp’, chắc họ là những người này. Nếu chúng ta có tâm niệm rằng: ‘Người khác giỏi hơn mình, họ làm sự nghiệp hoằng pháp lợi sanh, mình ganh ghét họ, mình phải kiếm cách phá đám, cản trở họ’. Vậy thì mình đã là con cháu của Ma Vương, chuyên làm việc phá hoại Phật pháp. Nếu có người chân chánh phát tâm làm việc hoằng pháp lợi sanh, chúng ta sanh tâm hoan hỷ, dốc toàn tâm toàn lực để giúp đỡ họ, lo lắng cho họ, như vậy mới thực sự là Phật tử. Thế nên ngày nay chúng ta đã xuất gia, rốt cuộc chúng ta là con cháu của Ma hay là con cháu của Phật? Tự mình phản tỉnh, kiểm điểm thì sẽ biết liền. Con cháu của Ma Vương xuất gia quả báo tương lai nhất định sẽ ở trong ba đường ác, vì họ gây chướng ngại cho đạo pháp chứ chẳng hoằng pháp gì hết.

Thế nên chân chánh phát tâm hoằng pháp lợi sanh thì nhất định phải có thiện xảo phương tiện, đó tức là lúc tự mình dụng công, tư thế phải đặt ở những chỗ thấp nhất, tốt nhất là dụng công đừng để cho người khác biết. Ở những chỗ người ta không thấy thì mình dụng công; những chỗ người ta có thể thấy thì mình hòa đồng với đại chúng, hòa mình với mọi người, hằng thuận chúng sanh tùy hỷ công đức. Ở những chỗ người ta không thấy thì tự mình nỗ lực gắng sức. Buông bỏ hết thảy danh văn lợi dưỡng, tham - sân - si - mạn, đố kỵ chướng ngại. Buông bỏ những thứ này tức là buông bỏ lục đạo luân hồi, một lòng một dạ niệm Phật cầu sanh Tịnh độ, khuyên người niệm Phật, đây là con đường vãng sanh thành Phật.
 
Hôm nay nhìn người này chẳng ưa, ngày mai thấy người nọ chướng mắt, chúng ta phải biết như vậy là tạo nghiệp luân hồi. Hết thảy những gì trên thế gian đều tùy hỷ, tự mình làm tròn bổn phận của mình, như vậy mới đúng, ngay cả Khổng lão phu tử cũng dạy tông chỉ này - ‘phải làm tròn bổn phận của mình’. Bổn phận tu học của chúng ta là y theo kinh Vô Lượng Thọ, tu tập Thanh Tịnh, Bình Đẳng, Chánh Giác, Từ Bi; trong đời sống hằng ngày phải thực hiện được Nhìn Thấu, Buông Xuống, Tự Tại, Tùy Duyên. Thiện Đạo đại sư dạy: ‘Hết thảy phải làm từ tâm chân thật’, như vậy mới đúng.
 
Chương Gia đại sư dạy tôi, ở đây tôi cũng biếu tặng lại cho quý vị: ‘Người học Phật cả đời này bất cứ việc gì đều giao cho Phật, Bồ Tát, thần hộ pháp an bài’. Bản thân mình không cần lo lắng gì cả, được như vậy thì tâm mới thanh tịnh, bình đẳng. Gặp cảnh thuận là do Phật, Bồ Tát an bài; gặp cảnh nghịch thì cũng do Phật, Bồ Tát an bài. Do vậy trong cảnh thuận chẳng sanh tâm ưa thích, trong cảnh nghịch cũng chẳng sanh phiền não. Hết thảy đều do Phật, Bồ Tát xếp đặt một cách ổn thỏa nhất, dùng công việc để luyện tâm, thành tựu đạo nghiệp, vậy thì đâu có chuyện oán trời trách người.

[1] Lục Quần Tỳ Kheo: Chữ Phạn là sad-vargīka-bhiksu, chỉ sáu tỳ kheo ác tâm kết bè kết đảng vào thời Phật còn tại thế; họ chẳng giữ giới luật và làm nhiều chuyện ác, đức Phật chế giới luật phần nhiều cũng vì sáu người này. Tên của họ ghi trong các bộ luật chẳng giống nhau, thí dụ như Tứ Phần Luật quyển 22 ghi sáu tỳ kheo gồm: Nan Đà (Nanda), Uất Nan Đà (Upananda), Ca Lưu Đà Di (Kalodayin), Chan Đà (Chanda), A Thuyết Ca (Asvaka, hay còn gọi là Mã Túc, Mã Sư), Phất Na Bạt (Punarvasu, dịch là Mãn Túc). (Lược trích từ Phật Quang Sơn Từ Điển)
 
BÀI ĐỌC THÊM

XUẤT GIA-TẠI GIA-HOÀN GIA
Ni sư Hạnh Huệ

Là Phật tử, chúng ta cần phải nhận định rõ ràng, đức Phật không phải là một vị thần hay thượng đế để ban ơn, giáng họa cho bất cứ ai. Phật chỉ là người hướng dẫn cho chúng ta con đường để đi tới chỗ an lạc giải thoát. Phật không thể đưa chúng ta lên Thiên đường, hay đày chúng ta xuống địa ngục, mà bản thân mỗi người chúng ta phải tự gánh lấy trách nhiệm đối với cuộc sống của mình, nhận lãnh hậu quả của những gì chính mình tạo ra. Tu sĩ, những người xuất gia, là những người đi theo bước chân của Phật để tự mình thoát khổ và giáo hóa chúng sanh, giúp chúng sanh thoát khỏi phiền não, thoát khỏi sanh tử luân hồi.

Nếu chúng ta hiểu hai chữ “xuất gia” theo đúng nghĩa thì sẽ thấy việc đi tu rất là cao quý. Xuất gia, tuy nói dễ mà lại rất khó, khó từ việc phải ăn chay lạt lẽo, thức khuya dậy sớm, lao tác nhọc nhằn, kể cả việc ngồi thiền cũng rất cay đắng, ngoài ra còn phải bỏ bao nhiêu những ưa thích ngày xưa, những thói quen không hợp với bối cảnh tu hành. Đi tu đã khó, lại còn thường xuyên bị “hăm dọa”, coi chừng tu không đàng hoàng phải mang lông đội sừng trả nợ áo cơm. Tu không đàng hoàng thì chỉ là cư sĩ trọc (vì đạo không ra đạo, đời không ra đời) hay điểu thử tăng (giống như dơi - chim không ra chim, chuột không ra chuột).

