chuabuuchau.com.vn,chuabuuchau, chua buu chau, chùa bửu châu, chua buu chau cu chi

Trong thiên không, nhạn ghé qua mặt nước

Đạo Phật ra đời tại Ấn Độ và đi cùng dòng sử của nhân loại đến nay đã hơn 2560 năm. Từ mảnh đất phía nam của Ấn Độ cổ đại Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã thị hiện, xuất gia, tìm đạo và rồi đạt được giác ngộ toàn vẹn, từ đó Ngài mang ánh sáng của đạo giải thoát đi trong cuộc đời. Ánh sáng ấy xua tan đi màn đêm của sự khổ nơi chúng sinh, sự khổ ấy có mặt bởi muôn vàn những nguyên nhân từ thô đến tế nhưng chung lại thì là tham ái, sân hận và si mê dẫn đầu. Ánh sáng mà Thế Tôn soi rọi đã dẫn chúng sinh đến với sự diệt trừ những nguyên nhân gây ra khổ đau này để đạt được cái đích chấm dứt mọi sự khổ, bằng con đường của sự diệt khổ. Con đường ấy xuất phát nơi lòng từ bi cùng với trí tuệ sáng suốt mà được xây dựng và kiện toàn, đó là bát chánh đạo. Bát chánh đạo là điểm khởi đầu, là con đường và cũng là đích đến để diệt được khổ, nó đi từ học hỏi rồi thực hành mà thành tựu cho chính mình và làm lợi ích cho chúng sinh. Buổi đầu chánh pháp được Thế Tôn giảng dạy cũng thế, đến khi chánh pháp được truyền bá rộng khắp trên thế gian cũng vẫn là thế.

Với cội nguồn này, với tinh thần và mục đích này của Chánh Pháp mà đạo Phật đã tới Việt Nam từ thế kỷ I TCN để rồi tồn tại và phát triển trong lòng dân tộc Việt và cho đất nước Việt. Trong thời kỳ du nhập, thời kỳ đô hộ của phương Bắc 1000 năm, đến thời phong kiến độc lập tự chủ trải qua các triều đại Ngô-Đinh-Tiền Lê-Lý-Trần-Hậu Lê… rồi bước vào thế kỷ XX thực dân phương Tây xâm lược, đến nay là thế kỷ XXI hòa bình thống nhất phát triển đất nước. Đạo Phật của Việt Nam vẫn còn đó một tinh thần nguyên bản và vai trò quan trọng không chỉ trên phương diện tu tập chánh pháp hướng đến giác ngộ giải thoát mà còn trên cả phương diện hiện thực đời sống xã hội, hay nói cách khác là đường đạo và đường đời.

Trong suốt chiều dài lịch sử ấy nhiều lúc thăng và đôi khi trầm, Phật giáo Việt Nam đều có những đóa hoa hải đường nở rộ trong biển pháp, hay cụ thể hơn là những bông lan nở rộ trong rừng thiền hay đóa sen ngát hương nơi đầm tuệ. Thời Ngô-Đinh-Tiền Lê có Ngô Chân Lưu Thiền sư, La Qúy Thiền sư, ngài Vân Phong … Thời Lý có Vạn Hạnh Thiền sư, Không Lộ Thiền sư, ngài Đỗ Pháp Thuận…Những vị như Thiền sư Hiện Quang, Đại Đăng quốc sư, Tuệ Trung Thượng Sĩ, Điều Ngự Trúc Lâm-Phật Hoàng Trần Nhân Tông, Pháp Loa Thiền sư, Huyền Quang Thiền Sư…trong thời nhà Trần. Thời Hậu Lê thì có Hương Hải Thiền Sư, Pháp Tính thiền sư… đến thời cận hiện đại là Bồ Tát Thích Quảng Đức, đức đệ Nhất Pháp chủ Thích Đức Nhuận, hoằng truyền tịnh độ là Hòa Thượng Thích Trí Tịnh, phát triển thiền thiền phái Trúc Lâm có Thiền Sư Thanh Từ… Tất thảy những đóa hoa này đều làm sáng rỡ không chỉ lời Phật ý Tổ mà còn rực lên tinh thần và ý chí của dân tộc Việt Nam gắn liền với thời đại.