Cho nên, có rất nhiều người vào chùa rồi nhưng chịu không nổi áp lực, đành phải “hoàn gia”, có những trường hợp do không chịu nổi những lời quở trách, hoặc không có niềm vui trong sự tu tập nên cũng đã “hoàn gia”... Đức Phật cũng từng kể chính Ngài trong những kiếp quá khứ, phát tâm đi tu nhưng chỉ vì tiếc một cái cuốc và lon đậu giống mà đã cởi áo tu quay trở về để gieo hạt. Sự hấp dẫn của thế gian xem có vẻ như tầm thường, những sở thích tuy rất nhỏ mà lại bám vào mình khó gỡ ra. Huống chi có vô số người ngã đài vì tiếng gọi của tình cảm hay chạy theo một chút lợi danh...

Như vậy thì xem ra, có vẻ như “tại gia” là tốt nhất. Tại gia thì khỏi xuất, để khỏi về. Nhưng “tại gia” thì có nghĩa vẫn là phàm phu, suốt đời ở trong phiền não, trong sanh tử. Và ai lại không khắc khoải mưu tìm hạnh phúc? Và thông thường chúng ta đã quá vội vàng hay quá dễ dãi chấp nhận loại hạnh phúc phù du để rồi chuốc hận. Tại gia là còn ở trong vòng trần tục đầy phiền não, phía sau của những thứ mà chúng ta cho là hạnh phúc lại 8 Hạnh Huệ là “cái gai” của những khổ đau… như đức Phật đã từng nói: “Chưa được cũng khổ, được rồi cũng khổ mà được rồi mất lại càng khổ hơn”. Chẳng hạn như khi yêu một ai đó mà người ta không để ý đến mình thì lại “thất tình” than thở:

Hỡi ơi người đó ta đây
Sao ta thơ thẩn đêm ngày chiếc thân
Dẫu cho đi trọn đường trần
Chuyện riêng dễ dám một lần hé môi
Người dù ngọc thốt hoa cười
Nhìn ta như thể nhìn người không quen
Đường trần lặng lẽ bước tiên
Ai hay chân đạp lên trên mối tình?!

 
Nhưng khi cưới được người mình yêu rồi, một thời gian ngắn sao lại rền rĩ:

- Không biết lúc đó cái đầu tôi để ở đâu mà lại cầu hôn với bà.

Hoặc là khi chưa cưới thì chàng là hoàng tử, nàng là tiên nữ. Ở với nhau rồi thì chàng trở thành ác quỷ và nàng thành phù thủy. Còn nếu mọi việc xuôi chèo mát mái thì lại phải lo nơm nớp vì sự an nguy của nhau. Và không chỉ tình cảm, mà mọi thứ như tiền bạc, danh vọng, địa vị... tất cả đều bấp bênh, rất dễ trở thành ảo vọng phù vân khiến chúng ta khổ nhiều hơn vui. Rồi do một cơ duyên nào đó, đến chùa được nghe những người xuất gia thuyết pháp, để “À!” lên một tiếng tỉnh ngộ. Té ra hạnh phúc đích thực lại là sự từ bỏ tận cùng mọi vướng mắc, mọi tìm cầu để nhận ra sự an lạc vốn có sẵn nơi ta.

Theo kinh Pháp Hoa, phẩm Phương Tiện, Phật ví dụ chúng sanh như những người con vui chơi trong nhà lửa, không hề biết đến sự nguy hiểm đang rình rập quanh mình. Người cha ở ngoài thương xót, kêu con ra nhưng chúng không đoái hoài. Ông phải dùng ba xe dê, xe nai, xe trâu để dụ cho con ham thích mà chạy ra. Ra rồi thấy được đất trời thênh thang, không khí trong lành, lại được cưỡi xe đẹp tùy ý dạo chơi.

Vậy xuất gia mới có lý làm sao! Xuất gia là thượng sách.

Thời Phật, có chàng thương gia tên Đại Hắc. Một hôm thấy người ta lũ lượt mang hoa đến tinh xá nghe Phật thuyết pháp. Tò mò, anh đi theo. Chỉ qua một bài pháp về vô thường, khổ, không... anh liền quyết định xuất gia, giao hết tài sản lại cho người em, mặc dù đã có nhiều vợ. Tiểu Hắc, người em, không đành lòng thấy anh xuất gia, đã dùng mọi cách năn nỉ anh bỏ ý định nhưng thất bại. Chú bèn cũng quyết định xuất gia, không phải vì hảo tâm mà chính vì muốn kiếm cơ hội để dụ anh trở về. Chú còn bốn bà vợ, thật tình khó mà dứt áo.

Đại Hắc xuất gia, nỗ lực tu hành không bao lâu chứng Thánh quả A-la-hán. Trong khi đó Tiểu Hắc bồn chồn bất an và bất mãn cuộc sống ngoài ý muốn này, nhưng không dám bỏ anh. Một hôm, bốn bà vợ của Tiểu Hắc bàn mưu đến thỉnh chư Tăng về nhà cúng dường, và Tiểu Hắc là người được cử về chỉ huy việc xếp đặt để tiếp rước chư Tăng. Bốn bà vợ tự ý sắp xếp, không những không theo lời Tiểu Hắc, còn “xài xể” ông đã bỏ bê gia đình, không đủ tư cách sai khiến ai, và lột y áo ông ra, lấy y phục thế tục khoác vào. Tiểu Hắc phản ứng chiếu lệ một chút rồi xuôi tay. Và sau đó, dưới hình dáng thế tục, trở về tinh xá thỉnh Tăng và chính thức hoàn tục.

Những bà vợ của Đại Hắc thấy vợ Tiểu Hắc thành công, cũng bắt chước tổ chức trai phạn thỉnh chư Tăng đến. Phương thức cũng như những bà kia, cho đến khi các bà ráp lại toan cởi bỏ y phục của ngài thì ngài dùng thần thông bay lên mái nhà, chọc thủng nóc bay về tinh xá.

Trong Đại Trí Độ Luận có những câu thơ rất hay:

Khổng tước tuy hữu sắc nghiêm thân,
Bất như hồng nhạn năng cao phi.
Bạch y tuy hữu phú quý lực,
Bất như xuất gia công đức thắng.

Dịch:

Công tuy rực rỡ sắc màu,
Sao bằng hồng nhạn bay cao giữa trời.
Người đời phú quý hơn người,
Sao bằng công đức một đời xuất gia.

 
Mục đích tu hành là quay trở về với bản tâm của chính mình. Nhận ra được sự quý báu của bản tâm, chúng ta sẽ quyết tâm “lên đường” để “xuất gia”. Theo định nghĩa, xuất gia là ra khỏi nhà thế tục, nhà phiền não và nhà tam giới. Phật Tổ đều dạy tâm chúng ta tạo thiên đường, tạo địa ngục. Cả tam giới được tạo ra do chính tâm của mình, tâm gặp cảnh tùy theo thuận hay nghịch ý mà tham, sân, si khởi lên dẫn đến tạo nghiệp thiện ác, rồi đưa chúng ta đi khắp sáu nẻo luân hồi. Là Phật tử, chúng ta cần phải nhớ rõ luật nhân quả này mà điều phục tâm để có thể tự do “tùy ý sanh thân”, đừng để bị nghiệp lôi kéo.

Xuất gia, hoàn gia và tại gia còn có ý nghĩa khác. Xuất gia trong nhà Thiền còn có nghĩa là “đi hoang”.

Cha ơi cùng tử ngày xưa
Bước chân phiêu lãng nên chưa chịu về.

(Như Thủy)

Theo kinh Pháp Hoa, chúng ta chính là cùng tử bỏ nhà lang thang, sống nghèo cùng bao nhiêu năm nhưng máu phiêu lưu vẫn mạnh, không chịu trở về. Dù có những việc chúng ta biết là hay, là thiện nhưng không chịu làm; trong khi những cái biết là ác, là xấu mà vẫn thích làm… Bởi lẽ, chúng ta mải mê lượm ngói gạch quên mất, hay không biết gia tài người cha đang trông chờ mình về để phó thác. Biết được rồi thì chúng ta phải trở về thôi, tức là “hoàn gia” - “cùng tử quy cố lộ”. Như vậy hoàn gia ở đây hoàn toàn khác với hoàn tục. Khi ngồi thiền, vọng tưởng dấy khởi, dẫn chúng ta chạy khắp nơi. Nhưng nếu chúng ta nhận ra, cắt đứt ngay lập tức, ấy là chúng ta biết trở về nhà: “Phản quan tự kỷ”. Từ xưa đến giờ, có thể chúng ta đã đi rất xa, quanh quẩn trong luân hồi, nhưng vẫn không ra khỏi tâm mình. Cho nên con đường trở về rất ngắn, rất mau. Chỉ cần bỏ hết vọng tưởng là về được với Tâm - cái nhà đích thực của mình.

Thiền sư Động Sơn khi mãn hạ, nói với tăng chúng:

- Huynh đệ đi Đông đi Tây phải hướng vào chỗ vạn dặm không tấc cỏ mà đi.

Giây lâu nói:

- Chỉ như chỗ vạn dặm không tấc cỏ, làm sao đi?

Thạch Sương nói:

- Sao chẳng nói, ra cửa liền là cỏ?

Động Sơn nghe được nói:

- Lưu Dương lại có cổ Phật ư?

Thái Dương Diên nói:

- Nói thẳng không ra cửa, cỏ cũng đầy đất. Thử nói phải làm sao đặt chân.

Giây lâu nói:
 
Mạc thủ hàn nham dị thảo thanh
Tọa khước bạch vân chung bất diệu.


Chớ giữ núi lạnh, cỏ lạ xanh
Ngồi trong mây trắng trọn chẳng tuyệt.

Ở đây “cỏ” có thể hiểu là những phiền não, khi mình “vừa bước ra” tức là vừa khởi một vọng tưởng thì gặp cỏ ngay. Còn nếu không khởi một vọng niệm nào, giữ thật tĩnh thì vẫn là cỏ. Tâm có hai trạng thái thường gặp: Động và Tịnh. Nếu tâm của chúng ta cứ lăng xăng là động, nhưng nếu chúng ta bỏ động về tịnh, và cứ ở trong trạng thái tịnh hoài thì cũng không ổn. Vì tâm không thuộc động hay tịnh, tâm là liễu liễu thường tri, là cái biết linh động không bị cảnh gạt nên không theo cảnh rong ruổi, nhưng không phải ù lỳ chìm đắm trong lặng lẽ, im lìm. Nên muốn đừng gặp “cỏ” thì chúng ta phải sống tỉnh giác, để giữ cho tâm mình ở trạng thái bình thường vượt khỏi động tịnh. Như vậy, chúng ta đã biết trở về nhà - “hoàn gia”.

Trở về nhà, tức là mình là chủ nhà, thong dong tự tại, mọi việc tùy ý. Người ta thường nói: “Ôi! Chốn quê hương đẹp hơn cả!” Chúng ta thoải mái trong nhà mình, dù nhà thế nào đi nữa cũng hơn ở nhà người tuy nhà cao cửa rộng.

Ta về ta tắm ao ta,
Dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn.

Đó là ca tụng phương diện tự tại khi làm chủ. Tại gia là ở ngay trong nhà của mình, không phải tìm Đông, kiếm Tây nữa.

Cổ đức nói: “Cha mẹ không cho, không được xuất gia”. Chúng ta có hai thân: Thân mạng và huệ mạng. Nếu thân mạng khởi đầu do vô minh và tham ái thì huệ mạng được “nuôi lớn” là nhờ trí tuệ và từ bi. Vì vậy, đối với người tu, nếu được “cha trí tuệ”“mẹ từ bi” cho phép thì mới được “xuất gia”, tức là khởi tâm động niệm trong sự tỉnh giác, còn nếu không thì “nhà mình mình ở”. Vì vậy, chúng ta thấy tại gia rất quan trọng. Trong khi đó, từ xưa nay, chúng ta vì theo thinh, sắc mà chạy khắp Đông, Tây khiến chúng ta mệt nhoài nhưng nếu chúng ta tỉnh giác, nhận ra được bản tánh chân thật vốn có của mình tức là chúng ta đang ở ngay tại nhà của mình.

Thời xưa, có một vị quan thái úy tên Lý Đoan Nguyện. Vốn hâm mộ Thiền, nên ông đã nghiên cứu từ thời còn trẻ. Mặc dù làm quan, nhưng phía sau vườn nhà ông vẫn có một cái thất để ông tu. Ông thường mời thiền sư Đạt Quán đến để hỏi đạo. Ông mê đạo đến quên ăn, bỏ ngủ nhưng ông vẫn chưa biết cách để “vào nhà”, tức là chưa nhận ra được bản tâm của mình. Một hôm, ngài Đạt Quán bảo ông rằng:

- Sự tinh tấn của ông như vầy rất đáng quý. Phải là người tái sanh mới được như thế. Nhưng tại sao lại không chịu ngộ?

Vị quan nghe xong liền xin đặt câu hỏi với Thiền sư:

- Xin Hòa thượng nói rõ giùm con, có thiên đường và địa ngục hay không?