Trong những triều đại ấy, thời Lý-Trần là đỉnh cao của Phật giáo Việt Nam cho đến ngày nay còn và đang phát triển. Trong đó vào thời Hậu Lê tuy có lúc trầm và thăng khác nhau, nhưng Phật giáo còn đó một tầm quan trọng đáng kể giữa thế gian. Nếu như thời Lý là thiền sư Vạn Hạnh, thời Trần là Trúc Lâm Điều Ngự thì nhà Hậu Lê chúng ta sẽ thấy chân dung một vị thiền sư dưới thời vua thứ hai mươi hai là Lê Dụ Tông khoảng năm 1700. Vị thiền sư ấy xuất hiện thật lỗi lạc và có công lớn trong sự nghiệp phục hưng Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử. Đó chính là Minh Châu Hương Hải Thiền sư hay còn gọi ngài là Huyền Cơ Thiện Giác, ngài luôn là tâm điểm của thời đại này và thu hút cái nhìn của bao thế hệ tăng và tục cho đến ngày nay.

Hương Hải Thiền sư sinh năm 1628 mất năm 1715 với cuộc đời và hành trạng hoằng pháp lợi sinh của mình theo khuôn Phật ý Tổ gắn liền với tinh thần dân tộc và hành trạng ‘nhập thế’ của Phật giáo Đại Việt từ trước đó và bấy giờ. Ngài đã mang trí tuệ Phật pháp, những ý tứ thiền học và sự thấy biết nơi tâm truyền đạt trong những tác phẩm kinh sách dịch thuật và cả những bài thơ ca, ngâm vịnh của mình. Trong số đó, tiêu biểu và đặc sắc, chứa đựng trí tuệ từ bi của Đạo Phật và sự thấy biết của Ngài đều được tỏ bày trong bài thơ “Nhạn Qúa Trường Không”, Ngài đã dùng để trả lời về ý Phật ý Tổ cho vua Lê Dụ Tông nghe rằng:

“Nhạn quá trường không
 Ảnh trầm hàn thủy
 Nhạn vô di tích chi ý
 Thủy vô lưu ảnh chi tâm”


Bốn câu thơ này Thiền sư đã sử dụng hình ảnh thực tế để so sánh và ẩn dụ với mục đích chỉ ra một cách dễ hiểu cho nhà vua chiêm nghiệm về ý Phật ý Tổ. Chắc hẳn khi nhà Vua hỏi Ngài về điều này thì địa điểm là gần mặt nước của hồ rộng và lúc ấy có những đôi cánh nhạn lướt ngang qua. Mượn hình ảnh chim nhạn bay qua mặt hồ thật bình thường, dung dị nhưng ở đó Thiền sư đã dụng ý để chỉ thẳng và truyền tải đủ cả bản chất lẫn hành trạng của Đạo Phật suốt mấy ngàn năm không tầm thường và đầy tuyệt diệu. Ở đó, Từ bi và Trí tuệ đều đủ cả. Thiền Sư Thanh Từ đã dịch bài thơ để làm rõ hơn cái hiểu và ý tứ về bài thơ này như sau:

“Nhạn bay trên không
Bóng chìm đáy nước
Nhạn không có ý để dấu
Nước không có tâm lưu bóng”


Như vậy, ý Phật ý Tổ ở đây là gì? Từ bi và Trí tuệ đủ cả ở đây hay sao?  Đúng vậy, chính là đây và đủ cả. Tại sao lại là đây và đủ cả? Bởi vì tất cả những điều ấy đều không nằm ngoài mục đích mà Thế Tôn ra đời và chánh pháp được giảng dạy, không nằm ngoài sự tiếp nối của chư Tổ đã qua. Những điều này nằm trong lời dạy của Thế Tôn ở kinh Tương Ưng bộ rằng:

"Này các Tỳ kheo, hãy du hành, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì an lạc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài người"

Như vậy những câu thơ của Hương Hải thiền sư chúng ta có thể hiểu và xét theo hai khía cạnh tự giác và giác tha hay cũng gọi là tự lợi và lợi tha trên đường đạo trong đời, đó là ‘du hành’ mà Thế Tôn đã nói. Bước đường này với đối tượng chính là những hành giả và nói chung là những ai đã kết duyên lành với Phật pháp. Hai khía cạnh này chính là nhân tố, là nền tảng để thành tựu giác hạnh viên mãn, đó chính là tính đầy đủ của đạo quả Giác Ngộ, điều này Chư Thế Tôn đều đã thành tựu và kiện toàn. Chư Thế Tôn sinh ra trong cõi đời đã làm sáng tỏ đạo để đạt được sự diệt khổ và hướng đến cho chúng sinh được giống mình. Như vậy là tự giác và giác tha chính là hiện thực giữa đời với đạo. Đó là cái nhân và cái duyên của tất cả mọi khía cạnh ấy. Thiền Sư Hương Hải đã hiểu được lời dạy kia của Thế Tôn “hãy du hành, vì hạnh phúc, vì an lạc” rồi đề thơ về điều ấy.