Thiền sư liền trả lời:

- Chư Phật Như Lai ngày xưa từ ở trong không mà nói có, giống như thấy hoa đốm giữa hư không. Còn ông bây giờ thì từ ở nơi có lại hỏi về không như là mò trăng đáy nước. Thật là đáng tức cười.

Lý Đoan Nguyện hỏi tiếp:

- Như vậy lúc tâm của mình không khởi nghĩ thì mình đi về đâu?

Thiền sư đáp:

- À, thỉnh Thái úy trở về nhà.

Và ông ta đã ngộ.

Chúng ta thường nghĩ, khi tâm mình không nghĩ gì hết thì nó trống rỗng, ngu ngơ, nhưng không biết rằng khi buông hết mọi niệm, đó chính là lúc mình đang ở tại nhà. Lúc đó, bản tâm đang chiếu sáng. Tuy không thấy hình dáng, mà lừa nó một chút cũng không được. Chẳng hạn như, khi mình ngồi yên không nghĩ gì hết - dĩ nhiên không phải là chết - có việc gì xảy ra trước mắt, mình đều thấy rõ, nghe rõ và có thể nói nhận biết rõ mọi việc mà không có bất cứ thành kiến nào làm méo mó. Như thế là trí tuệ, thứ trí tuệ không học hỏi từ bên ngoài mà là thứ phát sáng từ bên trong. Tại gia tuyệt vời thế đó! Cho nên, tại gia tức mình đang có tâm làm chủ, có tâm là chủ, là tâm không “đi hoang”. Và những người ngồi trong nhà của mình một cách an ổn, ấy là những người có bản lĩnh.

Phật dạy: “Pháp của ta thực tế, đến để mà thấy.” Phật pháp thực tế, ở tại đây, mọi người đều có thể áp dụng vào cuộc sống hằng ngày của mình. Có thực hành liền có lợi ích, liền có an lạc, liền có Niết bàn.

Thế thì, chúng ta phải “xuất gia” tức là vượt ra khỏi nhà phiền não, nhà tam giới để trở về với “ngôi nhà” đích thực của mình. Và khi đã “hoàn gia” thì nên ở yên ổn trong nhà của mình. Hay nói cách khác, “xuất gia” là chúng ta cần phải buông bỏ hết mọi phiền não. Nếu có lỡ chạy theo vật, thì cần phải tỉnh giác để quay trở về - “hoàn gia”. Và lúc nào cũng phải nhớ mình chính là ông chủ ngay trong nhà của mình - “tại gia”. Ông chủ ấy chính là tâm Phật.

Cuối cùng, nếu chúng ta luôn biết rằng Phật luôn ở trong ta không lúc nào rời. Tâm ta chính là Phật, bao la không giới hạn, dù làm gì, có quay cuồng nhảy múa, nhảy một cái được muôn dặm đi nữa thì vẫn không ra khỏi tâm như Tôn Hành Giả nhảy không ra khỏi bàn tay của Phật. Thế thì ở đâu lại chẳng phải nhà mình. Hằng ở nhà mà chẳng biết, vì không tỉnh táo, chập chờn cơn mộng thấy làm kẻ tha phương, mất quê hương, rồi cũng trong mộng tìm đường trở về.

Theo thinh sắc khắp đông tây,
Tỉnh ra thấy vẫn nằm ngay giường nhà.

Thế thì không có chuyện xuất gia, nên cũng không có chuyện trở về, và cũng không cần khư khư ngồi yên gọi là ở tại nhà, mà là thong dong trong ba cõi sáu đường làm mọi việc thuận theo bản tánh, không mê mờ nên không tìm giác ngộ, không thiếu thốn nên chẳng có gì mong cầu. “Tùy duyên tiêu nghiệp cũ, hồn nhiên khoác áo xiêm.” Cũng dựng lập đạo tràng, cũng tạo bao Phật sự, cũng hàng phục chướng ma, cũng cầu chứng Phật quả. Nhưng mọi việc như trăng đáy nước, như hoa đốm giữa hư không, như bóng trong gương, như cảnh trong mộng.

Khải kiến thủy nguyệt đạo tràng,
Đại tác không hoa Phật sự.
Hàng phục cảnh lý ma quân,
Cầu chứng mộng trung Phật quả.
Thú vị thay cuộc sống thực sự của người tu!
 
Ý NGHĨA XUẤT GIA
TAM TUỆ - TAM VÔ LẬU HỌC

HT. Thích Thanh Từ Giảng tại TV. Kim Sơn - Mỹ - 2000

Hôm nay, thầy Minh Đạt mời tôi nói chuyện để nhắc nhở tất cả Tăng Ni trên đường tu hành. Vì vậy buổi nói chuyện này, tôi đặt trọng tâm ở Tăng Ni. Tất cả quí vị chú ý lắng nghe để thâm nhập được những gì tôi muốn gởi gắm đến quí vị.

Tăng Ni là những người đã xuất gia, vậy ý nghĩa “xuất gia” là gì, quí vị có nhớ không? Người xuất gia nếu không biết được ý nghĩa của xuất gia thì thật là một thiếu sót quá lớn. Khi xuất gia, chúng ta luôn luôn được dạy, xuất gia có ba nghĩa:

1. Xuất thế tục gia.

2. Xuất phiền não gia.

3. Xuất tam giới gia.

Trước hết là xuất thế tục gia. Chúng ta khi phát nguyện cạo tóc xuất gia làm Sa-di, thì kể từ ngày đó phải ra khỏi nhà thế tục. Nhà thế tục là nhà cha mẹ, anh chị. Nếu người già, thì nhà của con cháu. Tại sao chúng ta phải ra khỏi nhà đó? Bởi vì còn trong nhà thế tục thì phiền não còn vây khốn chung quanh, không thể nào gỡ được.

Thí dụ như cha mẹ, anh em làm ăn được mất, trong nhà có chuyện vui buồn, mình đều phải lãnh hết. Người này phân bua, người kia kể lể, nghe toàn những chuyện thế gian khiến tâm mình tán loạn, nên tu rất khó. Vì vậy khi xuất gia phải ra khỏi nhà thế tục, vào chùa hoặc tu viện, Thiền viện. Người phát tâm xuất gia thì phải có ý chí mạnh mẽ, ra khỏi nhà để quên hết mọi vướng mắc trói buộc trong gia đình. Như vậy mới có thể tu hạnh giải thoát được. Đó là nói người trẻ.

Người già cũng vậy. Nếu ở một bên con cháu, cứ thương mến lo lắng cho nó mãi, không còn thì giờ tu hành. Đến khi nhắm mắt ra đi, lại quyến luyến chúng nó không đi được. Thành ra khi tắt thở, tái sanh trở lại giữ con, giữ cháu nữa. Như vậy đi tu có nghĩa lý gì?