Với hiện thực trong cuộc đời là những khái niệm phân biệt cái này với cái kia để làm thành sự đối đãi. Vì thế mà chúng ta thấy được đạo và đời, mê và ngộ, đúng và sai,…do vậy chúng làm nên nhau và tương tục với nhau. Do vậy mà có tự giác với giác tha tất yếu cũng có tự mê và mê tha. Chính vì thế mà mê cũng từ đây hay ngộ cũng tư đây mà ra cả. Chẳng thế mà Lục Tổ Huệ Năng đã nhìn thấy được và nói rằng:

“Phật pháp tại thế gian
Bất ly thế gian giác
Ly thế mích bồ đề
Kháp như cầu thố giác.”


Đây chính là một, giữa Phật với Tổ và Hương Hải thiền sư, đây chính là tính chất đủ cả về từ bi lẫn trí tuệ vậy. Lời kinh hay thơ kệ tuy khác nhau nhưng cùng một ý và đều dẫn về một đích, như “nước chảy từ nguồn, trăm dòng về biển”. Trong bài thơ ấy của Thiền Sư, xét về khía cạnh tự giác thì mặt nước kia là chân tâm, Phật tính của mỗi chúng sinh nói chung và mỗi hành giả nói riêng. Còn cánh chim nhạn bay trên không mà sinh ra hình bóng là chỉ cho cõi đời này vậy. Nếu nói về khía cạnh giác tha thì mặt nước sẽ trở thành cõi đời và cánh chim nhạn chính là “hãy đi” của hành giả mà Thế Tôn đã chỉ dạy. Phật với Tổ và cả Thiền sư hay chúng sinh đều có Phật tính, như kinh Pháp Hoa nói rằng “nhất thiết chúng sinh giai hữu Phật tính”. Do đều có Phật tính nên Thế Tôn mới nói rằng “Ta là Phật đã thành và chúng sinh là Phật sẽ thành”, chính vì đều thành Phật được, nên tất cả đều đầy đủ cái tính của sự tự giác và giác tha. Bên cạnh đó, cái làm cho tự giác và giác tha được đầy đủ chính là chất từ bi và trí tuệ. Do vậy mà tất cả đều có từ bi và đủ cả trí tuệ.

Thứ nhất ta nói về khía cạnh tự giác, mặt nước hay nước nói chung với thể tánh là mát lành, thanh lọc, tinh khiết, lưu chuyển, cân bằng, thích nghi,… nó tựa như Phật tính vậy. Phật tính tỏa ra tâm từ bi làm nên sự yêu thương với tính chất mát lành, Phật tính là đã lọc hết mọi vô minh phiền não, Phật tính là sáng suốt tinh tường, Phật tính là uyển chuyển diệu dụng, Phật tính là cân bằng để xóa tan mọi nghi ngờ sinh diệt, Phật tính khi sáng rồi là tùy thuận chúng sinh và duyên khởi tự tại… Mỗi chúng ta đều có trong mình Phật tính như vậy để làm sáng lên cái tánh tự giác của mình.

Thế nhưng theo nghiệp báo duyên sinh mà thọ thân này mang theo những nghiệp nhân, sinh ra đời nên không thể thiếu đi-đứng-nằm-ngồi, ăn-mặc-ở. Tất cả những điều này đều xoay quanh năm dục đó là: tiền tài, danh vọng, sắc đẹp, ăn uống và ngủ nghỉ, bởi đó là thiết yếu của cuộc sống. Những thiết yếu này chính là cánh chim nhạn đang bay trên bầu trời kia. Chim bay ngang qua chắc chắn phải in bóng hình vào mặt nước, cũng vậy những thiết yếu này chắc chắn ập vào thân ta bắt phải gánh gồng. Nếu như nói là:

“Nhạn hữu di tích chi ý” và “Thủy tất lưu ảnh chi tâm” tựa như ‘dục qua lưu dấu tích, tâm hưởng thụ tìm cầu’

Thế thì đó chẳng phải là sự nắm bắt, giữ lại hay sao. Nhạn thì cố ý lưu bóng lại còn mặt nước cố tình bắt lấy bóng này chẳng cho đi. Nếu như đã nói là tự giác thì ngược lại như vậy chính là ‘tự mê’, tự mê ấy chính là sự nắm bắt và giữ lại này. Nắm bắt và giữ lại ngũ dục cho thân mình đó là tự mê. Vì sao lại nói là tự mê như vậy? Như ngài Trần Thái Tông có nói rằng:

“Mắt theo hình sắc mũi theo hương
Lưỡi vướng vị ngon tai vướng tiếng
Lênh đênh làm khách phong trần mãi
Ngày tháng quê xa vạn dặm đường”.