Nhiều người không biết, cứ mơ ước được xuất gia, vì nghĩ rằng cạo đầu đắp y Phật là được giải thoát. Nhưng tâm trần tục chưa cắt đứt thì làm sao giải thoát được. Cho nên nói tới xuất gia là nói tới tinh thần can đảm, cương quyết ra khỏi nhà thế tục, không còn vướng bận gì nữa. Như thế mới đúng nghĩa ý nghĩa xuất gia.

Song gần đây một số vị trách tôi: Thầy biết xuất gia là ra khỏi nhà thế tục, sao có nhiều cụ già xin xuất gia, rồi về ở với con mà thầy vẫn cho xuất gia? Thế là quí vị đâm ra nghi ngờ chắc tôi chưa thâm nhập được lý này. Thật ra tôi làm việc gì đều có mục đích, có căn cứ. Ngày xưa, thời đức Phật còn tại thế, có bà Tỳ-kheo ni Liên Hoa Sắc chứng quả A-la-hán rồi, gặp các cô thiếu nữ mười bảy, mười tám tuổi, bà khuyên: “Các con nên đi tu, xuất gia làm Tỳ-kheo ni đi.” Các cô ấy thưa: “Thưa bà, chúng con còn tham ăn tham ngủ quá, đi tu sao được? Nếu đi tu, lỡ phạm giới chúng con đọa địa ngục chết.” Bà đáp: “Không sao, lỡ có phạm giới đọa địa ngục, hết tội lên tu nữa.” Như vậy là sao? Nghĩa là một khi gieo được hạt giống xuất gia rồi, thì dù có phạm tội phải trả, nhưng trả đền hết rồi hạt giống cũ vẫn còn, cho nên có thể gặp Phật pháp tiếp tục tu hành. Vì vậy mà bà khuyến khích gieo hạt giống xuất gia.

Ở đây cũng vậy, có những cụ già lớn tuổi, không làm gì nổi, nhưng muốn gieo hạt giống xuất gia để mai kia ra đời sớm được thức tỉnh. Tôi cũng nghĩ đến thiện căn đó mà cho xuất gia làm Sa-di. Đó là tôi vì quí vị mà gieo hạt giống lành, chớ đúng nghĩa xuất gia thì không có quyền ở nhà. Cho nên, trong một số trường hợp các cụ già tu là để gieo duyên thôi. Hiểu như vậy, quí vị mới không nghi ngờ thiện chí và việc làm của chúng tôi.

Còn người trẻ xuất gia để làm gì? Xuất gia là tu hạnh giải thoát. Tự mình tu để được giải thoát, đồng thời hướng dẫn chỉ dạy cho người khác tu cùng giải thoát nữa. Tất cả tuổi thanh xuân, bầu nhiệt huyết thời son trẻ của mình, đều dồn hết cho đạo, cho Phật pháp. Để mai kia lớn lên mình đủ tư cách lãnh đạo, hướng dẫn Phật tử tu hành. Vì vậy hàng xuất gia trẻ tuổi không được phép ở nhà nương tựa cha mẹ. Đã xuất gia rồi mà trở về nhà là một sự thối tâm, một lui sụt rất lớn. Quí vị tu trẻ không nên nghĩ đến điều đó. Đã xuất gia rồi thì phải cương quyết dù chết dù sống cũng phải đi tới cùng, chớ không thể đi một đoạn rồi lui sụt. Như vậy mình là một con người không có lý tưởng, không có lập trường, không có ý chí. Kẻ đó làm việc gì cũng không thành tựu.

Đó là ý nghĩa thứ nhất, xuất gia là ra khỏi nhà thế tục.

Đến ý nghĩa thứ hai là xuất phiền não gia, tức ra khỏi nhà phiền não. Tăng Ni hiện giờ xuất gia có ra khỏi nhà phiền não chưa? Người xuất gia là ra khỏi nhà phiền não. Còn phiền não thì chưa gọi là xuất gia. Bởi vì mai kia chúng ta làm thầy dạy người, hướng dẫn hậu lai, nếu mình còn đầy phiền não thì dạy ai? Cho nên người xuất gia phải gột sạch phiền não, mới chỉ dạy cho người khác gột sạch phiền não được. Ta lấm lem mà bảo người ăn ở cho sạch thì không bao giờ người nghe ta. Ngược lại, người ta còn đặt câu hỏi: Thầy hay cô có sạch chưa mà bảo tụi con phải sạch? Chừng đó mình nói sao đây?

Ở đây tôi chỉ nói phiền não của tam độc tham sân si, quí vị đã sạch chưa? Tham sân si thôi mà cũng chưa sạch, thì nói gì những thứ vi tế hơn. Trong kinh A-hàm kể lại, một hôm đức Phật gọi các thầy Tỳ-kheo đến bảo:

- Này các Tỳ-kheo, nếu trong thất của các ông có ba con rắn độc chui vào thì các ông có ngủ yên không?

Các thầy Tỳ-kheo thưa:

- Bạch Thế Tôn, chúng con ngủ không yên.

Phật hỏi:

- Làm sao các ông mới ngủ yên?

- Bạch Thế Tôn, chừng nào đuổi được ba con rắn độc ấy ra khỏi thất, chúng con ngủ mới yên.

Phật nói:

- Cũng vậy, ba con rắn ấy tuy độc, nhưng nó cắn chỉ chết một thân này thôi. Còn ba thứ độc tham, sân, si giết hại con người không biết bao nhiêu đời.

Tham sân si còn độc hơn cả con rắn độc. Biết thế rồi, chúng ta có dám chứa nó trong nhà nữa không. Hiện giờ quí vị đang chứa hay đuổi hết rồi? Rắn độc ở trong nhà, nhiều khi không muốn đuổi mà còn nuôi nữa chứ. Thật là trái đạo lý vô cùng. Dù chỉ một con thôi ngủ còn không yên, huống nữa là đủ ba con. Tại nó lì hay tại mình thương nó?

Có nhiều người nổi sân la lối om sòm, người khác khuyên tại sao thầy (cô) nóng quá vậy, thì liền nói: “Nó làm cái đó đáng tức quá mà, không nổi nóng sao được?” “Đáng tức” hay “đáng giận” là cho cái giận cái tức của mình là đúng. Như vậy mình dung dưỡng sân hận trong lòng, không nỡ đuổi đi. Đó không phải là nuôi rắn độc sao? Nếu không thương nó, khi được nhắc mình liền tỉnh: “À, tôi quên. Thôi, tôi không dám tái phạm điều đó nữa đâu.” Như vậy mới gan dạ, mới gọi là đuổi ba con rắn độc ra khỏi nhà.

Bao giờ còn tham, sân, si là chúng ta còn trằn trọc, khó chịu trong lòng. Vậy tại sao không chịu đuổi nó đi. Đem hết tâm tư, đem hết sức lực cố gắng đuổi, chớ không bao giờ cười chơi khi thấy ba con rắn độc đang nằm ngủ trong nhà. Biết có rắn độc trong nhà mà vẫn yên vui tươi cười, đó là người thông minh hay ngu muội? - Ngu muội. Bởi si mê nên chúng ta mới chứa chấp ba thứ độc. Ngày nào còn một đứa, một con trong nhà là ngày đó còn bất an, còn lo sợ.

Người tu chúng ta ngày nay thấy ai buồn ai khổ thì khuyên, miệng nói hay lắm nhưng tới phiên mình thì cũng buồn khổ như ai. Đó là điều đáng xấu hổ. Chúng ta là bậc thầy mà không có đủ tư cách, đủ khả năng để dạy dỗ cho người, đó không phải là điều tủi nhục sao? Cho nên tất cả Tăng Ni phải thấy, phải biết trách nhiệm của mình, không thể nào lơ là nuôi dưỡng phiền não dẫy đầy trong tâm.

Đôi khi chúng ta còn tìm biện hộ cho cái dở của mình nữa. Khi có điều gì khiến mình nổi sân lớn tiếng, chúng ta đổ thừa: “Tại nói nhỏ họ không chịu nghe, buộc lòng phải la lớn. La lớn cho họ sợ!” Thật ra không biết đó là “buộc lòng” hay nổi nóng. Chúng ta nổi nóng, kềm không được nên la lớn tiếng, chớ có buộc lòng gì đâu. Lại còn mượn lý lẽ Bồ-tát quở nạt người là vì đại từ đại bi, nên ta cũng như vậy. Thật đáng tội.

Đức Phật dạy chúng ta bỏ tham sân si khi bản thân Ngài đã dứt sạch nó. Do đó chúng ta mới theo, mới đảnh lễ Ngài. Nếu Phật còn tham sân si thì chắc chúng ta đã không theo, không đảnh lễ Ngài. Trong kinh A-hàm kể lại, một hôm đức Phật đi giáo hóa vùng theo đạo Bà-la-môn, Ngài độ được dân chúng tu Phật rất đông. Thầy Bà-la-môn vùng đó mất hết bổn đạo liền nổi sân. Một hôm, ông chờ đức Phật ôm bát đi khất thực, liền theo sau chửi rủa. Ông chửi từ đầu đường tới cuối đường, mà đức Phật vẫn cứ ung dung đi, không trả lời gì hết. Tức quá, ông chặn Phật hỏi:

- Cù-đàm, Ngài có điếc không?

Phật trả lời:

- Không. Ta không điếc.

- Không điếc, tại sao tôi chửi Ngài, Ngài không trả lời?

Phật nói:

- Nếu ông có quà đem tặng người ta, người ta không nhận thì quà đó về ai?

- Nếu tôi tặng quà mà người ta không nhận thì quà đó về tôi chớ về ai.

Phật nói:

- Cũng vậy, ông chửi ta mà ta không nhận thì có dính dáng gì đâu.

Nghe vậy, ông Bà-la-môn im lặng bỏ đi. Nhờ thế bây giờ chúng ta mới lạy Phật. Nếu khi đó Phật cự lại với ông Bà-la-môn thì ngày nay mình đâu có lạy Ngài. Chúng ta bây giờ đừng nói là chửi, chỉ nghe huynh đệ xù xì thôi là đã khó chịu, đã nghi ngờ rồi. Cho nên phải đứng lại nghe lóm xem có dính tên mình không? Nếu lỡ có dính thì biết. Như vậy có phải kiếm việc để phiền não không? Người ta không kêu tên mình, không nói thẳng mặt mình mà mình lén nghe rồi sanh sự. Thật là quá cách xa với những gì Phật dạy, quá xa với tư cách của một người xuất gia.

Người tu là người gác ra ngoài những lời nói vô nghĩa, không bận tâm những chuyện thị phi, để dồn hết tâm lực vào việc tu hành. Như vậy mới mong có ngày hết phiền não, có ngày giải thoát. Còn chúng ta dính mắc quá chừng thì làm sao hết phiền não? Phiền não không hết thì làm sao được tự tại, giải thoát? Bao nhiêu đó đủ thấy tâm nguyện của mình như thế nào rồi.

Ai xuất gia cũng đều nguyện đi trên con đường giải thoát để cứu độ chúng sanh, nhưng rốt cuộc bản thân mình chẳng giải thoát được chút nào hết. Thật đáng buồn tủi cho chúng ta, chưa xứng đáng mặc áo Như Lai.

Tôi muốn nhắc cho tất cả Tăng Ni nhớ lại bản nguyện của mình khi xuất gia, đừng để mình trở thành những kẻ tự dối và dối người. Đó là điều không tốt. Chúng ta còn đang cục cựa, lăn lộn trong nhà phiền não, chưa ra khỏi được thì phải ăn năn sám hối, cố gắng tinh tấn vượt ra, chớ đâu thể ngồi yên trong đó mà hỉ hả qua ngày. Đã là Tăng Ni thì phải nguyện ra khỏi nhà phiền não. Được như vậy chúng ta mới thật sự xứng đáng là người xuất gia.

Không tu thì thôi, chớ đã từ bỏ cha mẹ, xa rời thân quyến, không làm các bổn phận của một người bình thường, cầu đạo xuất gia, mà không làm tròn bổn phận của người xuất gia thì có lỗi rất lớn. Lỗi với Tôn sư, với cha mẹ thân quyến, với đàn-na tín thí, với quốc gia xã tắc, quí vị không thấy sợ sao? Nên nói tới người xuất gia, Tăng Ni phải cố gắng làm tròn bản nguyện của mình.

Đó là ý nghĩa thứ hai, xuất gia là ra khỏi nhà phiền não.

Đến thứ ba là xuất tam giới gia. Nghĩa là ra khỏi nhà tam giới. Đức Phật dạy có ba cõi Dục giới, Sắc giới và Vô sắc giới. Người tu chẳng những ra khỏi nhà phiền não của Dục giới, mà ra luôn cả nhà phiền não của Sắc giới và Vô sắc giới, hoàn toàn thoát ly sanh tử, không còn đi trong tam giới nữa. Đó là xuất tam giới gia.