Hình sắc, hương thơm, vị nếm, âm thanh, xúc chạm và sự phân biệt đối với chúng nữa. Đây là lục trần, khi lục trần này tiếp xúc với lục căn là mắt, tai, mũi,lưỡi, thân và ý sẽ phát sinh ra lục thức là nhìn, nghe, ngửi, nếm, cảm giác và tri giác phân biệt. Lục trần ấy bản chất chính là ‘nhạn quá trường không’. Lục căn kia cũng chính là ‘ảnh trầm hàn thủy’. Còn lục thức khi mê chính là hình bóng của nhạn in trên mặt hồ, là ‘hữu di tích chi ý’.

Thế còn ‘thủy vô lưu ảnh chi tâm’, đây chính là tâm, là chân tâm, là Phật tính. Như trong duy thức học có hệ thống về bát thức gồm lục thức trên thêm cả Mạt-na thức và A-lại-da thức. A-lại-da thức chính là một cái kho, cái kho này chứa đựng mọi chủng tử khi lục căn tiếp xúc lục trần sinh ra lục thức thông qua cánh cửa kho là Mạt-na mà truyền vào hay mang ra để đối chiếu sử dụng. Chính vì thế mà cái kho A-lại-da này chứa nhóm mọi chủng tử thiện hay ác và cả vô ký do lục thức tiếp xúc lục trần mà tạo ra. Thức này còn được gọi với cái tên là Như Lai tạng thức, bởi vì khi các chủng tử nơi đây được thuần tịnh thì đó là Phật tính hiển bày rõ ràng, đó là Phật. Vậy muốn thuần tịnh được thì phải như thế nào, đó chính là câu thơ của thiền sư Hương Hải ‘thủy vô lưu ảnh chi tâm”. Ảnh ấy là lục căn tiếp xúc lục trần sinh ra lục thức, lục thức này khi qua cửa mạt-na đến A-lại-da trở nên thuần tịnh. Làm sao để trở nên thuần tịnh được thì đó chính là vấn đề của tự giác. Nói về bản chất thì nó vốn là thuần tịnh vì cảnh trần không cố tình trói các căn và cái tâm kia vốn là Phật tính-là chân tâm. Nói về hiện tượng thì chúng ta cần phải làm cho nó thuần tịnh. Bởi vì cảnh trần tiếp xúc với các căn của chúng ta nó bị trói với ba cái xiềng căn bản là tham, sân và si. Vì tham sân si nên tâm nắm giữ, ý tìm cầu, thức thỏa mãn, hoặc bị cảnh trần trói lại hoặc mặc tình chạy theo-là vọng tâm. Nói đến đây chúng ta cũng thấy được ý này của Thiền sư Hương Hải trong hai câu thơ rằng:

“Nhật dụng phi vô đạo – Tâm an tức thị thiền”


Nghĩa là, mọi việc hàng ngày nếu dụng công thì đó đều là đạo, ở trong mọi việc hàng ngày mà tâm được an tịnh thì đó là thiền, đó là được thuần tịnh.Ta tự giác trong đi, đứng, nằm, ngồi bằng giới, định và tuệ làm cho vắng bặt tham, sân, si. Như vậy không vướng mắc, không chấp trước, vô nhiễm không tội, vì thế mà thấy rõ bản chất của Pháp là biến đổi, vô thường-vô ngã, thấy rõ bản chất rồi thì được an nơi tâm mình. Tâm an cũng chính là cái thuần tịnh kia, không sai khác. Qua đây chúng ta nhìn ra được cái thấy của Ngài, để rồi làm nên cuộc đời mang tên Hương Hải, để chỉ cho vua Lê Dụ Tông và giáo hóa đồ chúng, làm việc Phật. Đó chính là sự tương quan giữa Phật và chúng sinh, sự tương quan giữa vọng tâm và chân tâm. Vậy là thấy rõ rằng do đối đãi mà làm nên sự phân biệt, do đối đãi phân biệt mà thành ra cánh nhạn, hình bóng và mặt hồ, thành ra Phật với chúng sinh, thành ra chân và vọng. Nếu vượt qua cái đối đãi, phân biệt này thì đạt được thuần tịnh. Bằng cách nào để đạt được điều ấy? Chính là “không ý lưu dấu – tâm chẳng giữ hình”.