Nên biết ý chí của người xuất gia cao vót tột cùng, chớ không phải tầm thường. Mình tu là phải ra khỏi cả nhà tam giới, chúng ta nguyện ra khỏi tam giới để đi đến giác ngộ viên mãn. Đó là mục đích cứu kính của người tu. Như vậy con đường mình đi còn rất xa. Chúng ta phải cố gắng nỗ lực, không nên chểnh mảng xem thường. Tu là để giải thoát sanh tử, chớ không phải để đời sau được sung sướng, an nhàn. Chư Bồ-tát còn phải trải qua Thập tín, Thập trụ, Thập hạnh, Thập hồi hướng lên tới Thập địa mới được giải thoát, huống nữa là chúng ta chưa bước được bước nào.

Các bậc Tôn túc đã ca tụng hạnh xuất gia: “Xuất gia giả, phi tướng tướng chi sở năng vi”, tức là chuyện của người xuất gia không phải tướng võ, tướng văn có thể làm được, mà đó là chuyện phi thường. Bởi chí nguyện quá lớn, con đường quá dài người ý chí tầm thường không thể đảm đương nổi. Vì vậy Tăng Ni phải lập chí thật vững mạnh, thật cương quyết. Dù khó khăn trở ngại đến đâu, cũng vững bước không dừng, không lui sụt. Đó là ý chí siêu phàm của người xuất gia.

Kế đến, tôi sẽ giải thích xuất tam giới gia, xuất phiền não gia rất phù hợp với Tam tuệ học và Tam vô lậu học.

Tam tuệ học là Văn tuệ, Tư tuệ và Tu tuệ. Văn tuệ là gì? Sau khi xuất gia rồi Tăng Ni phải học kinh điển. Nhờ học kinh điển chúng ta mới mở sáng trí tuệ. Nếu không học kinh điển thì không mở sáng trí tuệ được, vì đức Phật đã dạy: “Các ngươi phải tự thắp đuốc lên mà đi. Thắp lên với chánh pháp.” Chúng ta có sẵn ngọn đuốc, nhưng chưa cháy, nếu không thể tự đốt được thì phải mồi với ngọn đuốc chánh pháp của Phật.

Học tức là đem cây đuốc chưa cháy của mình mồi với cây đuốc đã cháy của Phật, để cây đuốc của mình được cháy sáng. Nên muốn mở sáng trí tuệ trước phải học Phật. Nhờ học Phật chúng ta mới hiểu được lẽ thật, thấy được cái gì là hư dối, cái gì là chân thật. Đó là bước đầu của người mới vào đạo. Học trực tiếp là học với thầy, học gián tiếp là nghe những băng giảng của các vị thầy mình tin kính, đúng chánh pháp. Đó gọi là Văn tuệ.

Tư tuệ là sau khi học, chúng ta phải nghiền ngẫm nghĩa lý những gì mình đã học, không phải học như con vẹt, nghe câu nào học thuộc lòng câu đó rồi nói lại, chớ không hiểu gì hết. Chúng ta học Phật là khi nghe lời Phật dạy, phải đem hết tâm trí của mình suy nghiệm về câu đó, xem đúng thế nào, hay chỗ nào, để mình được thấm nhuần sâu hơn. Ví dụ nghe trong kinh dạy các pháp là vô thường, mình liền suy gẫm: Các pháp là gì? Là tất cả những thứ có hình tướng, có danh tự ở thế gian. Thân này cũng là một pháp, cái bàn cũng là một pháp, cái nhà cho đến tất cả các sự vật có hình tướng ở thế gian đều là pháp. Tất cả những thứ đó đều vô thường.

Chúng ta đặt tiếp câu hỏi: Thân mình có vô thường không? Thân này mới sanh ra chỉ vài ký là cùng, dần dần nó nặng tới sáu bảy chục ký, như vậy nó có thay đổi. Tới chừng sáu bảy mươi tuổi, thì từ sáu bảy chục ký nó tụt xuống lần lần tới khô kiệt rồi chết. Thân này sanh, già, bệnh, chết nên vô thường, đổi thay liên tục từng sát-na. Mới ngày nào mình trẻ, giờ đầu đã bạc, rồi không biết hôm nào mình sẽ lụm cụm đi không nổi, cuối cùng tắt thở. Như vậy thân chúng ta luôn luôn bị luật vô thường chi phối. Thân ta bị vô thường chi phối, mọi vật trên thế gian này cũng thế, đó là một lẽ thật. Suy gẫm đáo để như vậy thì lý vô thường thâm nhập vào tâm trí của mình. Nhờ thế thấy biết đúng như thật, đó là đã có trí tuệ, đã sáng suốt rồi.

Phật nói thân này là bất tịnh, nhơ nhớp. Chúng ta phân tích rõ ràng từng phần, cuối cùng thấy quả là đúng, thân này chỉ là đãy da hôi thối, không có giá trị gì cả. Nhờ thế không quí, không chấp, không ngạo mạn về thân nữa. Mình đẹp cũng không dám chê người xấu. Vì tất cả đều là đãy da hôi thối thì có ai hơn ai.

Nếu chúng ta thấy đúng như vậy thì rất dễ tu. Nhờ Tư tuệ, càng ngày trí tuệ chúng ta càng tăng trưởng. Trí tuệ tăng trưởng thì mê lầm giảm, cho tới không còn nữa là chúng ta được giác ngộ viên mãn. Tu là để phá mê lầm, vì nó là gốc của luân hồi.

Từ Tư tuệ chúng ta bước qua Tu tuệ rất dễ. Như khi biết thân này không ra gì, thì người ta có chê cười, mình không giận. Đó là bớt sân, bớt chấp. Bớt chấp tức là bớt si. Nhờ biết thân này vô thường, nên khi bệnh hoạn hoặc ai làm thương tổn thì mình vẫn bình thản, vì biết thân này còn mất như trò chơi, lo sợ buồn giận làm gì. Đó là tiến tu. Cho nên muốn được Tu tuệ, chúng ta phải Tư tuệ cho chín chắn.

Người không thấm nhuần lời Phật dạy làm sao tu được. Khi đã thấm nhuần rồi thì gặp những chuyện trái tai gai mắt, tự nhiên mình bỏ qua một cách nhẹ nhàng, không có gì khó hết. Vì chúng ta thấy rõ bản chất của các sự vật, bản chất thật của con người vốn không thật, mình không còn mê lầm nữa. Đó là đi tới Tu tuệ. Như vậy, Tam tuệ học giúp chúng ta tiến tu trên con đường giải thoát.

Kế đến là nói sự liên hệ đến Tam vô lậu học. Nhờ tam tuệ mà chúng ta phá được phiền não. Phá được phiền não rồi thì tiến lên tu Ba môn giải thoát. Ba môn giải thoát là Giới, Định, Tuệ. Ba môn giải thoát này sẽ giúp chúng ta ra khỏi nhà tam giới.

Tại sao phải Giới? Bởi vì Phật dạy giới luật là hàng rào ngăn chặn, không cho mình rơi vào tội lỗi. Giới thường được giải nghĩa theo là chữ Hán là Phòng phi chỉ ác. Phòng là ngừa, chỉ chặn đứng. Ngừa những lầm lỗi, chặn đứng những điều tội ác, đó là giới. Nếu muốn tâm an định, thì chặn đứng những tội lỗi. Khi ta phạm sai lầm thì ngồi thiền, hoặc niệm Phật đều cảm thấy ray rứt, không an. Người tu phải giữ giới thì tâm mới yên định. Nên Giới là phương tiện đầu để tiến lên giải thoát.

Giữ giới tâm mới được định, nên nói từ Giới sanh Định. Tâm vọng tưởng là nhân luân hồi sanh tử, nếu tâm này dừng lặng thì nhân luân hồi sanh tử cũng chấm dứt. Tâm vọng tưởng là ý nghiệp, nó chính là gốc tạo nghiệp. Dừng được nó thì nghiệp cũng dừng. Vì vậy muốn thoát ly tam giới thì phải dừng ý nghiệp. Ý nghiệp dừng thì khẩu nghiệp thân nghiệp cũng dừng. Khi ngồi thiền, lặng hết tâm tư, vọng tưởng thì được định. Được định tức là dứt được mầm sanh tử. Vì vậy, ngồi thiền hay niệm Phật là phương tiện đưa chúng ta tới giải thoát sanh tử, chớ không phải việc tầm thường.

Chúng ta tu theo Phật cốt làm sao đi tới chỗ cuối cùng là giác ngộ. Giác ngộ ngay nơi mình có sẵn tánh Phật. Cho nên chặng thứ nhất của người tu là ra khỏi nhà thế tục. Chặng thứ hai là suy gẫm cho thấm sâu đạo lý. Chặng thứ ba là phải tu cho sạch phiền não. Sạch phiền não mà chưa thấy được Tánh giác cũng chưa được. Muốn thấy được Tánh giác phải qua ba chặng khác là Giới, Định và Tuệ.

Văn, Tư, Tu là học Trí hữu sư. Nhờ thầy dạy là Văn, suy gẫm lời thầy lời Phật dạy là Tư, ứng dụng tu là Tu. Ba tuệ học còn trong phạm vi của Trí tuệ hữu sư. Tiến lên chúng ta học Giới để bảo vệ tâm mình không tạo tội lỗi. Từ Giới bước qua Định, tâm lặng xuống, chỗ này không còn cái học hữu sư nữa. Nhờ Định mà phát Tuệ. Trí tuệ này là Trí vô sư. Trí vô sư chính là Căn bản trí, tức trí sẵn ở nơi mình, mà lâu nay chúng ta không biết. Khi tâm hoàn toàn thanh tịnh, trí này mới hiện ra, chớ không phải tìm kiếm ở đâu xa, cũng không phải nhờ ai đem đến.

Như vậy Bảo sở của chúng ta rất xa mà cũng rất gần. Rất xa vì phiền não còn đầy dẫy, rất gần vì nó ở ngay nơi mình, chớ không ở nơi nào khác. Nếu ngay nơi mình, chúng ta tu được Giới, Định, Tuệ thì Phật hiện ra liền. Cho nên đức Phật từng nói: “Ta là Phật đã thành, các ngươi là Phật sẽ thành.” Tất cả chúng ta đều có khả năng thành Phật, chỉ tại mình không chịu làm thôi.

Chúng ta cứ lo chạy theo vô minh phiền não, nên mất quyền làm chủ. Bây giờ gạt vô minh phiền não qua một bên, thì quyền thành Phật nằm sẵn trong tay chúng ta, chớ có đâu xa. Đạo Phật dạy chúng ta tu là một việc làm hết sức thực tế, chớ không phải chuyện viển vông. Tu hết phiền não thì tự nhiên hết khổ. Hết khổ thì được an lạc. Như vậy đạo Phật là ban vui, cứu khổ cho mình cho người. Đạo Phật đưa một con người từ mê lầm trở thành một con người giác ngộ, từ bờ mê lên bến giác. Đó là trọng tâm của đạo Phật.

Tăng Ni là những người đang chèo thuyền, để cứu vớt người dưới biển mê lên bờ giác. Trách nhiệm nặng hay nhẹ? Chúng ta phải là những người tỉnh trước, lên bờ trước mới có thể đưa chúng sanh mê lên bờ giác được. Do đó việc cất chùa, lập Thiền viện là sắm thuyền để độ người, chớ không phải cất chùa, lập Thiền viện để thu tiền, để được vinh dự thế này thế nọ. Phải nhớ mục đích chính của chúng ta là tu để giải thoát sanh tử và giúp chúng sanh cùng được giải thoát như mình. Cho nên mọi việc khác đều là việc phụ, là phương tiện, là thuyền bè để cứu vớt người mê lên bến giác. Đó mới là chỗ chân thật, chỗ cuối cùng chúng ta nhắm đến.

Tôi nhắc nhở bao nhiêu đó cũng đủ để Tăng Ni suy gẫm và biết mình phải làm gì rồi. Mong tất cả cố gắng thực hiện hoài bão lớn lao nhất của đời mình, cố gắng tinh tấn tu hành, đừng để chí nguyện thì cao tột mây xanh, mà hành trì thì là đà dưới đất. Như vậy chẳng những thiên hạ chê cười mà bản thân chúng ta sẽ chuốc lấy đau khổ nhiều hơn nữa. Ý thức rõ được bổn phận của mình, nỗ lực không thối chuyển, tôi tin chắc Tăng Ni sẽ đạt được mục đích cứu kính của mình là giác ngộ viên mãn.

Giảng sư

Kết nối

Tổng số truy cập
Thông tin: 48.237
Pháp Âm: 28.377
Đang truy cập
Hôm qua: 7874
Tổng truy cập: 1.808.923
Số người đang online: 324

Các tin khác

PHÁP ÂM NỔI BẬT

Giảng sư Xem tất cả

hosting gia re , web gia re tron goi , thiet ke web tron goi tai ho chi minh, binh duong, vung tau, ha noi, ca nuoc , thiet ke web tron goi gia re