Chim nhạn có đó, mặt nước có đây, nhạn bay ngang qua tất yếu bị ánh sáng rọi vào và nước phản chiếu sẽ thấy bóng nhạn lượn bay. Đây là chính là thế gian, còn Phật pháp thì lại không ngoài thế gian mà giác ngộ. Thế gian này chính là căn, trần và thức, từ đó mà mê lầm khổ đau. Do vậy mà Phật pháp cũng là nơi căn, trần và thức, từ đó mà giác ngộ. Tự giác không phải điều gì viễn vông, không phải trừu tượng, không phải là tìm cho kỳ được điều gì đó mầu nhiệm. Tự giác qua cái thấy của thiền sư Hương Hải chính là là ‘vô di tích – vô lưu ảnh’. Cái thấy này cũng là cái thấy mà Thế Tôn nói trong kinh Kim Cương rằng “ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm”. Vô trụ, là không chấp trước, không phân biệt. Đó là nhạn không cố ý để lại dấu vết, mặt nước cũng không có lòng lưu giữ bóng hình của nhạn. Nhạn đi qua mặt nước tất nhiên bóng cũng đi theo, nhạn cứ vởn vơ phía trên bầu trời thì bóng nhạn vẫn rọi chiếu suống mặt nước như thường. Tự giác chính là chỗ này, lục trần là thứ tất yếu của đời và nó là điều kiện hiện tồn đối với chúng ta. Đối với lục trần, ta khởi tâm mống nghĩ phân biệt đây và kia, thích và ghét, tìm và bỏ,… đó chính là mê, là tự mê. Còn như tự giác, thì lục trần đối với chúng ta qua lục thức nó đơn giản chỉ là điều kiện để nuôi dưỡng thân này, có thân này rồi để trừ diệt tham-sân-si và thực hành chánh pháp, không phân biệt đây kia hay thích ghét gì cả. Nó tương ưng với cái gọi là ‘cư trần lạc đạo’ mà Trúc Lâm Điều Ngự đã phú rằng:

“Ở đời vui đạo hãy tùy duyên
 Đói đến thì ăn mệt ngủ liền
Trong nhà có ngọc thôi tìm kiếm
 Đối cảnh vô tâm chớ hỏi thiền”


Chẳng khác gì trong kinh Kim Cương, Thế Tôn có dạy rằng: “Khi thấy, nghe, hay, biết, mà khởi vọng niệm phân biệt, đó là gốc vô minh. Còn khi thấy, nghe, hay, biết mà không khởi vọng niệm phân biệt, đó là Niết bàn”.

Bằng cách nào đó, ý tứ thơ của Thiền Sư chính là nằm trong lời dạy này của đức Phật. Nó đều là xét trên phương diện tự giác cả. Nếu dứt hết vọng niệm phân biệt thì đó là tự giác, còn như ôm chặt vọng niệm phân biệt ấy thì là tự mê. Cả hai trên mặt hình thức là vậy, nhưng bản chất thì không phân chia ra mê và ngộ, bởi vì tự tánh căn bản đã là Phật tính rồi. Nhưng là do cái sự tiếp xúc giữa lục căn với lục trần sinh ra lục thức, với cái ý phân biệt rằng nhân-ngã, chúng sinh, thọ giả; với ý niệm phân chia ra cảm thọ lạc, khổ và xả. Thế nên Tổ Huệ Năng mới thốt lên rằng:

“Đâu ngờ tự tánh vốn tự thanh tịnh,
Đâu ngờ tự tánh vốn chẳng sanh diệt,
Đâu ngờ tự tánh vốn tự đầy đủ,
Đâu ngờ tự tánh vốn chẳng lay động,
Đâu ngờ tự tánh hay sanh vạn pháp!”


Do vậy mà, chim nhạn ngang qua mặt nước là ắt phải có hình bóng hiện ra, hiện ra thôi, nhạn qua thì bóng mất, nước không nhớ về hình bóng của nhạn, nhạn cứ mang bóng bên hình tiếp tục ngang dọc trong trần thế. Ngũ dục, lục trần là như vậy, khi đến với ta như nhạn qua mặt nước, ta chỉ đơn giản là để chúng đến,